TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2024/KDTM-PT Ngày: 16/7/2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Anh
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hải Minh.
Bà Phạm thị Thúy Quỳnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Diệu Linh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Bà Nguyễn Thị Soa – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024 và ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2024/TLPT-KDTM ngày 21 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, thế chấp”.
Do bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 06/2024/KDTM-ST ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 16/2024/QĐXX-KDTMPT ngày 10 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2024/QĐPT-KDTM ngày 21 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q
Địa chỉ: tầng A, 2, Tòa nhà S - A P, phường B, quận A-Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V – Chức vụ: Tổng giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Thành C- Chức vụ: Giám đốc thu hồi nợ trực tiếp và xử lý nợ - Trung tâm quản lý nợ Ngân hàng B – Khối ngân hàng bán lẻ VIB
Người được ủy quyền lại: Bà Trần Thị P – Chuyên viên xử lý nợ Ngân hàng TMCP Q (Có mặt tại phiên tòa).
2. Bị đơn:
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1985; Trú tại: xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An (có mặt tại phiên tòa).
· Ông Trần Văn H, sinh năm 1979; Trú tại: xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An (vắng mặt tại phiên tòa). Ủy quyền cho bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1985; Trú tại: xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An (có mặt tại phiên tòa).
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1985 và ông Trần Văn H, sinh năm 1979, Trú tại: xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung án sơ thẩm:
Theo nội dung đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, thì vụ án có nội dung như sau:
Ngày 24/03/2021, Ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh V1- Phòng G (sau đây viết tắt là V2) đã ký hợp đã ký kết hợp đồng tín dụng số 0000548.21 ngày 24/3/2021 cho ông Trần Văn H, sinh năm 1979 (chồng) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1985 (vợ) đều trú tại xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An vay số tiền 3.500.000.000 đ (Ba tỷ năm trăm triệu đồng). Thời hạn của hạn mức tín dụng là 24 tháng kể từ ngày ký hợp đồng này. VIB sẽ tiến hành xem xét lại khoản tín dụng định kỳ hàng năm, vào thời điểm do V2 quyết định. Mỗi khoản giải ngân có thời gian tối đa là 12 tháng.
Phương thức cho vay: Cho vay theo hạn mức. Trừ khi có chấp thuận khác của V2, trong trường hợp khoản tín dụng được giải ngân nhiều lần, các lần giải ngân tiếp theo không vượt quá 24 tháng kể từ ngày hợp đồng này.
Mục đích cấp tín dụng: Bên được cấp tín dụng được VIB cấp tín dụng để đáp ứng nhu cầu bổ sung vốn kinh doanh.
Lãi suất tính lãi: Lãi suất cho vay thả nổi, được xác định tại thời điểm giải ngân/thời điểm điều chỉnh lãi suất, chịu sự điều chỉnh theo chính sách về lãi suất của V2 từng thời kỳ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Mức lãi suất cho vay và /hoặc nguyên tắc và các yếu tố các định lãi suất, kỳ hạn điều chỉnh lãi suất được quy định cụ thể tại từng đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ.
Thời hạn tính lãi: Được xác định từ ngày giải ngân khoản tín dụng đến hết ngày liền kề trước ngày thanh toán hết khoản tín dụng (tính ngày đầu, bỏ ngày cuối của thời hạn tính lãi) và thời điển xác định số dư để tính lãi là cuối mỗi ngày trong thời hạn tính lãi.
Tiền lãi sẽ được cộng dồn hàng ngày trên cơ sở số dư nợ thực tế, số ngày duy trì, số dư nợ thực tế, lãi suất tính lãi đó và một năm có 365 ngày
Phương thức thanh toán khoản gốc: Cuối kỳ;
Phương thức trả lãi: Hàng tháng
Phương thức trả phí: Theo quy định tại biểu phí của V2 từng thời kỳ.
Sau khi ký hợp đồng tín dụng thì ngân hàng TMCP Q đã giải ngân cho ông H, bà T theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 0000548(5).21 ngày 27/09/2022 với nội dung: Số tiền giải ngân: 3.500.000.000 đồng; Mục đích vay: Kinh doanh thuốc tân dược; Ngày nhận nợ: 27/09/2022; Thời hạn vay: 09 tháng (Từ ngày 28/09/2022 đến ngày 27/06/2023); Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 10,8%/năm, lãi suất được điều chỉnh 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4.0%/năm; Ngày trả lãi: Ngày 20 hàng tháng, ngày trả lãi đầu tiên là ngày 20/10/2022; Hoàn trả nợ gốc: Cuối kỳ
Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên bao gồm:
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 1106 (Lô I-QH 2017), tờ bản đồ số 23 xã T, địa chỉ thửa đất tại: Đ, xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An, diện tích 200m2 đất ở. Thửa đất đã được UBND huyện Y, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CL 354676, số vào sổ cấp GCN: CH 01375 ngày 09/02/2018 mang tên ông Hà Văn N và bà Phạm Thị H1. Đã chuyển nhượng cho ông Trần Văn H, bà Nguyễn Thị T vào ngày 11/03/2021 theo số hồ sơ 006331.CN.01. Thửa đất này đã được ông T, bà H thế chấp cho Ngân hàng TMCP Q tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 0000567.21 ngày 24/3/202, được công chứng tại trụ sở Văn phòng C1 có địa chỉ tại số E, đường L, phường L, Thành phố V, tỉnh Nghệ An ngày 24/3/2021 và Đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y, tỉnh Nghệ An ngày 25/3/2021.
+ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 98 (Lô A), tờ bản đồ số 69 (QH2007), địa chỉ thửa đất tại: Đ, xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An, diện tích 199,7m2 đất ở. Thửa đất đã được UBND huyện Y, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số số CĐ 960673, số vào sổ cấp GCN: CH 00993 ngày 19/8/2016 mang tên ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị T. Tài sản này đã được ông T, bà H thế chấp cho Ngân hàng TMCP Q tại hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 7276049.19 ngày 17/5/2019, Hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C1 có địa chỉ tại số E, đường L, phường L, Thành phố V, tỉnh Nghệ An ngày 17/5/2019 và Đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Y, tỉnh Nghệ An ngày 21/5/2019.
Quá trình thực hiện hợp đồng, tính đến ngày 27/6/2023, bà Nguyễn Thị T và ông Trần Văn H đã trả được cho ngân hàng TMCP Q tổng số tiền là 309.084.915 đồng trong đó gồm: nợ gốc: 0 đồng; nợ lãi trong hạn: 309.084.915 đồng.
Tính đến ngày 28/9/2023 ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị T còn nợ Ngân hàng TMCP Q tổng số tiền là: 3.688.939.913 đồng, trong đó nợ gốc
3.500.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 17.277.767 đồng, nợ lãi quá hạn là 171.662.146 đồng. Do ông H, bà T vi phạm nghĩa vụ trả lãi hàng tháng khi đến hạn theo quy định cho Ngân hàng TMCP Q nên Ngân hàng TMCP Q đã làm đơn khởi kiện đến Tòa án yêu cầu Tòa án buộc ông H, bà T có trách nhiệm liên đới trả các khoản nợ gốc, nợ lãi còn thiếu cho ngân hàng TMCP Q.
Tại phiên tòa đại diện của ngân hàng TMCP Q tiếp tục giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án buộc bị đơn là ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị T phải có nghĩa vụ tiếp tục trả các khoản nợ gốc và các khoản lãi cho Ngân hàng tạm tính đến ngày xét xử là ngày 30/01/2024 là: 3.917.822.774 đ ( Ba tỷ chín trăm mười bảy triệu, tám trăm hai mươi hai nghìn, bảy trăm bảy mươi tư đồng), trong đó tiền gốc 3.500.000.000 đ, tiền lãi suất trong hạn 17.277.767 đ, tiền lãi quá hạn 400.545.007 đồng.
Trường hợp bên vay là ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị T không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì ngân hàng TMCP Q đề nghị cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại các tài sản bảo đảm mà ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị T đã thế chấp cho ngân hàng TMCP Q tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 7276049.19 ngày 17/05/2019 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 7276049.19 ngày 17/05/2019 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 7276049.19 ngày 17/05/2019. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ trả nợ, đề nghị Tòa án tuyên ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị T phải có nghĩa vụ trả hết nợ cho ngân hàng TMCP Q.
Đối với bị đơn là vợ chồng ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị T:
Do ông H cố tình vắng mặt tất cả những lần Tòa án báo gọi làm việc,do đó Tòa án không thu thập được lời khai ý kiến của ông Trần Văn H. Bà Nguyễn Thị T chỉ mặt một lần duy nhất để trình bày lời khai ý kiến vào ngày 07/11/2023. Do đó thay mặt HĐXX chủ Tọa phiên tòa công bố lời khai của bà Nguyễn Thị T với nội dung được tóm tắt sau: Ngày 21/12/2021 bà Nguyễn Thị Trì T và ông Trần Văn H đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 0000548.21 ngày 24/3/2021 với Ngân hàng TMCP Q (V2) để vay số tiền 3.500.000.000 đồng. Quá trình thực hiện Hợp đồng tính từ ngày vay tạm tính đến ngày 28/09/2023 thì vợ chồng bà T còn nợ Ngân hàng TMCP Q số tiền 3.688.939.913 đồng trong đó nợ gốc 3.500.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn số tiền là 17.277.767 đồng và nợ lãi lãi quá hạn 171.662.146 đồng. Ngân hàng TMCP Q khởi kiện thì vợ chồng bà T chấp nhận trả cho ngân hàng số tiền trên.
Tại Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12/12/2023 của Tòa án đối với các tài sản mà ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị T đã thế chấp cho ngân hàng TMCP Q thể hiện:
+Đối với thửa đất số 98, tờ bản đồ 69 tại địa chỉ Đ, xóm T, xã T, huyện Y, Nghệ An, diện tích 199,7 m2. Chủ sở hữu là ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị T, có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp đường huyện có chiều dài 10m; Phía Tây giáp thửa đất số 97 có chiều dài 19,95m; Phía Nam giáp đường nội bộ có chiều dài 10m; Phía Đông giáp thửa 99 có chiều dài 19,99m. Đất không có tranh chấp
với các hộ liền kề. phù hợp với quy hoạch, không có sự thay đổi so với thời điểm thế chấp.
Tài sản trên thửa đất có: 01 (một) nhà 02 (hai) tầng đổ trần, lợp ngói sơn chống nóng diện tích 13m x 10m=130m2; 01 (một) mái tôn đóng trần nhựa trước nhà có diện tích 10m x 6,99m = 69,9m2.
+ Đối với thửa đất số 1106, tờ bản đồ 23 địa chỉ Đ, xóm T, xã T, huyện Y, Nghệ An, có diện tích 200m2, đứng tên Trần Văn H, Nguyễn Thị T, có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp đường huyện có chiều dài 10m; Phía Tây giáp thửa đất Lô 08 có chiều dài 20m; Phía Nam giáp mương có chiều dài 10m; Phía Đông giáp Lô 10 có chiều dài 20m. Đất không có tranh chấp với các hộ liền kề, phù hợp với quy hoạch, không có sự thay đổi so với thời điểm thế chấp,trên thửa đất không có tài sản gì xây dựng trên đó.
Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 06/2024/KDTM-ST ngày 31 tháng 01 năm 2024 Tòa án nhân dân huyện Yên Thành đã tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q (V2) đối với ông về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Buộc: Ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị T phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q tổng số tiền dư nợ gốc và các khoản lãi theo Hợp đồng tín dụng số 0000548.21 ngày 24/3/2021 và Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 0000548(5).21 ngày 27/09/2022 tạm tính đến ngày 31/01/2024 là: 3.917.822.774 đ ( Ba tỷ chín trăm mười bảy triệu, tám trăm hai mươi hai nghìn, bảy trăm bảy mươi tư đồng), trong đó tiền gốc 3.500.000.000 đ, tiền lãi suất trong hạn 17.277.767 đ, tiền lãi quá hạn 400.545.007 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm là ngày 01/02/2024 ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị T còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 0000548.21 ngày 24/3/2021 và được điều chỉnh mức lãi suất theo Quyết định của Ngân hàng TMCP Q theo từng thời kỳ.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Ngân hàng TMCP Q làm đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị T không trả hoặc trả không đủ số tiền nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền, tiến hành kê biên, bán đấu giá phát mại các tài sản mà ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị T đã thế chấp cho ngân hàng TMCP Q tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 0000567.21 ngày 24/3/2021 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 7276049.19 ngày 17/5/2019.
Những người sinh sống, quản lý, sử dụng các tài sản, công trình trên các thửa đất thế chấp nêu trên có nghĩa vụ bàn giao cho cơ quan có thẩm quyền để thi hành án theo Luật thi hành án dân sự.
Trường hợp sau khi xử lý tài sản thế chấp mà vẫn không đủ để trả nợ thì ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị T vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục thanh toán
các khoản nợ cho ngân hàng TMCP Q cho đến khi thanh toán hết các khoản nợ. Trong trường hợp sau khi phát mại tài sản để thu hồi nợ mà còn dư (thừa) tiền (giá trị của tài sản) thì ngân hàng TMCP Q có trách nhiệm hoàn trả lại số tiền thừa trên cho bị đơn là ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị T.
Sau khi ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị T hoàn thành nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng TMCP Q - Chi nhánh V1- Phòng G có nghĩa vụ trả lại giấy tờ về tài sản thế chấp cho ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị T.
- Về lệ phí và chi phí tố tụng: Buộc ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị T phải có nghĩa vụ liên đới trả lại số tiền tạm ứng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 12.000.000 đồng.cho Ngân hàng TMCP Q.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, quyền kháng cáo và việc thi hành bản án của Tòa án.
Tại đơn kháng cáo đề ngày 19/02/2024, ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị T đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án số 06/2024/KDTM-ST của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành và xem xét, giải quyết, đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tống đạt, không tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 297/2023/QÐST-KDTM đề ngày 29/12/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa 137/2023/QÐST-KDTM đề ngày 14/01/2024
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị T giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử sơ thẩm: quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng quy định tại Điều 30, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách đương sự, việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng đảm bảo đúng quy định...
Tại cấp phúc thẩm, thời hạn chuẩn bị xét xử đúng quy định; Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
+ Về kháng cáo: Tòa án cấp sơ thẩm đã tống đạt quyết định hoãn phiên tòa số 137/2023/QÐST-KDTM ngày 29/12/2023 và Giấy triệu tập phiên tòa số 46/GTT-TA ngày 29/12/2023 là chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung Bản án sơ thẩm không liệt kê các tài sản gắn liền với thửa đất số 98, tờ bản đồ số 69 tại Đ, xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An được chấp nhận xử lý để thu hồi nợ là chưa rõ ràng gây khó khăn cho công tác thi hành án.
Biên bản phiên tòa ngày 31/01/2024, thì đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện qua đó thay đổi thời gian tính lãi suất và số tiền lãi, tuy nhiên tại bản án sơ thẩm lại ghi „Tại phiên tòa đại diện của Ngân hàng TMCP Q tiếp tục giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ...“ là không thống nhất.
Vụ án được xét xử vào ngày 31/01/2024 nhưng trong biên bản nghị án lại ghi thời gian kết thúc vào hồi 11 giờ 30 phút ngày 30/01/2024 là chưa chính xác.
Do đó đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 308; khoản 2 Điều 310 BLTTDS hủy Bản án sơ thẩm số 03/2024/KDTM – ST ngày 31/01/2024 của TAND huyện Yên Thành và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Ngày 31/01/2024, Tòa án nhân dân huyện Yên Thành xét xử sơ thẩm vụ án Tranh chấp hợp đồng tín dụng. Ngày 19/02/2024, bị đơn có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, đã nộp tiền tạm ứng án phí đầy đủ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai, ông Trần Thành C là đại diện theo ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn vắng mặt nhưng người đại diện theo ủy quyền lại là bà Trần Thị P có mặt tại phiên tòa và đề nghị Tòa án vẫn tiến hành xét xử, phù hợp với nội dung văn bản ủy quyền; ông Trần Văn H vắng mặt nhưng đã có văn bản ủy quyền cho bà Nguyễn Thị T có mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về kháng cáo:
Ngày 14/11/2023 và ngày 21/11/2023, Tòa án nhân dân huyện Yên Thành mở phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, công khai chứng cứ và hòa giải. Tại Biên bản giao nhận ngày 07/11/2023 (BL118) và ngày 14/11/2023 (BL 121) thể hiện Tòa án cấp sơ thẩm đã tống đạt hợp lệ thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, công khai chứng cứ và hòa giải số 72/TB-PH ngày 07/11/2023 và thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, công khai chứng cứ và hòa giải số 73/TB-TA ngày 14/11/2023 nhưng cả hai lần bị đơn đều vắng mặt không rõ lý do. Tại biên bản giao nhận ngày 28/11/2023 (BL 127) thể hiện Tòa án sơ thẩm đã tống đạt hợp lệ thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, công khai chứng cứ số 74/2023 ngày 21/11/2023 cho ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị T. Vậy nên bị đơn trình bày do Tòa án không tống đạt nên không tham gia vào các buổi họp kiểm tra việc giao, nộp, công khai chứng cứ và hòa giải là không có căn cứ.
Ngày 10/5/2021, cấp sơ thẩm mở phiên tòa lần 1, theo Biên bản thảo luận và Biên bản phiên tòa ngày 29/12/2023 (BL 133, 134A) thể hiện bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nhưng vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do. Tại Biên bản giao nhận ngày 13/12/2023 (BL 132) thể hiện bị đơn đã ký nhận Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 297/2023/QĐXX-KDTM ngày 12/12/2023 và giấy triệu tập phiên tòa số 43, 44/GTT-TA ngày 12/12/2023. Bị đơn trình bày Tòa án không tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử là không có căn cứ.
Ngày 31/01/2024, cấp sơ thẩm mở phiên tòa lần 2, theo Biên bản thảo luận (BL 138, 139) và Biên bản phiên tòa ngày 31/01/2024 (BL 152-155) thể hiện bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do. Tại Biên bản niêm yết và Biên bản về việc không thực hiện được việc tống đạt ngày 29/12/2023 (không có số bút lục) thể hiện Tòa án đã đến nhà ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị T để tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa số 137/2023/QÐST-KDTM ngày 29/23/2023 và Giấy triệu tập phiên tòa số 46/GTT-TA ngày 29/12/2023 nhưng ông bà không ở nhà, người nhà từ chối nhận thay, do Công an xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An xác nhận. Căn cứ vào hồ sơ vụ án và bản khai của bị đơn bà Nguyễn Thị T thì hiện nay bị đơn trú tại xóm T, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Bà Nguyễn Thị T và đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cho rằng như vậy việc tống đạt trên và việc Công an xã Đ xác nhận Biên bản niêm yết và Biên bản về việc không thực hiện được việc tống đạt đối với bị đơn là không đúng thẩm quyền, vi phạm nghiêm trọng và thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các đương sự và còn vi phạm về nội dung nên đề nghị Hủy bản án sơ thẩm chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy: bà T và ông H đã được tống đạt hợp lệ từ thông báo thụ lý đến giấy báo làm việc và quyết định xét xử lần 1 thể hiện ông H và bà T đã biết rõ nội dung yêu cầu khởi kiện của ngân hàng tuy nhiên bà T chỉ đến làm việc duy nhất với Tòa án một lần thể hiện thái độ không hợp tác. Đối với lần Tống đạt quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập phiên tòa lần 2 tuy có vi phạm thủ tục tố tụng xác nhận nhầm công an không phải nơi bị đơn cư trú. Nhưng bản chất sự việc là có việc tống đạt các quyết định đó có công an xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An xác nhận. Việc xác nhận nhầm là do lỗi của thư ký do đi làm nhiều xã nên xác nhận nhầm. Mặt khác bà T cũng thừa nhận có vay ngân hàng TMCP Q số tiền như ngân hàng khởi kiện và không có ý kiến gì về quyết định của bản án sơ thẩm. Như vậy Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm thủ tục tố tụng nhưng ít nghiêm trọng và không làm thay đổi bản chất của vụ án. Việc hủy bản án để giải quyết lại là không cần thiết. Tuy nhiên cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.
Ngoài ra bản án còn có một số sai sót đó là: Biên bản thảo luận ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành (BL 133) nhầm lẫn thông tin bị đơn là Lê Văn T1, Nguyễn Thị T. Biên bản phiên tòa thể hiện nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện tuy nhiên bản án lại ghi tại phiên tòa nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Vụ án được xét xử vào ngày 31/01/2024 nhưng Biên bản nghị án lại ghi kết thúc vào hồi 11h30 phút ngày 30/01/2024. Đây là những sai sót đề nghị Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành kiểm điểm rút kinh nghiệm..
Với diễn biến quá trình tiến hành tố tụng giải quyết vụ án của cấp sơ thẩm nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy việc bị đơn yêu cầu hủy bản án sơ thẩm vì cho rằng cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án là không có căn cứ nên không chấp nhận kháng cáo và đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa.
[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông H, bà T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị.
[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 3 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị T. Giữ nguyên các quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 06/2024/KDTM-ST ngày 31 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.
2. Về án phí: Bị đơn ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị T mỗi người phải chịu 2.000.000 đồng án phí phúc thẩm nhưng được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0002607 và 0002606 ngày 26/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực ngay sau khi tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Anh |
Bản án số 12/2024/KDTM-PT ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 12/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm
