Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 12/2025/HS-ST

Ngày: 19/02/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: ông Bùi Đức Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: bà Đỗ Thị Hân
ông Nguyễn Văn Quýnh
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngọc Anh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Trung Kiên, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Hà Văn N; (tên gọi khác: không); sinh ngày 08/02/1998, tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nơi đăng ký thường trú: thôn C, xã V, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; chỗ ở hiện tại: thôn N, xã V, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn S và bà Bùi Thị C; vợ: Nguyễn Thị L; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 25/11/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M - có mặt.

- Bị hại:

  1. Anh Hà Văn Đ, sinh năm 2002 (đã chết).
    Nơi cư trú: thôn N, xã V, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh.
    - Người đại diện theo pháp luật: ông Hà Văn S1 (bố đẻ), sinh năm 1979 và bà Hoàng Thị T (mẹ đẻ), sinh năm 1979; nơi cư trú: thôn N, xã V, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Ủy quyền cho anh Hà Văn Q, sinh năm 2004; nơi cứ trú: thôn N, xã V, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh. Theo giấy ủy quyền ngày 18/11/2024 - vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Anh Hà Văn T1, sinh năm: 2001; nơi cư trú: thôn N, xã V, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh - vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm: 1970; nơi cư trú: thôn E, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh - vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2

  1. Bà Bùi Thị C, sinh năm: 1979; nơi cư trú: thôn N, xã V, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh - vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 25/9/2024, Hà Văn N (không có giấy phép lái xe theo quy định) cùng với các anh Hà Văn T1 và Hà Văn Đ, sinh năm 2002, trú tại: thôn N, xã V, thành phố M (đều là anh em họ) uống bia tại quán ở thôn C, xã V, thành phố M. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, biển số 14K1-312.39 đi một mình còn anh T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh-đen, biển số 14K1-368.34 chở anh Đ đi trên đường T - M, hướng từ xã V đến phường T, thành phố M. Khi đến khu vực ngã tư giao nhau giữa đường T - M với đường liên thôn đoạn thuộc thôn A, xã H, thành phố M, N đã không chú ý quan sát, bất ngờ điều khiển xe mô tô vượt lên phía trước xe mô tô của anh T1, rồi chuyển hướng rẽ trái để đi vào đường liên thôn thuộc xã H và không bật xi nhan báo hiệu hướng rẽ, dẫn đến xe mô tô do anh T1 điều khiển, phía sau chở anh Đ đi bên trái cùng chiều, không xử lý kịp, đã va chạm vào phần lốp trước bên trái của xe mô tô biển số 14K1-312.39 do N điều khiển, làm xe mô tô của anh T1 bị đổ và các anh T1, Đ ngã văng ra đường. Hậu quả: anh Đ bị tử vong; N và anh T1 bị thương tích nhẹ; 02 xe mô tô bị hư hỏng.

Tại biên bản khám nghiệm hiện trường (theo hướng từ xã V đến phường T, thành phố M) trong điều kiện ban đêm, không mưa, mặt đường khô, ánh sáng đèn đường kết hợp đèn pin, xác định (hiện trường đã bị xáo trộn do quá trình đi lại của người dân và đưa nạn nhân đi cấp cứu, hai phương tiện liên quan đã rời khỏi hiện trường, còn nguyên các dấu vết trên mặt đường). Nơi xảy ra tai nạn là khu vực ngã tư giao nhau giữa đường T - M với đường liên thôn đoạn thuộc thôn A, xã H, thành phố M. Đường tỉnh Vân Đồn - M là đường hai chiều thẳng, tầm nhìn không bị hạn chế, mặt đường trải bê tông nhựa phẳng, rộng 7,8m, hơi dốc theo hướng V - T. Giữa đường có vạch sơn đứt nét màu vàng, phân chia hai chiều đường, mỗi phần đường rộng 3,9m. Phía trước nơi xảy ra tai nạn trên lề đường bên phải có biển báo W.207a “Giao nhau với đường không ưu tiên” và tại nơi xảy ra tai nạn có cột đèn đường CS-11.

Trên phần đường bên trái có vùng vết cày xước mặt đường, dài không liên tục, kích thước (19,8x01)m, hướng chếch chéo từ khu vực giữa phần đường bên trái đến mép đường bên trái (ký hiệu số 01), từ điểm đầu vết đến mép đường bên trái là 2,2m và đến cột đèn CS-11 là 15m, điểm cuối vết nằm tại mép đường bên trái. Cách điểm đầu vết (số A) 2,8m là điểm đầu vùng vết cày xước mặt đường, dài không liên tục, kích thước (7,9x0,9)m, hướng chếch chéo từ khu vực giữa phần đường bên trái đến mép đường bên trái (ký hiệu số 02), từ điểm đầu và điểm cuối vết đến mép đường bên trái lần lượt là 2,2m và 0,8m. Cách điểm cuối vết (số 02) 03m là tâm đám máu chảy nhỏ giọt, trên diện (0,6x0,5)m (ký hiệu số 03), từ tâm đám máu đến mép đường bên trái là 1,6m. Cách tâm đám máu (số C) 4,3m, tại vị trí chân trụ dải hộ lan có 01 mảnh vỡ tay nắm đuôi yên xe mô tô Vision, màu bạc, kích thước (0,3x0,05)m và trên thân trụ dải hộ lan có các dấu vết chất bẩn màu xanh, nâu, trượt xước mất bụi trên diện (0,5x0,15)m (ký hiệu số 04).

3

Cách điểm cuối vết (số 02) 1,2m là tâm vùng mảnh vỡ vỏ nhựa đầu xe Vision, dép, khẩu trang nằm rải rác bao trùm, trên diện (17,2x03)m (ký hiệu số 05), từ tâm vùng đến mép đường bên trái là 0,8m.

Khám xe mô tô biển số 14K1-312.39, xác định: chân gương chiếu hậu bên trái có vết mài xước trên diện (03x02)cm, mặt gương không có gương thủy tinh; đầu tay ghi đông bên trái có vết mài xước, mất nhựa; đầu tay phanh bên trái có vết mài xước kim loại; phần ốp yếm xe bên trái và cụm đèn xi nhan phía trước bên trái bung gá chốt, vị trí cao nhất của yếm cách đất 87cm; mặt ngoài lốp bánh trước bên trái có vết mài trượt, mất bụi trên diện (35x05)cm; mặt ngoài yếm xe và phần ốp đèn xi nhan bên trái có vết trượt xước mất nhựa trên diện (18x02)cm, hướng từ trước về sau; phần giữa yếm xe có vết mài xước mất nhựa trên diện (08x02)cm; mặt ngoài ốp nhựa phía dưới bệ để chân bên trái có vết mài xước mất nhựa trên diện (12x02)cm; phần ốp nhựa phía dưới yên xe phía trước và mặt ngoài vỏ thân xe bên trái có vết trượt xước dính chất bẩn liền mạch trên diện (25x09)cm, hướng từ trước về sau, điểm thấp nhất cách đất 39cm; mặt ngoài vị trí nối giữa cần để chân phía sau bên trái với thân xe có vết mài xước kim loại; ốp nhựa phía trên lốc máy bên trái bám dính đất màu nâu trên diện (10x06)cm; mặt ngoài vỏ thân xe phía trên bên trái có vết mài xước trên diện (06x1,5)cm, hướng từ trên xuống dưới; mặt ngoài ốp lốc máy phía dưới bên trái có vết mài xước trên diện (05x04)cm.

Khám xe mô tô biển số 14K1-368.34, xác định: góc bên phải ốp nhựa đầu xe bị vỡ rời, trên diện (27x18)cm; bọc nhựa tay ghi đông bên phải bị rách nhựa cao su dài 03cm; đầu cần tay phanh bên phải có vết mài xước; mặt ngoài cụm đèn xi nhan phía trước bên phải có vết trượt dính chất bẩn, trên diện (04x03)cm, tâm vùng cách đất 82cm; đầu mui chắn bùn lốp trước bị mài xước mất nhựa, sơn, trên diện (03x02)cm; yếm xe bên phải bung gá chốt, phần yếm ốp phía ngoài đèn xi nhan bên phải bị trượt xước, bám dính chất bẩn trên diện (10x03)cm, tâm vùng cách đất 82cm; mặt ngoài thân yếm xe có vết trượt xước trên diện (20x10)cm, hướng từ trước về sau; mặt ngoài ốp nhựa phía dưới bệ để chân bên phải bị trượt xước, bám dính chất bẩn trên diện (35x11)cm, hướng từ trước về sau, điểm đầu vết cách đất 28cm; mặt ngoài ốp thân xe bên phải, vị trí gần cần để chân phía sau bên phải có vết trượt xước, bám dính chất bẩn trên diện (12x04)cm, hướng từ trước về sau; đầu cần để chân sau bên phải trầy xước kim loại, kích thước (1,5x01)cm; mặt ngoài ốp ống xả bị trượt xước nhựa, bám dính chất bẩn; tay nắm đuôi yên xe bên phải có vết mài xước trên diện (07x01)cm; vị trí ốp nhựa thân xe gần đuôi xe bên phải có vết mài xước, mất nhựa trên diện (03x0,5)cm.

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 311/KLGĐTT-TTPY ngày 27/9/2024, của Trung tâm Pháp y - Sở Y, kết luận: nguyên nhân anh Hà Văn Đ tử vong do chấn thương cột sống cổ + Liệt tủy + Chấn thương ngực kín tràn máu màng phổi 2 bên, gãy nhiều xương sườn cung trước bên phải.

Tại Phiếu kết quả xét nghiệm sinh hóa, nước tiểu ngày 26/9/2024, của Trung tâm Y tế thành phố M, đối với Hà Văn N, xác định lượng Ethanol (cồn) trong máu là 25,7 mmoL/L; trong mẫu nước tiểu dương tính với Methamphetamine DV.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 1291/KL-HĐĐGTS ngày 11/10/2024, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố M, kết luận: xe mô

4

tô biển số 14K1-368.34 bị hư hỏng, thiệt hại 2.770.000 đồng; xe mô tô biển số 14K1-312.39 bị hư hỏng, thiệt hại 1.800.000 đồng.

Nguyên nhân dẫn đến tai nạn là do Hà Văn N (không có giấy phép lái xe theo quy định), điều khiển xe mô tô biển số 14K1-312.39, trong tình trạng trong máu có nồng độ cồn là 25,7 mmol/l và trong mẫu nước tiểu có chất ma tuý, loại Methamphetamine, không chú ý quan sát, chuyển hướng rẽ trái không đảm bảo an toàn và không bật xi nhan báo hiệu hướng rẽ, nên đã gây tai nạn cho xe mô tô biển số 14K1-368.34 do anh Hà Văn T1 điều khiển, phía sau chở anh Hà Văn Đ, đã vi phạm khoản 7, 8, 9 Điều 8 và khoản 1, 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ năm 2008.

Điều 8 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định:

“Các hành vi bị nghiêm cấm:

7. Điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà trong cơ thể có chất ma túy.

8. Điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn.

9. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định”.

Điều 15 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định:

“1. Khi muốn chuyển hướng, người điều khiển phương tiện phải giảm tốc độ và có tín hiệu báo hướng rẽ.

2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác”;

Tại Cơ quan điều tra, Hà Văn N khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên. Ngoài ra, N còn khai trong mẫu nước tiểu có chất ma túy là do trước đó khoảng 03 ngày, được 01 người bạn (không rõ lai lịch, địa chỉ) rủ đi uống bia và hát karaoke tại khu 8, phường H và được mời 01 cốc bia, sau khi uống xong thấy người không tỉnh táo nên bỏ về.

Về vật chứng vụ án: đối với xe mô tô biển số 14K1-321.39, quá trình điều tra xác định là của bà Bùi Thị C (mẹ đẻ của Hà Văn N); xe mô tô biển số 14K1-368.34 là của bà Nguyễn Thị T2 (mẹ vợ của Hà Văn T1), các bà C, T2 đều không biết việc N, T1 tự ý lấy đi, Cơ quan điều tra đã trả lại những xe trên và giấy tờ liên quan cho các chủ sở hữu.

Về trách nhiệm dân sự: sau khi gây tai nạn, Hà Văn N đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho gia đình anh Hà Văn Đ số tiền 60.000.000 đồng, đại diện gia đình anh Đ không có yêu cầu, đề nghị gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho N. Còn anh anh Hà Văn T1 không yêu cầu bồi thường.

Bản cáo trạng số: 379/CT-VKSMC ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Hà Văn N về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

5

Tại phiên tòa: bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và quá trình điều tra.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Hà Văn N từ 30 (ba mươi) tháng tù đến 33 (ba mươi ba) tháng tù, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày 25/11/2024.

- Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Vật chứng: đối với xe mô tô biển số 14K1-321.39, quá trình điều tra xác định là của bà Bùi Thị C (mẹ đẻ của Hà Văn N); xe mô tô biển số 14K1-368.34 là của bà Nguyễn Thị T2 (mẹ vợ của Hà Văn T1), các bà C, T2 đều không biết việc N, T1 tự ý lấy đi, Cơ quan điều tra đã trả lại những xe trên và giấy tờ liên quan cho các chủ sở hữu nên không xem xét.

- Về bồi thường dân sự: sau khi gây tai nạn, Hà Văn N đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho gia đình anh Hà Văn Đ số tiền 60.000.000 đồng, đại diện gia đình anh Đ không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Đây là sự tự nguyện bồi thường phù hợp với nguyên tắc cơ bản được quy định tại Bộ luật Dân sự. Còn anh anh Hà Văn T1 không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.

Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Nhận định của Hội đồng xét xử về những chứng cứ xác định bị cáo có tội. Đánh giá các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; trên cơ sở Biên bản, sơ đồ, bản ảnh khám nghiệm hiện trường, xác định hiện trường; Biên bản, bản ảnh khám nghiệm phương tiện; Biên bản khám nghiệm tử thi; Bản kết luận giám định tử thi số 311/KLGĐTT-TTPY ngày 27/9/2024, Kết luận Giám định độc chất số 396/KLGĐĐC-TTPY ngày 27/9/2024 của Trung tâm Y; Giấy chứng nhận thương tích, hồ sơ bệnh án, Phiếu kết quả xét nghiệm sinh hoá, nước tiểu; Bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 978/KLTTCT-TTPY ngày 30/10/2024 của Trung tâm Y; Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số

6

1292/KL-HĐĐGTS của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố M và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 23 giờ ngày 25/9/2024, tại khu vực ngã tư giao nhau giữa đường T - M với đường liên thôn đoạn thuộc thôn A, xã H, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, Hà Văn N (không có giấy phép lái xe theo quy định), điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu đỏ, biển số 14K1-312.39, trong tình trạng trong máu có nồng độ cồn là 25,7 mmol/l và trong mẫu nước tiểu có chất ma tuý, loại Methamphetamine, không chú ý quan sát, chuyển hướng rẽ trái không đảm bảo an toàn và không bật xi nhan báo hiệu hướng rẽ, nên đã gây tai nạn cho xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xanh-đen, biển số 14K1-368.34 do anh Hà Văn T1 điều khiển, phía sau chở anh Hà Văn Đ. Hậu quả: anh Hà Văn Đ bị tử vong; anh Hà Văn T1 bị thương tích nhẹ; xe mô tô biển số 14K1-368.34 bị hư hỏng, thiệt hại 2.770.000 đồng; xe mô tô biển số 14K1-312.39 bị hư hỏng, thiệt hại 1.800.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã vi phạm Điều 8, Điều 15 Luật Giao thông đường bộ, với hậu quả trên, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo đã xâm phạm tới trật tự an toàn giao thông gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác. Do đó quan điểm truy tố và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái là có căn cứ pháp lý được chấp nhận.

[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi: bị cáo điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe theo quy định, trong tình trạng trong máu có nồng độ cồn là 25,7 mmol/l và trong mẫu nước tiểu có chất ma tuý, loại Methamphetamine, không chú ý quan sát, chuyển hướng rẽ trái không đảm bảo an toàn và không bật xi nhan báo hiệu hướng rẽ, nên đã gây tai nạn cho xe mô tô biển số 14K1-368.34 do anh Hà Văn T1 điều khiển, phía sau chở anh Hà Văn Đ. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm đến an toàn giao thông, xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như có tác dụng giáo dục ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông trong cộng đồng và phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng ngừa chung.

[4] Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi gây tai nạn, bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho gia đình anh Hà Văn Đ tổng số tiền 60.000.000 đồng; đại diện gia đình anh Đ không có yêu cầu, đề nghị gì khác về phần bồi thường dân sự và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Gia đình

7

bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận. Do đó xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

- Về hình phạt bổ sung: do bị cáo không có công việc nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng và bồi thường dân sự:

Vật chứng: đối với xe mô tô biển số 14K1-321.39, quá trình điều tra xác định là của bà Bùi Thị C (mẹ đẻ của Hà Văn N); xe mô tô biển số 14K1-368.34 là của bà Nguyễn Thị T2 (mẹ vợ của Hà Văn T1), các bà C, T2 đều không biết việc N, T1 tự ý lấy đi, Cơ quan điều tra đã trả lại những xe trên và giấy tờ liên quan cho các chủ sở hữu nên không xem xét.

Về bồi thường dân sự: sau khi gây tai nạn, Hà Văn N đã tác động gia đình tự nguyện bồi thường cho gia đình anh Hà Văn Đ số tiền 60.000.000 đồng, đại diện gia đình anh Đ không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Đây là sự tự nguyện bồi thường phù hợp với nguyên tắc cơ bản được quy định tại Bộ luật Dân sự . Còn anh Hà Văn T1, bà Bùi Thị C và bà Nguyễn Thị T2 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về các vấn đề khác: hành vi của Hà Văn T1 điều khiển xe mô tô biển số 14K1-368.34, chở anh Hà Văn Đ sau khi đã sử dụng chất có cồn, không có giấy phép lái xe là sự kiện bất ngờ, nên không cấu thành tội phạm, Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ tài liệu đến Công an thành phố M xử lý hành chính theo quy định.

Bà Bùi Thị C (mẹ đẻ của Hà Văn N) là chủ sở hữu xe mô tô biển số biển số 14K1-312.39; bà Nguyễn Thị T2 (mẹ vợ của Hà Văn T1) là chủ sở hữu xe mô tô biển số 14K1-368.34, các bà C, T2 đều không biết việc N, T1 tự ý lấy xe đi, nên không cấu thành tội phạm.

[7] Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo; bị hại; người đại diện theo pháp luật của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
    Xử phạt bị cáo Hà Văn N 30 (ba mươi) tháng tù, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/11/2024.
  2. Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

8

30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Hà Văn N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Căn cứ vào khoản 1, khoản 4 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, Người đại diện theo pháp luật của bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Móng Cái;
  • - Công an thành phố Móng Cái;
  • - Cơ quan Thi hành án Hình sự
  • - Cơ quan Thi hành án Dân sự;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người đại diện theo pháp luật của bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Sở Tư Pháp;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Bùi Đức Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 12/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Văn Nam-vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger