Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN DŨNG

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 12/2024/DSST

Ngày 16-5-2024

"V/v Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản"

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thái Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lương Ngọc Biên, ông Đào Xuân Thịnh.

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Ông Mông Anh Tuấn – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng tham gia phiên toà: Ông Lương Văn Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Dũng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 110/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QĐST-DS ngày 16/4/2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Hà Thị M, sinh năm 1961 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố M, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

2. Bị đơn: Ông Phạm Văn M1, sinh năm 1976 và bà Hoàng Thị T, sinh năm 1975 (ông M1 có mặt, bà T vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Thôn N, xã Q, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn là bà Hà Thị M trình bày:

Trước đây do có thời gian dài quen biết và tin tưởng nhau nên bà Hà Thị M nhiều lần cho vợ chồng ông Phạm Văn M1, bà Hoàng Thị T vay tiền để làm ăn, phát triển kinh tế gia đình. Vì chưa có tiền để trả cho bà M nên vợ chồng ông M1, bà T có viết giấy nhận nợ (chốt nợ) làm 2 lần, cụ thể như sau.

Lần thứ nhất: Ngày 20/5/2013 ông M1 và bà T viết giấy nhận nợ số tiền 400.000.000 đồng (Bốn trăm triệu đồng), thời hạn trả tiền do các bên thỏa thuận là khi nào bà M đòi thì vợ chồng ông M1, bà T phải trả đủ cả gốc và lãi (giấy vay không ghi thời hạn thanh toán), thỏa thuận miệng lãi suất 1,8%/tháng, ông M1 và bà T cùng ký tên vào giấy vay tiền.

Lần thứ hai: Tháng 05/2018 bà M cho vợ chồng ông M1, bà T vay 02 lần với tổng số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), mục đích vay để vợ chồng ông M1, bà T làm ăn, kinh doanh. Do chưa có tiền để trả nên ngày 09/02/2020 ông M1, bà T viết một giấy vay tiền (thực tế là giấy nhận nợ) với bà M, nội dung là ông M1, bà T vay của bà M 100.000.000 đồng, khoản vay không ghi thời hạn thanh toán, thỏa thuận miệng lãi suất 1,8%/tháng, ông M1 và bà T cùng ký nhận vào giấy vay tiền.

Đầu năm 2022, do cần tiền để làm ăn nên bà M có đòi vợ chồng ông M1, bà T trả các khoản nợ trên thì vợ chồng ông M1, bà T hứa hẹn là chờ bán được đất thì sẽ trả cả gốc và lãi cho bà một thể. Nhưng sau khi bán được đất thì vợ chồng ông M1, bà T không trả tiền cho bà, bà đã nhiều lần đến nhà riêng để làm việc nhưng vợ chồng ông M1 trốn tránh, không gặp, bà gọi điện cũng không liên lạc được. Ngày 06/01/2023 bà đã gửi thông báo đòi nợ đến gia đình ông M1, bà T qua dịch vụ bưu chính nhưng cũng không nhận được phản hồi.

Nay bà khởi kiện yêu cầu ông Phạm Văn M1bà Hoàng Thị T phải trả toàn bộ khoản nợ gốc là 500.000.000 đồng và tiền lãi theo mức lãi suất quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 là 10%/năm kể từ ngày viết giấy vay đến ngày xét xử vụ án.

Tại biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa, bị đơn là ông Phạm Văn M1 trình bày:

Ông không quan hệ họ hàng, thân thích gì với bà Hà Thị M mà chỉ quen biết qua việc làm ăn. Trước đây ông nhiều lần vay tiền của bà M, do có một số mã tiền chưa trả được nên ông có viết giấy nhận nợ với bà M số tiền 100.000.000 đồng và 400.000.000 đồng, các giấy nhận nợ này ông không nhớ được lập vào ngày tháng năm nào nhưng ông xác nhận là có ký tên vào đó. Về thời hạn trả tiền thì do các bên thỏa thuận chứ không ấn định thời hạn cụ thể, lãi suất thỏa thuận miệng với bà M từ 3000 đồng đến 5000 đồng/triệu/ngày. Ông đã nhiều lần trả lãi cho bà M nhưng do sơ suất nên không yêu cầu bà M viết giấy biên nhận, vấn đề này đề nghị Tòa án xác minh, làm rõ với bà M. Nay ông đề nghị phía bà M xem xét, tính toán lại vì thực tế số tiền ông vay của bà M chỉ là 70.000.000 đồng, lần đầu vào năm 2009 vay 30.000.000 đồng và một lần không nhớ thời gian cụ thể vay thêm 40.000.000 đồng. Vì bà M tính lãi suất cao, lãi chồng lãi nên mới thành khoản tiền lớn như vậy. Nếu bà M tính toán lại, rút bớt số tiền ông phải trả thì ông sẽ có phương án trả nợ cho bà M.

Bị đơn là bà Hoàng Thị T trình bày:

Bà là vợ của ông Phạm Văn M1, trước đây ông M1 làm nghề xây dựng công trình, quá trình kinh doanh ông M1 có vay tiền của bà Hà Thị M, vấn đề này bà có được biết nhưng ông M1 chịu trách nhiệm trả nợ và theo như bà được biết thì ông M1 đã trả hết nợ cho bà M. Các giấy tờ, sổ sách về tiền nong, nợ lần do ông M1 quản lý nên bà không có tài liệu, chứng cứ gì cung cấp cho Tòa án. Bà quản lý kinh tế riêng, không phụ thuộc vào ông M1 nên việc bà Hà Thị M khởi kiện đòi tiền thì bà không đồng ý trả nợ cùng ông M1. Về các giấy tờ ký kết nhận nợ với bà Hà Thị M thì bà không nhớ rõ đó có phải chữ viết và chữ ký của bà không nhưng bà không yêu cầu giám định chữ viết, chữ ký tại các giấy vay tiền này.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mở phiên hòa giải nhưng không tiến hành hòa giải được (vì bị đơn vắng mặt).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điều 26, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 471, 473, 476 Bộ luật dân sự năm 2005; các điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị M. Buộc ông Phạm Văn M1bà Hoàng Thị T phải trả bà Hà Thị M khoản tiền gốc đã vay là 500.000.000 đồng và tiền lãi là 489.802.093 đồng.
  • Tổng cả gốc và lãi là: 989.802.093 đồng.
  • - Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn là ông Phạm Văn M1bà Hoàng Thị T phải chịu 41.694.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ tranh chấp giữa bà Hà Thị Mông Phạm Văn M1, bà Hoàng Thị T là quan hệ dân sự giữa cá nhân với cá nhân, do các bên không tự giải quyết được tranh chấp phát sinh, nguyên đơn đã làm đơn khởi kiện theo thủ tục Tòa án. Bị đơn ông Phạm Văn M1, bà Hoàng Thị T là người có địa chỉ thường trú tại thôn N, xã Q, huyện Y, vì vậy Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Quan hệ pháp luật trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Giao dịch dân sự giữa các bên thực hiện lần đầu vào ngày 20/5/2013, lần thứ hai vào ngày 09/02/2020 đều không thỏa thuận thời hạn thanh toán, tranh chấp phát sinh vào đầu năm 2022 khi người cho vay đòi tiền nhưng người vay không trả. Do vậy xác định các hợp đồng này vẫn đang thực hiện, các bên chưa thực hiện xong quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận.

Do các hợp đồng này có tranh chấp về tiền lãi và mức lãi suất không phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên cần áp dụng cả Bộ luật Dân sự 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với từng giai đoạn tính lãi để giải quyết vụ án.

[1.3] Về việc người tham gia tố tụng vắng mặt:

Bị đơn là chị Hoàng Thị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà T.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:

Căn cứ giấy vay tiền đề ngày 20/5/2013 (dương lịch) thể hiện bà Hà Thị M là bên cho vay, ông Phạm Văn M1bà Hoàng Thị T là bên vay tiền, số tiền vay 400.000.000 đồng, không có thời hạn thanh toán, không có tài sản đảm bảo, lãi suất cho vay theo thỏa thuận (riêng khoản vay 70.000.000 đồng là ghi lãi suất 1,8%/tháng). Giấy vay tiền có chữ ký, chữ viết của bà Hà Thị M (bên cho vay) và ông Phạm Văn M1, bà Hoàng Thị T (bên vay).

Căn cứ giấy vay tiền đề ngày 09/02/2020 thể hiện bà Hà Thị M là bên cho vay, ông Phạm Văn M1bà Hoàng Thị T là bên vay tiền, số tiền vay 100.000.000 đồng, không có thời hạn thanh toán, không có tài sản đảm bảo, lãi suất cho vay do các bên thỏa thuận miệng. Giấy vay tiền có chữ ký, chữ viết của ông Phạm Văn M1, bà Hoàng Thị T.

Bị đơn là ông Phạm Văn M1 xác nhận có vay tiền của bà Hà Thị M, xác nhận nội dung tại các giấy vay tiền đề ngày 20/5/2013 và ngày 09/02/2020 là đúng, xác nhận chữ viết, chữ ký trong các văn bản giấy vay tiền là của mình viết ra, có thỏa thuận về việc trả lãi.

Do vậy có đủ căn cứ xác định các giao dịch dân sự là có thật vì được cả hai bên thừa nhận, đây là hợp đồng vay tài sản không có kỳ hạn, có lãi suất (các bên thừa nhận), không có tài sản đảm bảo, nội dung hợp đồng là sự thỏa thuận tự nguyện của hai phía. Xét thấy lời khai của nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với nhau, nên đây là những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Nguyên nhân phát sinh tranh chấp do phía bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả tiền, phía ông M1, bà T chưa trả cho bà Hà Thị M được khoản tiền gốc, tiền lãi nào. Do vậy việc nguyên đơn khởi kiện đòi số tiền nợ gốc là có căn cứ, cần được chấp nhận là phù hợp quy định tại Điều 474 Bộ luật dân sự năm 2005 và Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015.

* Về yêu cầu đòi tiền lãi:

Tại các giấy vay tiền thì chỉ có khoản vay 70.000.000 đồng ngày 20/5/2013 có thể hiện lãi suất 1,8%/tháng, còn các khoản vay khác không ghi lãi suất. Nhưng các bên thừa nhận các khoản vay đều có thỏa thuận về lãi. Theo đơn khởi kiện ban đầu và bản tự khai nguyên đơn là bà Hà Thị M yêu cầu bị đơn phải trả lãi theo mức lãi suất 1,8%/tháng (tương ứng 21,6%/năm), nhưng tại phiên họp công khai chứng cứ và tại phiên tòa, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định của pháp luật từ thời điểm viết giấy vay tiền đến ngày xét xử vụ án. Cụ thể đối với khoản vay 400.000.000 đồng, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lãi từ ngày vay đến ngày 31/12/2016 với mức lãi suất 9%/năm (mức lãi suất của Ngân hàng N). Từ ngày 01/01/2017 đến ngày xét xử tính lãi theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015.

Hội đồng xét xử xét thấy việc xảy ra tranh chấp hợp đồng vay tài sản là do phía ông Phạm Văn M1, bà Hoàng Thị T vi phạm nghĩa vụ trả tiền. Do vậy cần buộc vợ chồng ông M1, bà T phải trả tiền lãi cho bà M là phù hợp quy định tại Điều 474, 476, 477 Bộ luật dân sự năm 2005 và Điều 466, 468, 469 Bộ luật dân sự năm 2015. Đối với thời gian trả lãi từ ngày 20/5/2013 đến ngày 31/12/2016 nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lãi theo mức lãi suất cơ bản của Ngân hàng N là 9%/năm. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp quy định của pháp luật và có lợi cho phía bị đơn nên được chấp nhận.

Việc tính lãi cụ thể như sau:

* Đối với khoản vay 400.000.000 đồng ký kết ngày 20/5/2013 thì việc tính lãi chia làm 02 thời điểm.

- Thời điểm từ ngày viết giấy vay tiền 20/5/2013 đến ngày 31/12/2016. Tính lãi căn cứ vào Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Thống đốc Ngân hàng N, mức lãi suất cơ bản là 9%/năm. Cụ thể thời gian tính lãi là: 03 năm 07 tháng 10 ngày x 9%/năm (tương ứng 0,75%tháng; 0,025%/ngày) x 400.000.000 đồng = 108.000.000đ + 21.000.000đ + 1.000.000₫ = 130.000.000 đồng (Một trăm ba mươi triệu đồng).

- Thời điểm tiếp theo từ ngày 01/01/2017 đến ngày xét xử 16/5/2024. Việc tính lãi căn cứ quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, mức lãi suất 10% năm. Cụ thể thời gian tính lãi là: 07 năm 04 tháng 13 ngày x 10%/năm (tương ứng 0,83%/tháng; 0,027%/ngày) x 400.000.000 đồng = 294.684.000 đồng (Hai trăm chín mươi tư triệu, sáu trăm tám mươi tư nghìn đồng).

* Đối với khoản vay 100.000.000 đồng ký kết ngày 09/02/2020: Việc tính lãi căn cứ quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, mức lãi suất 10% năm. Thời gian phải trả lãi là 04 năm 03 tháng 16 ngày x 100.000.000 đồng x 10%/năm (tương ứng 0,83%/tháng; 0,027%/ngày) = 40.000.000đ + 2.490.000đ + 432.000đ = 42.922.000 đồng (Bốn mươi hai triệu, chín trăm hai mươi hai nghìn đồng).

Tổng tiền lãi phải trả là: 467.606.000 đồng.

Tổng cả gốc và lãi phải trả là: 967.606.000 đồng (Chín trăm sáu mươi bẩy triệu, sáu trăm linh sáu nghìn đồng).

[3] Về nghĩa vụ liên đới trả nợ:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa, có đủ căn cứ xác định các khoản tiền ông Phạm Văn M1bà Hoàng Thị T vay của bà Hà Thị M là khoản nợ chung phát sinh trong thời kỳ hôn nhân giữa ông M1bà T. Ông M1 xác định bà T có biết về khoản vay này, số tiền vay được sử dụng cho nhu cầu làm ăn, phát triển kinh tế gia đình và xác định đây là khoản nợ chung, vợ chồng có trách nhiệm cùng trả. Phía bà Hoàng Thị T xác nhận bà là vợ của ông Phạm Văn M1, trước đây ông bà có nhiều lần vay tiền của bà M và đã trả xong nhưng bà T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho vấn đề này, bà T không xác định được chữ ký và chữ viết trong các giấy vay tiền có phải do mình viết, ký hay không nhưng bà cũng không yêu cầu trưng cầu giám định.

Do vậy xác định các khoản nợ theo giấy vay tiền ngày 20/5/2013 và ngày 09/02/2020 là nợ chung của ông Phạm Văn M1bà Hoàng Thị T, số tiền này được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, nên cần buộc ông M1bà T phải chịu trách nhiệm liên đới trả nợ là phù hợp quy định tại Điều 27 và Điều 37 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

[4] Về các vấn đề khác:

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là ông Phạm Văn M1 cho rằng chỉ vay của bà Hà Thị M tổng số tiền 70.000.000 đồng, trong đó lần đầu vay 30.000.000 đồng vào năm 2009, lần thứ hai vay 40.000.000 đồng vào thời điểm không nhớ. Do bà Hà Thị M tính lãi suất cao (từ 3000 đồng – 5000 đồng/triệu/ngày) nên khoản nợ của ông mới nhiều như vậy, và ông đã trả lãi cho bà M rất nhiều lần, mỗi lần trả đều gạch sổ của bà M.

Hội đồng xét xử xét thấy, lời khai này của ông Phạm Văn M1 là không có căn cứ vì đây chỉ là lời khai một phía của ông M1, không được bà Hà Thị M thừa nhận, ngoài lời khai trên thì ông M1 không cung cấp được bất cứ tài liệu, chứng cứ gì khác liên quan đến việc trả tiền gốc, tiền lãi của các khoản vay trên cho bà Hà Thị M. Vì vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận ý kiến, lời khai của ông Phạm Văn M1.

Đối với bà Hoàng Thị T: Quá trình giải quyết vụ án, bà T khẳng định việc quản lý kinh tế giữa bà và ông M1 là riêng, hai người độc lập về kinh tế, bà hiện đang đi làm công nhân (công ty), không liên quan, không phụ thuộc gì với ông M1. Tuy nhiên, căn cứ biên bản xác minh tại địa phương xác định bà Hoàng Thị Tông Phạm Văn M1 là vợ chồng, trong các giấy vay tiền đều có chữ viết, chữ ký của bà T, mặc dù bà T không xác định rõ đó có phải chữ của mình không nhưng bà không yêu cầu giám định, do vậy có đủ căn cứ buộc bà Hoàng Thị T chịu trách nhiệm liên đới trả nợ cùng ông Phạm Văn M1 trong vụ án này.

[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ, nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Án phí được tính theo công thức 36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng = 41.028.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu, không trăm hai mươi tám nghìn đồng).

[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 92; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 280, 281, 305, 471, 472, 473, 474, 476, 477 Bộ luật Dân sự 2005; Điều 357; Điều 429; Điều 463; Điều 465; Điều 466; Điều 468, Điều 469 và Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27 và Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị M.

    Buộc ông Phạm Văn M1bà Hoàng Thị T phải liên đới trả cho bà Hà Thị M số tiền nợ gốc là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) và tiền lãi là 467.606.000 đồng (Bốn trăm sáu mươi bẩy triệu, sáu trăm linh sáu nghìn đồng).

    Tổng cả gốc và lãi là: 967.606.000 đồng (Chín trăm sáu mươi bẩy triệu, sáu trăm linh sáu nghìn đồng).

  2. Về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ chậm trả tiền:

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6; 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  3. Về án phí:

    Ông Phạm Văn M1bà Hoàng Thị T phải liên đới chịu 41.028.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu, không trăm hai mươi tám nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt khi tuyên án thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Yên Dũng;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Dũng;
  • - Cổng thông tin điện tử tòa án;
  • - Đương sự,
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thái Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/DSST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 12/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger