Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG LA

TỈNH SƠN LA

Bản án số: 12/2024/HS-ST

Ngày 18-11-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Quàng Văn Mầng.

Bà Nguyễn Thị Hương.

- Thư ký phiên toà:

Bà Đinh Thị Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên toà:

Ông Bế Hoàng Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Phàng Thị C, sinh ngày 01/01/1963, tại N, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản H, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phàng A S và con bà Thào Thị L, đều đã chết; chồng Lầu A S2, sinh năm 1965, có 05 con lớn sinh năm 1982, nhỏ sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo Phàng Thị C: Ông Nguyễn Phương V. Luật sư - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm T1, tỉnh Sơn La. Có mặt.

Lầu A S2, sinh ngày 01/01/1965, tại N, M, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản H, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hoá: Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lầu A S1, con bà Giàng Thị D, đều đã chết; vợ Phàng Thị C, sinh năm 1963; có 05 con lớn sinh năm 1982, nhỏ sinh năm 1999; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo Lầu A S2: Ông Đỗ Văn T. Luật sư - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm T1, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Người làm chứng:

Lò Văn L1, địa chỉ: Bản Đ, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

Cà Văn Q, địa chỉ: Bản Đ, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

Ly A, địa chỉ: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

Ly A, địa chỉ: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

- Người phiên dịch:

Bà Vàng Thị D1, địa chỉ: Tiểu khu C, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Phàng Thị C, Lầu A bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào hồi 13 giờ 00 phút ngày 07/6/2024, tại nhà của Phàng Thị C và Lầu A ở bản H, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La, Công an phát hiện và bắt quả tang Lầu A S2, sinh ngày 01/01/1965 ở bản H, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Phàng Thị C, sinh ngày 01/01/1963, ở bản H, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La và Lò Văn L1, sinh năm 2001 và Cà Văn Q, sinh năm 2006, đều ở bản Đ, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Ly A, ở bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La đang có hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Ly A, địa chỉ: Bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La bỏ chạy không bắt giữ được.

Vật chứng thu giữ:

01 gói ni lon màu trắng, bên trong có chứa các cục bột màu hồng thu giữ do Lò Văn L1 tự giác giao nộp, khai là hồng phiến mua của Phàng Thị C với số tiền 100.000, đồng;

01 gói ni lon màu trắng, bên trong có chứa các cục bột màu trắng thu giữ do Cà Văn Q tự giác giao nộp, khai là H mua của Phàng Thị C với số tiền 100.000, đồng;

01 gói ni lon màu xanh, bên trong có chứa các cục bột màu trắng. Do Lầu A S2 tự giác lấy ở đầu giường ngủ giao nộp khai là Heroine;

01 túi ni lon màu trắng, bên trong có chứa 02 viên nén màu hồng hình tròn trên mặt có ký hiệu WY, thu giữ do Lầu A S2 tự giác lấy ở đầu giường ngủ giao nộp khai là hồng phiến.

Số tiền 200.000, đồng (04 tờ mệnh giá 50.000, đồng), thu giữ của Phàng Thị C khai là tiền vừa bán ma túy cho Lò Văn L1 và Cà Văn Q mà có;

Số tiền 30.000, đồng (01 tờ mệnh giá 10.000, đồng 01 tờ mệnh giá 20.000, đồng), thu giữ của L2 A S2 khai là tiền vừa bán ma túy cho Ly A B mà có;

04 mảnh giấy bạc; 01 bật lửa ga màu hồng, 01 bật lửa ga màu tím.

Ngày 07/6/2024 cơ quan Công an đã thành lập hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định, kết quả:

Vật chứng thu giữ:

01 gói ni lon màu trắng, bên trong có chứa các cục bột màu hồng thu giữ do Lò Văn L1 tự giác giao nộp có khối lượng 0,02 gam, lấy 0,02 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu LC;

01 gói ni lon màu trắng, bên trong có chứa các cục bột màu trắng thu giữ do Cà Văn Q tự giác giao nộp khai là Heroine có khối lượng 0,03 gam, lấy 0,03 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu QC;

01 gói ni lon màu xanh, bên trong có chứa các cục bột màu trắng. Do Lầu A S2 tự giác lấy ở đầu giường ngủ giao nộp khai là H có khối lượng 0,08 gam, lấy 0,02 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu S1;

01 túi ni lon màu trắng, bên trong có chứa 02 viên nén màu hồng hình tròn trên mặt có ký hiệu WY, thu giữ do Lầu A S2 tự giác lấy ở đầu giường ngủ giao nộp khai là hồng phiến có khối lượng 0,20 gam, lấy 0,10 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu S2.

Cơ quan Công an huyện M ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.

Tại Kết luận giám định số: 1251/KL-KTHS ngày 11/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận:

Mẫu ký hiệu QC, S1 là đều chất ma túy, loại Heroine, khối lượng giám định là QC là 0,03 gam; S1 là 0,02 gam. Khối lượng ma túy thu giữ là 0,11 gam Heroine.

