Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HNGĐ-PT.

Ngày: 19 – 4- 2024

V/v Ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Phương.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Quế

Bà Nguyễn Thị Thuỷ

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Bà Đỗ Thị Thu Thuỷ - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024 Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2024/TLPT-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2024 về việc Ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con chung.

Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 41/2023/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 08/2024/QĐXX-PT ngày 07 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị L, sinh năm 1995

Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.

2. Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1994

Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.

3. Người kháng cáo: Trần Văn T là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung bản án sơ thẩm nguyên đơn là chị Lê Thị L trình bày:

Chị L và anh Trần Văn T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, thị xã P (nay là phường T, thành phố P), tỉnh Thái Nguyên cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 52 ngày 03 tháng 10 năm 2016. Trong quá trình chung sống vợ chồng bắt đầu nảy sinh nhiều cãi vã, cuộc sống chung dần dần không còn hạnh phúc do bất đồng về lối sống, quan điểm và cách ứng xử trong gia đình, vợ chồng không có sự hòa hợp và không tôn trọng nhau. Anh T ham mê cờ bạc, cá độ nên lâm vào tình trạng nợ nần. Chị L nhiều lần phải trả nợ cho anh T. Đến đầu năm 2023, do anh T vẫn không từ bỏ được ham mê cờ bạc, vợ chồng xảy ra cãi vã nên chị L đã ly thân với anh T cho đến nay. Chị L đã cung cấp cho Toà án giấy trình bày sự việc đề ngày 06/3/2023, trong đó đã thể hiện trong suốt 6 năm vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, anh T nợ nần nhiều vì lý do cờ bạc nhưng không từ bỏ, nay anh T xin lỗi bố vợ là ông Lê Văn K, anh T hứa sẽ không tái phạm nữa nếu không thực hiện chị L sẽ ly hôn với anh T, nội dung này đã được anh T ký xác nhận. Mặc dù, vợ chồng đã tìm cách hàn gắn tình cảm, nhưng không có hiệu quả. Chị L nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Toà án giải quyết được ly hôn với anh Trần Văn T.

Về con chung: Chị L và anh T có 01 con chung là cháu Trần Đăng Khôi, sinh ngày 16/5/2017. Chị L hiện nay đang làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn S với mức lương trung bình khoảng 7 - 8 triệu đồng/tháng, đủ khả năng để nuôi con chung. Hiện nay, chị L đã chuyển đến cư trú tại: tổ dân phố A, phường Đ, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên nhằm ổn định cuộc sống, trong thời gian tới, mẹ đẻ chị L sẽ lên ở cùng để cùng chị chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K1. Do anh T nợ nần nhiều, không đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng con cái nên sau khi ly hôn chị L yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K1.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L yêu cầu anh T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung, mức cấp dưỡng yêu cầu là 2.000.000 đồng/tháng. Tại phiên toà, chị L rút yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lưu không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Trần Văn T trình bày: Nội dung trình bày của chị L về quá trình tìm hiểu và đăng ký kết hôn là đúng sự thật. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hoà hợp về lời ăn, tiếng nói trong sinh hoạt gia đình. Anh T trình bày, do nghi ngờ chị L có quan hệ tình cảm ngoài luồng với người khác nên vợ chồng mới xảy ra cãi vã. Sau khi sự việc xảy ra, chị L đã cố tình bỏ nhà đi đến thời điểm hiện tại. Anh T nhận thấy hôn nhân không thể tiếp diễn nên đồng ý ly hôn với chị L.

Về con chung: Anh T trình bày, vợ chồng có 01 con chung là cháu Trần Đăng K2, hiện con chung đang ở cùng anh và bố mẹ đẻ tại phường T. Anh T đề nghị Toà án xem xét cho anh được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Anh T xác định bản thân đủ điều kiện để chăm lo cho cháu K2, hiện tại anh đang làm việc tại Công ty TNHH S1 khoảng 10.000.000 đồng/tháng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh T không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Với nội dung trên, tại bản án số 41/2023/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Lê Thị L:

  • - Về hôn nhân: Chị Lê Thị L được ly hôn với anh Trần Văn T.
  • - Về con chung: Giao con chung là cháu Trần Đăng K2, sinh năm 2017 cho chị Lê Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Không ai được quyền cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
  • - Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lưu k yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự đều không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ngày 29/12/2023 bị đơn anh Trần Văn T có đơn kháng cáo đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xem xét giải quyết để anh được nuôi con chung.

Tại phiên tòa phúc thẩm, anh Trần Văn T giữ nguyên nội dung kháng cáo. Chị Lưu k nhất trí kháng cáo của anh T.

Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát phát biểu sự tuân theo pháp luật của thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn anh Trần Văn T. Giữ nguyên phần quyết định về con chung tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 41/2023/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 2 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Thái Nguyên. Anh T phải chịu án phí phúc thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

[1.] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của anh Trần Văn T làm trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2.] Về nội dung: Xét kháng cáo của anh T, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Chị L và anh T có 01 con chung là cháu Trần Đăng K2, sinh 16/5/2017. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án thể hiện, cả chị L và anh T đều có đủ điều kiện để trực tiếp, chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, cháu K2 tuổi còn nhỏ, cần phải có sự chăm sóc của người mẹ nhiều hơn. Toà án cấp sơ thẩm đã giao con chung cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ.

Tại phiên toà phúc thẩm anh anh T không có căn cứ nào chứng minh chị Lưu k đủ điều kiện để chăm sóc nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, yêu cầu kháng cáo của anh T đề nghị được nuôi con chung, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa là có căn cứ.

Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của anh T không được chấp nhận nên anh T phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

  1. Không chấp nhận đơn kháng cáo của anh Trần Văn T.
  2. Giữ nguyên phần quyết định về con chung của bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 41/2023/HNGĐ -ST ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

Giao con chung là cháu Trần Đăng K2, sinh ngày 16/5/2017 cho chị Lê Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Không ai được quyền cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lưu không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

  1. Về án phí dân sự phúc thẩm: Anh Trần Văn T phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm theo biên lai thu số 0001455 ngày 29/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

Các quyết định khác của bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 41/2023/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Thái Nguyên có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - TAND TP P;
  • - THADS TP P;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng Phương

(đã ký)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HNGĐ-PT ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con

  • Số bản án: 12/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị L và Trần Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger