TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG TP. ĐÀ NẴNG Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST Ngày: 16-4-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Đức Thọ
Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Bút
Bà Lê Thị Hoàng Thương
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Loan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, tp Đà Nẵng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, tp Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 149/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thùy L, sinh năm: 1989; nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; chỗ ở hiện nay: Tổ G, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng.
- Bị đơn: Ông Hà Thúc H, sinh năm: 1984; địa chỉ: Tổ D, thôn P, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng.
(Nguyên đơn có đề nghị giải quyết vắng mặt; bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Ngày 10/01/2024, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Thùy L1 có đề nghị xét xử vắng mặt. Tuy nhiên, theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn bà L1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thùy L và anh Hà Thúc H kết hôn năm 2010 có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng bà sống tại thôn P, xã H, huyện H, Tp Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống giữa giữa hai vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn, cãi vã, xô xát gây tổn thương đến tinh thần con cái. Bà L và ông H không còn sống chung với nhau từ khoảng tháng 6 năm 2023 đến nay. Vì vậy, bà L xác nhận không còn tình cảm với ông Hà Thúc H nên đề nghị Toà án giải quyết cho bà L được ly hôn với ông H.
Về con chung: Bà L xác nhận có 03 con chung tên Hà Trần Minh T, sinh ngày 27/9/2010, Hà Trần Minh U, sinh ngày 30/01/2013, Hà Trần Minh H1, sinh ngày 19/01/2023. Ly hôn, bà L yêu cầu được nuôi 02 con chung Hà Trần Minh U và Hà Trần Minh H1, giao con chung Hà Trần Minh T cho ông H chăm sóc nuôi dưỡng. Bà L yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng/02 con. Bà L không phải cấp dưỡng nuôi cháu T.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
* Ngày 29/3/2024, bị đơn ông Hà Thúc H có đơn xin xét xử vắng mặt. Tuy nhiên, tại bản tự khai ngày 29/3/2024, bị đơn ông Hà Thúc H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông H và bà Trần Thị Thùy L kết hôn năm 2010 có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng ông sống tại Thôn P, xã H, huyện H, Tp Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống giữa vợ chồng ông xảy ra nhiều mâu thuẫn, không hoà hợp về quan điểm cá nhân, không có tiếng nói chung. Vì vậy, bà L yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, ông H đồng ý.
Về con chung: Có 03 con chung tên Hà Trần Minh T, sinh ngày 27/9/2010, Hà Trần Minh U, sinh ngày 30/01/2013, Hà Trần Minh H1, sinh ngày 19/01/2023. Ly hôn, ông H đồng ý giao 02 con chung Hà Trần Minh U và Hà Trần Minh H1 cho bà L chăm sóc nuôi dưỡng. Ông H đồng ý cấp dưỡng nuôi 02 con chung Hà Trần Minh U và Hà Trần Minh H1 mỗi tháng 2.000.000 đồng/02 con.
Ông H yêu cầu được chăm sóc nuôi dưỡng con chung Hà Trần Minh T, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
- Về thủ tục tố tụng:
Xét thấy trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Thành viên Hội đồng xét xử thể hiện sự vô tư, khách quan, độc lập khi xét xử.
Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71, 73 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó, vụ án đưa ra xét xử đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Áp dụng các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Thùy L đối với ông Hà Thúc Huỳnh .
Về con chung: Giao cháu con chung Hà Trần Minh T, sinh ngày 27/9/2010 cho ông hà Thúc H chăm sóc, nuôi dưỡng.
Giao 02 con chung là Hà Trần Minh U, sinh ngày 30/01/2013, Hà Trần Minh H1, sinh ngày 19/01/2023 cho bà Trần Thị Thùy L chăm sóc nuôi dưỡng. Ông Hà Thúc H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng/02 con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên đề nghị không xem xét.
Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1]. Tranh chấp ly hôn giữa bà Trần Thị Thùy L và ông Hà Thúc H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Nguyên đơn bà Trần Thị Thùy L có đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Hà Thúc H có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà L và ông H.
Về nội dung:
[1]. Về quan hệ hôn nhân:
Bà Trần Thị Thùy L và anh Hà Thúc H kết hôn năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện nên quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông H là hợp pháp. Sau khi kết hôn, bà L và ông Huỳnh S tại xã H, huyện H, Tp Đà Nẵng, trong quá trình chung sống giữa bà L và ông Huỳnh X ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, hai bên không còn hòa thuận, quan tâm chăm sóc nhau và đã sống ly thân từ lâu. Qua đó cho thấy mâu thuẫn giữa bà L và ông H là trầm trọng, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của bà L và ông H là có căn cứ phù hợp với quy định tại các điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2]. Về con chung:
Bà L và ông H xác nhận có 03 con chung tên Hà Trần Minh T, sinh ngày 27/9/2010, Hà Trần Minh U, sinh ngày 30/01/2013, Hà Trần Minh H1, sinh ngày 19/01/2023. Ly hôn, bà L yêu cầu nuôi 02 con chung là Hà Trần Minh U và Hà Trần Minh H1; giao con chung Hà Trần Minh T cho ông H chăm sóc, nuôi dưỡng đồng thời bà L yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi 02 con chung là cháu U và H1 mỗi tháng 2.000.000 đồng/02 con. Ông Hà Thúc H đồng ý với các yêu cầu trên của bà L, con chung là cháu T có nguyện vọng muốn sống với ông H, con chung cháu U có nguyện vọng được sống với bà L.
Do đó, giao 02 con chung Hà Trần Minh U, sinh ngày 30/01/2013, Hà Trần Minh H1, sinh ngày 19/01/2023 cho bà L và giao con chung tên Hà Trần Minh T, sinh ngày 27/9/2010 cho ông H chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ông Hà Thúc H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung Hà Trần Minh U, sinh ngày 30/01/2013, Hà Trần Minh H1, sinh ngày 19/01/2023 mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi; thời gian cấp dưỡng nuôi con bắt đầu tính từ tháng 5.2024.
[3] Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
[4] Xét quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng: Nguyên đơn, bị đơn phải chịu theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Thùy L đối với ông Hà Thúc Huỳnh
- Về con chung: Giao 02 con chung Hà Trần Minh U, sinh ngày 30/01/2013, Hà Trần Minh H1, sinh ngày 19/01/2023 cho bà Trần Thị Thùy L trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Hà Thúc H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung 2.000.000đ/tháng (hai triệu đồng/tháng) cho đến khi 02 con chung đủ 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng nuôi con bắt đầu tính từ tháng 5/2024.
Giao con chung Hà Trần Minh T, sinh ngày 27/9/2010 cho ông Hà Thúc H trực tiếp nuôi dưỡng; bà L không phải cấp dưỡng nuôi cháu T.
Các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích của con, các bên có quyền làm đơn xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con chung.
Kể từ ngày bà Trần Thị Thùy L có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Hà Thúc H không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con thì ông H phải trả khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
- Về án phí:
- - Bà Trần Thị Thùy L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án đã nộp theo biên lai thu số 0000801 ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Bà Trần Thị Thùy L đã nộp đủ án phí.
- - Ông Hà Thúc H phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
- Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đức Thọ |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 12/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG - TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ban an so 12