Mẫu ký hiệu LC, S2 là đều chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng giám định là LC là 0,02 gam; S2 là 0,10 gam. Khối lượng ma túy thu giữ là 0,22 gam Methamphetamine.

Kết luận giám định số tiền 230.000, đồng là tiền thật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Phàng Thị C, Lầu A không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.

Quá trình điều tra Phàng Thị C, Lầu A S2 khai nhận:

Khoảng 12 giờ 45 phút ngày 07/6/2024 Lầu A S2 và Phàng Thị C đang ở nhà có Ly A B và Ly A D2 ở bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La đến nhà hỏi mua hồng phiến, Ly A B trao đổi với Lầu A S2 ở bếp và mua được 01 viên hồng phiến với số tiền 30.000, đồng. Sau khi có ma túy Ly A B và Ly A D2 ra khu vực bếp sử dụng (đốt hít) hết. Khi hai người sử dụng Lầu A S2 đi vào phòng ngủ không biết.

Khoảng thời gian này có Lò Văn L1, sinh năm 2001 và Cà Văn Q, sinh năm 2006, đều ở bản Đ, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La đến gặp Phàng Thị C hỏi mua ma túy. Lò Văn L1 mua của Phàng Thị C 02 viên hồng phiến với số tiền 100.000, đồng. Cà Văn Q mua của Phàng Thị C 01 gói Heroine với số tiền 100.000, đồng. Sau khi có ma túy hai người vào khu bếp tự sử dụng (đốt hít). Khi hai người sử dụng Phàng Thị C đi ra ngoài sân quét rọn không biết. Hồi 13 giờ 00 phút ngày 07/6/2024 Công an phát hiện và bắt quả tang cùng vật chứng.

Về nguồn gốc số ma túy Phàng Thị C, Lầu A cất giữ để bán và sử dụng. Hai người bàn nhau dùng tiền gia đình đi mua ma túy. Ngày 04/6/2024 Phàng Thị C khai mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết tên, địa chỉ với số tiền 400.000, đồng ở khu vực đường B, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Số ma túy mua được mang về đưa cho Lầu A Sụng một phần, Phàng Thị Chảo giữ một phần. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của Phàng Thị Chảo .

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Phàng Thị C và Lầu A S2 đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Bản cáo trạng số: 130/CT-VKS-ML ngày 17 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo Phàng Thị C về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Truy tố bị cáo Lầu A S2 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Phàng Thị C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Phàng Thị C từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

Tuyên bố các bị cáo Lầu A S2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Lầu A từ 28 tháng đến 34 tháng tù;

Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với các bị cáo do không có tài sản.

Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 02 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu xanh; 0,06 gam Heroine; 0,10 gam Methamphetamine (được niêm phong); 04 mảnh giấy bạc; 01 bật lửa ga màu hồng, 01 bật lửa ga màu tím;

Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 230.000, đồng do mua bán ma túy mà có của Phàng Thị C và Lầu A.

Đối với Lò Văn L1, sinh năm 2001 và Cà Văn Q, sinh năm 2006, đều ở bản Đ, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La có hành vi mua ma túy để sử dụng, số ma túy sau khi sử dụng còn lại của Lò Văn L1 là 0,02 gam Methamphetamine và của Cà Văn Q còn 0,03 gam Heroine. Đối với Ly A B và Ly A D2 ở bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La số ma túy mua được đã sử dụng hết. Được xác định bốn người đều chưa có tiền án, tiền sự. Số ma túy không đủ truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an đã ra quyết định xử phạt hành chính.

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Các bị cáo, những người bào chữa cho các bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Những người bào chữa cho các bị cáo phát biểu ý kiến bào chữa đưa ra các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo.

Lời nói sau cùng của các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, những người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo Phàng Thị C:

Phàng Thị C thừa nhận: Ngày 07/6/2024, tại nhà của Phàng Thị C ở bản H, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Phàng Thị C đã thực hiện hành vi bán trái phép ma túy cho Lò Văn L1, sinh năm 2001 và Cà Văn Q, sinh năm 2006, đều ở bản Đ, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Trong đó bán cho Lò Văn L1 02 viên Methamphetamine, sau khi sử dụng còn lại khối lượng là 0,02 gam và bán cho Cà Văn Q 01 gói Heroine sau khi sử dụng còn lại khối lượng là 0,03 gam để lấy của mỗi người 100.000, đồng. Cùng Lầu A S2 cất giữ 0,08 gam Heroine và 0,20 gam Methamphetamine để sử dụng và bán.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo Phàng Thị C tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định, lời khai của người mua ma túy.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Phàng Thị C đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” với tình tiết định khung tăng nặng theo quy định tại điểm c “Đối với hai người trở lên” khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[3]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo Lầu A S2:

Lầu A S2 thừa nhận: Ngày 07/6/2024, tại nhà của Lầu A ở bản H, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Lầu A S2 đã thực hiện hành vi bán trái phép ma túy 01 viên Methamphetamine cho Ly A ở bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La để lấy 30.000, đồng. Sau khi mua được ma túy Ly A B và Ly A D2 đã sử dụng hết. Cùng Phàng Thị C cất giữ 0,08 gam Heroine và 0,20 gam Methamphetamine để sử dụng và bán.

Xét hành vi mua bán ma túy của Lầu A S2 đã được đối chất và làm rõ tại phiên tòa: Khi trao đổi mua bán ma túy, Lầu A S2 nhận tiền của Ly A B là 30.000, đồng và khi giao ma túy chỉ giao cho Ly A B. Do đó có căn cứ xác định Lầu A S2 bán ma túy cho một người.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định, lời khai của người mua ma túy.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Lầu A S2 đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

[4]. Xét tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Phàng Thị C và Lầu A S2: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Bị cáo Phàng Thị C phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng nên cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục bị cáo. Bị cáo Lầu A S2 phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng cần có mức hình phạt tương xứng nhằm giáo dục bị cáo.

Về nhân thân bị cáo Phàng Thị C và Lầu A: Các bị cáo có nhân thân không tốt là đối tượng liên quan đến hoạt động ma túy. Các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo Phàng Thị C và Lầu A thật thà khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền.

[6]. Xét về vai trò đồng phạm: Bị cáo Phàng Thị C và bị cáo Lầu A S2 tham gia với vai trò ngang nhau, cùng bàn bạc lấy tiền của vợ chồng đi mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Cần căn cứ Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự để xem xét lên mức hình phạt tương xứng đối với các bị cáo.

[7]. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ: 02 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu xanh; 0,06 gam Heroine; 0,10 gam Methamphetamine (được niêm phong); 04 mảnh giấy bạc; 01 bật lửa ga màu hồng, 01 bật lửa ga màu tím.

Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 230.000, đồng do mua bán ma túy mà có của Phàng Thị C và Lầu A.

[8]. Xét các vấn đề liên quan khác trong vụ án:

Đối với Lò Văn L1, sinh năm 2001 và Cà Văn Q, sinh năm 2006, đều ở bản Đ, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La có hành vi mua ma túy để sử dụng, số ma túy sau khi sử dụng còn lại của Lò Văn L1 là 0,02 gam Methamphetamine và của Cà Văn Q còn 0,03 gam Heroine. Đối với Ly A B và Ly A D2 ở bản P, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La số ma túy mua được đã sử dụng hết. Được xác định bốn người đều chưa có tiền án, tiền sự. Số ma túy không đủ truy cứu trách nhiệm hình sự. Công an đã ra quyết định xử phạt hành chính là thỏa đáng.

Về nguồn gốc số ma túy Phàng Thị C, Lầu A cất giữ để bán và sử dụng. Hai người bàn nhau dùng tiền gia đình đi mua ma túy. Ngày 04/6/2024 Phàng Thị C khai mua của một người đàn ông dân tộc mông không biết tên, địa chỉ với số tiền 400.000, đồng ở khu vực đường B, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La. Số ma túy mua được mang về đưa cho Lầu A Sụng một phần, Phàng Thị Chảo giữ một phần. Không có căn cứ điều tra về người bán ma túy, không có chứng cứ nào khác để xác định lời khai của Phàng Thị Chảo . Nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm về số ma túy.

Do các bị cáo thuộc hộ nghèo, cần miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c “Đối với hai người trở lên” khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

    Tuyên bố bị cáo Phàng Thị C phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

    Xử phạt bị cáo Phàng Thị C 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 07/6/2024.

    Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

  2. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

    Tuyên bố bị cáo Lầu A S2 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

    Xử phạt bị cáo Lầu A S2 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 07/6/2024.

    Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

  3. Về vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu huỷ: 02 mảnh nilon màu trắng; 01 mảnh nilon màu xanh; 0,06 (không phẩy không sáu) gam Heroine; 0,10 (không phẩy một không) gam Methamphetamine (được niêm phong theo biên bản mở niêm phong cân tịnh vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong vật chứng ngày 07/6/2024); 04 mảnh giấy bạc; 01 bật lửa ga màu hồng, 01 bật lửa ga màu tím.

    Tịch thu sung nộp ngân sách Nhà Nước số tiền 230.000, đồng (hai trăm ba mươi nghìn đồng) do mua bán ma túy mà có (được niêm phong theo biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 30/9/2024).

    Theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.

  4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.

    Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Phàng Thị C và Lầu A.

    Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 18/11/2024.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Sơn La;

- Sở tư pháp tỉnh Sơn La;

- VKSND huyện Mường La (2);

- Công an huyện Mường La;

- THAHS;

- Chi cục THA dân sự huyện Mường La;

- Các bị cáo (2);

- Người bào chữa (2);

- Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu)

(đã ký)

Nguyễn Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về hình sự sơ thẩm (về tội mua bán trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 12/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (về tội Mua bán trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Phàng Thị Chảo và Lầu A Sụng phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger