Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ VANG

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HS-ST

Ngày: 20-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thúc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Hóa.

Ông Lê Hồng Tâm.

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Linh Hương Giang, Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Hải, Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2024/HSST ngày 04 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS ngày 07/5/2024 đối với bị cáo:

N, sinh ngày 02/7/1963 tại Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Thôn X, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Nuôi thủy sản; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Cửu T (đã chết) và bà Hồ Thị Q (đã chết); có vợ: Lê Thị C; có 02 con, lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 1999.

Tiền án: Không có; tiền sự: 01 tiền sự: Ngày 05/12/2022, có hành vi “Đánh bạc trái phép” bị Công an xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 781/QĐ-XPHC ngày 14/12/2022; nộp tiền phạt ngày 03/3/2023.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Phạm K, sinh năm 1965; Trú tại: Thôn X, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

- Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1960; Trú tại: Thôn L, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1964; Trú tại: Thôn X, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

- Bà Lê Thị H1, sinh năm:1964 Trú tại: Xóm A, Thôn X, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

- Bà Lê Thị G, sinh năm 1964; Trú tại: Thôn D, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 24 tháng 10 năm 2023, ông Nguyễn L cùng với ông Phạm K, bà Nguyễn Thị Kim H và bà Nguyễn Thị T1 ngồi ăn nhậu với nhau tại nhà bà Lê Thị G ở thôn X, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, trong lúc ăn nhậu thì cùng rủ nhau tham gia đánh bạc bằng hình thức xì tố được thua bằng tiền, ông Nguyễn L nhờ bà Lê Thị G đi mua về 01(một) bộ bài tú lơ khơ để dùng đánh bạc. Khoảng 15 giờ cùng ngày, ông L, ông K, bà H và bà T1 nghỉ ăn nhậu rồi cùng nhau lấy bộ bài tú lơ khơ mà bà G đi mua về chọn ra 28 lá bài, từ lá bài 8 đến lá bài A để đánh bài xì tố được thua bằng tiền. Bốn người tham gia bốn cửa bài, mỗi người lấy ra số tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng bỏ ở chiếu bạc để đặt cược, nếu thua hết thì lấy tiền mang theo trong người bỏ ra thêm để đánh bạc. Trong lúc bốn người trên đang đánh bạc thì bà Lê Thị H1 đến tham gia thêm một cửa bài và cùng nhau đánh bạc, bà Lê Thị G ngồi xem đánh bạc. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, tổ công tác Công an xã P, huyện P phát hiện những người trên đang đánh bạc thì lập biên bản làm việc, thu giữ giữa chiều bạc số tiền 3.670.000 đồng, thu giữ 40.000 đồng tiền bỏ xâu và 01 (một) bộ bài tú lơ khơ có 32 lá bài; kiểm tra thu giữ trong người của những người tham gia đánh bạc số tiền 3.720.000 đồng.

Quá trình điều tra đã xác định hành vi đánh bạc, số tiền và cách thức đánh bài xì tố được thua bằng tiền của ông Nguyễn L cùng với ông Phạm K, bà Nguyễn Thị Kim H, bà Nguyễn Thị T1 và bà Lê Thị H1 như sau:

Ông Nguyễn L mang theo số tiền 880.000 đồng và dùng số tiền đó để đánh bạc, đã đánh bạc thua số tiền 60.000 đồng, số tiền còn lại để tại chiếu bạc là 820.000 đồng.

Ông Phạm K mang theo số tiền 4.430.000 đồng, dùng để đánh bạc số tiền 1.730.000 đồng, không dùng để đánh bạc và cất giữ trong người số tiền 2.700.000 đồng, đã đánh bạc thua số tiền 300.000 đồng, đã bỏ xâu số tiền 20.000 đồng, số tiền còn lại để tại chiếu bạc là 1.410.000 đồng.

Bà Nguyễn Thị Kim H mang theo số tiền 800.000 đồng và dùng số tiền đó để đánh bạc, đã đánh bạc thắng số tiền 50.000 đồng, đã bỏ xâu số tiền 10.000 đồng, số tiền còn lại để tại chiếu bạc là 240.000 đồng và số tiền cất giữ trong người là 600.000 đồng.

Bà Nguyễn Thị T1 mang theo số tiền 700.000 đồng và dùng số tiền đó để đánh bạc, đã đánh bạc thắng số tiền 260.000 đồng, đã bỏ xâu số tiền 10.000 đồng, số tiền còn lại để tịa chiếu bạc 950.000 đồng.

Bà Lê Thị H1 mang theo số tiền 620.000 đồng và dùng số tiền đó để đánh bạc, đã đánh bạc thắng số tiền 50.000 đồng, số tiền còn lại để tại chiếu bạc là 250.000 đồng và số tiền cất giữ trong người là 420.000 đồng.

Số tiền đã bỏ xâu để cho bà Lê Thị G hưởng lợi là 40.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền mà ông Nguyễn L, ông Phạm K, bà Nguyễn Thị Kim H, bà Nguyễn Thị T1 và bà Lê Thị H1 sử dụng vào mục đích đánh bạc được xác định là 4.730.000 đồng.

Cách thức mà ông Nguyễn L, ông Phạm K, bà Nguyễn Thị Kim H, bà Nguyễn Thị T1 và bà Lê Thị H1 quy ước đánh bạc bằng hình thức đánh bài xì tố được thua bằng tiền là: Khi có bốn người chơi thì chia 4 cửa bài, đến khi có năm người chơi thì chia 5 cửa bài, mỗi cửa bài được chia tối đa 5 lá bài, đầu tiên chơi được chia 02 lá bài, một lá bài úp, một lá bài ngửa, ai có lá bài ngửa lớn nhất thì được đưa số tiền đặt cược trước (gọi là đi mậu), những người chơi còn lại có quyền theo hoặc bỏ bài, nếu theo thì đặt cược theo số tiền của người đã cược hoặc có quyền đưa ra số tiền đặt cược lớn hơn (gọi là tố), sau đó chia các lá bài tiếp theo và tiếp tục đưa ra số tiền đặt cược, đến khi người chơi có đủ 05 lá bài thì có thể đặt cược hết số tiền mà mình có (gọi là tất tố), sau đó mở lá bài úp để so bài, người nào có bài lớn nhất thì thắng tổng số tiền đã đặt cược. Bài được tính từ lớn đến bé theo thứ tự: tứ quý (4 lá bài đồng hạng và 1 lá bài lẻ), đồng chất (bài có cùng loại), sảnh (từ lá bài 10 đến lá bài A), cù lũ (3 lá bài đồng hạng và 2 lá bài đồng hạng), sám cô (3 lá bài đồng hạng và 2 lá bài lẻ), thú (4 lá bài tạo thành 2 đôi đồng hạng và 1 lá bài lẻ), một đôi (2 lá bài đồng hạng và 3 lá bài lẻ), mậu thầu (cả 5 lá bài riêng lẻ không liên quan đến nhau). Tỷ lệ thắng thua có thể là từ 1:1 (một : một) đến 1:4 (một : bốn) tùy vào số cửa bài tham gia đặt cược.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Thu giữ giữa chiếu bạc số tiền 3.670.000 đồng, thu giữ 40.000 đồng tiền bỏ xâu và 01 bộ bài tú lơ khơ có 32 lá bài; thu giữ trong người của những người tham gia đánh bạc số tiền 3.720.000 đồng. Tổng cộng số tiền là 7.430.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 08/CT-VKSPV ngày 22/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Nguyễn L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện viện kiểm sát huyện P giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn L phạm tội “Đánh bạc” và đề nghị xử phạt bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ có 32 lá bài; tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 4.730.000 đồng; trả lại cho ông Phạm K số tiền 2.700.000 đồng mang theo trong người nhưng không sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp khách quan với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và những người tham gia tố tụng khác; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận:

Trong khoản thời gian từ 15 giờ 00 phút đến 16 giờ 30 phút ngày 24/10/2023, tại nhà bà Lê Thị G ở thôn X, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, Nguyễn L cùng với ông Phạm K, bà Nguyễn Thị Kim H, bà Nguyễn Thị T1 và bà Lê Thị H1 có hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức đánh bài xì tố được thua bằng tiền, số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc được xác định là 4.730.000 đồng. Mặc dù Nguyễn L có hành vi đánh bạc bằng tiền với số tiền dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, chưa được xóa việc xử phạt hình chính mà còn vi phạm nên đã phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát huyện P truy tố hành vi phạm tội của bị cáo như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, nhưng do hám lợi, muốn thu lợi bất chính nên dẫn đến phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây nguy hiểm cho xã hội, làm gia tăng các hành vi vi phạm pháp luật khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội nên cần xử lý nghiêm khắc.

Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo lần đầu phạm tội, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; động cơ phạm tội của bị cáo là vì tiền, mong muốn lấy được nhiều tiền thông qua việc đánh bạc cho nên cần lấy hình thức xử phạt tiền làm hình phạt chính để xử phạt là cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo.

[4] Từ những phân tích, đánh giá trên, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Vang đề nghị xử phạt bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bộ bài tú lơ khơ có 32 lá bài không có giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy. Đối với số tiền 4.730.000 đồng dùng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước. Đối với số tiền 2.700.000 đồng của ông Phạm K mang theo trong người nhưng không sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cần trả lại cho ông Phạm K.

[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn L phạm tội “Đánh bạc”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn L 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).

  2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
    • - Tịch thu, tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ có 32 lá bài; có đặc điểm theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 12/3/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang.
    • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 4.730.000 đồng;
    • - Trả lại cho ông Phạm K số tiền số tiền 2.700.000 đồng;

    Tất cả số tiền nêu trên có đặc điểm theo Ủy nhiệm chi ngày 12/3/2024 chuyển khoản số tiền 7.430.000 đồng từ Công an huyện P vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Vang tại Kho bạc nhà nước huyện P.

  3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Nguyễn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Thừa Thiên Huế;

- VKSND huyện Phú Vang;

- Công an huyện Phú Vang;

- Phòng PV06 Công an tỉnh T T- Huế;

- Chi cục THADS huyện Phú Vang;

- Sở Tư pháp;

- Bị cáo;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thúc Mỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 12/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội đánh bạc
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger