Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ BÌNH

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12 /2024/HNGĐ - ST

Ngày: 19/4/2024

V/v: ly hôn

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Mây

Các hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Lệ; ông Dương Viết Vĩnh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện VKSND huyện Phú Bình: Bà Nguyễn Quỳnh A - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 291/2023/TLST-HNGĐ ngày 06/12/2023 về việc: Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QDDXX – ST ngày 13/3/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Miêu Thị Hồng N, sinh năm 1996 – Có mặt

Địa chỉ: Tổ C, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Bị đơn: Anh Phạm Bá H, sinh năm 1994 – vắng mặt

Nơi ĐKHKTT: Xóm N, xã H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

Hiện đang chấp hành án tại Trại giam P– Cục C – Bộ C1.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn và lời khai tại Tòa án chị Miêu Thị Hồng N trình bày:

Chị với anh Phạm Bá H tự nguyện kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 08/7/2016. Hai bên gia đình có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, lừa dối gì.

Sau kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do anh H chơi bời, không quan tâm đến vợ con, chị đã nhều lần khuyên can, động viên nhưng anh H không thay đổi. Đến năm 2019 anh H bị bắt về tội cướp tài sản và hiện nay đang chấp hành án tại trại giam P, tỉnh Thái Nguyên.

Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được vì vợ chồng sống ly thân nhau đã lâu nên chị vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn với anh Phạm Bá H để ổn định cuộc sống.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Phạm Bá K, sinh ngày 23/01/2017. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng nuôi cháu K và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về nợ chung, các khoản cho vay: Không có.

Anh Phạm Bá H tại bản tự khai trình bày: Anh và chị Miêu Thị Hồng N có tìm hiểu, tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên vào ngày 08/7/2016. Cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do anh không chăm lo gia đình, không tu chí làm ăn. Năm 2019 anh vi phạm pháp luật và phải đi chấp hành án tại Trại giam P, tỉnh Thái Nguyên. Vì thời gian vợ chồng xa cách nhau lâu, nên chị N không chờ đợi được. Nay chị N làm đơn xin ly hôn anh nhất trí.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung là Phạm Bá K, sinh ngày 23/01/2017, khi ly hôn anh H có nguyện vọng để mẹ anh được nuôi cháu K, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Phạm Bá H hiện đang chấp hành án tại Trại giam P, tỉnh Thái Nguyên nên không thể đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được. Anh H đề nghị được xét xử vắng mặt, nên vụ án phải đưa ra xét xử công khai ngày hôm nay

Tại phiên tòa, chị N yêu cầu xin ly hôn anh H và được nuôi con, về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu Tòa án giải quyết; tài sản chung không có; nợ chung và khoản cho vay không có.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và hội đồng xét xử: Trong thời hạn chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại Điều 203 BLTTDS; Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn không chấp hành không đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án:

- Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Miêu Thị Hồng N, cho chị N được ly hôn anh Phạm Bá H.

Về con chung: Giao cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung là cháu Phạm Bá K, sinh ngày 23/01/2017 cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét giải quyết

Về quyền thăm nom con: Anh H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị N, anh H có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

-Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: Hai bên đương sự đều xác định quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung nên HĐXX không xem xét giải quyết.

-Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị N phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra, công bố công khai tại phiên tòa, nghe ý kiến trình bày của các đương sự, của kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án ly hôn mà bị đơn cư trú tại xã H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự tranh chấp này thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.

Về sự có mặt của đương sự: Đối với anh Phạm Bá H đang chấp hành án tại trại giam P và có đề nghị xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh Phạm Bá H.

[2].Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Miêu Thị Hồng N và anh Phạm Bá H kết hôn năm 2016 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật trên cơ sở tự nguyện. Do đó xác định quan hệ hôn nhân giữa các đương sự là hợp pháp. Quá trình chung sống anh chị hòa thuận hạnh phúc một thời gian ngắn, sau đó anh H phạm tội và phải chấp hành án phạt tù do liên quan đến cướp tài sản. Khi còn sống chung, anh H không chăm lo đến gia đình, vợ con, dẫn đến việc chị N đã về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống và nuôi con từ năm 2018. Từ thời điểm ly thân hai bên không còn liên hệ gì với nhau, anh H vi phạm pháp luật phải đi chấp hành hình phạt tù thời gian dài. Hội đồng xét xử xét thấy giữa chị N và anh H tình trạng mâu thuẫn đã kéo dài, nguyên nhân việc mâu thuẫn chủ yếu là do anh H, vợ chồng đã sống ly thân gần sáu năm, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận đơn xin ly hôn của chị N, cho chị N được ly hôn anh Phạm Bá H là phù hợp thực tế và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Bá K, sinh ngày 23/01/2017. Quá trình giải quyết phía chị N có nguyện vọng được nuôi con, anh H đề nghị Tòa án phần con chung sẽ giải quyết theo quy định của pháp luật. HĐXX thấy, từ khi ly thân chị N là người trực tiếp nuôi con, hiện chị có thu nhập và chỗ ở ổn định, cháu K có đơn trình bày nguyện vọng ở với mẹ; Anh H hiện đang chấp hành án tại trại giam P nên trước mắt chưa thể có điều kiện trực tiếp nuôi dưỡng con chung nên chấp nhận yêu cầu của chị N, giao cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng cháu K là phù hợp với thực tế và Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết. Anh H có quyền đi lại thăm nom con chung.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: Hai bên đương sự đều xác định quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[2.4]Về án phí: Chị N phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm; Hai bên đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 28, Điều 143, Điều 147, Điều 227, Điều 228 BLTTDS; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, uy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Miêu Thị Hồng N, cho chị N được ly hôn anh Phạm Bá H.

2. Về con chung: Giao cho chị Miêu Thị Hồng N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu Phạm Bá K, sinh ngày 23/01/2017 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác. Anh Phạm Bá H có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không được ai ngăn cản. Vì lợi ích của con, khi cần thiết chị N, anh H có thể yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung và các khoản cho vay: Không có nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

4. Về án phí. Chị Miêu Thị Hồng N phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm vào ngân sách nhà nước, chuyển từ tiền tạm ứng án phí đã nộp sang - Biên lai số 0003635, ngày 05/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Bình.

Báo cho đương sự biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với người có mặt; kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết đối với người vắng mặt./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên
  • - VKSND huyện Phú Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Bình;
  • - UBND xã Hà Châu;
  • - Lưu hồ sơ + VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

NGUYỄN HỒNG MÂY

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12 /2024/HNGĐ - ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về ly hôn

  • Số bản án: 12 /2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Miêu Thị Hồng Ngân, cho chị Ngân được ly hôn anh Phạm Bá Hùng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger