Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HNGĐ-PT

Ngày 16 - 4 - 2024

V/v Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hà
Các Thẩm phán: Bà Đinh Cẩm Đào
Ông Dương Hùng Quang

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Khuyên - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa:

Bà Phạm Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 06/2024/TLPT-HNGĐ ngày 29 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn”.

Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 11/2024/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/QĐ-PT ngày 15 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1973; Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.
  • - Bị đơn: Ông Hà Văn V, sinh năm 1992
  • Người đại diện hợp pháp của ông V: Bà Hà Xuân T, sinh năm 1979; Cùng địa chỉ: Khóm A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1971; Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1949; Địa chỉ: Khóm A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau.
    2. Bà Lê Thị T1, sinh năm 1973; Địa chỉ: Khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau.
    3. Anh Nguyễn Duy T2, sinh năm 1994
    4. Anh Nguyễn Nhật T3, sinh năm 2001
    5. Ông Trần Chí L1, sinh năm 1978
    6. Ông Võ Thành C
    7. Cùng địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.
    8. Bà Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1973; Địa chỉ: Ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.
    9. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước; Địa chỉ: Khóm B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau.
  • - Người kháng cáo: Bà Hà Xuân T, là người đại diện hợp pháp của ông Hà Văn V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Nguyễn Ngọc L trình bày: Bà Nguyễn Ngọc L và ông Nguyễn Văn S chung sống với nhau từ năm 1994 nhưng đến năm 2003 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau. Năm 2021 bà L và ông S ly hôn tại bản án số 74/2021/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 5 năm 2021 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau; nội dung bản án của Toà án chỉ giải quyết về hôn nhân giữa bà L với ông S, con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết, tài sản chung tự thoả thuận và nợ chung thì không có.

Sau khi ly hôn thì giữa bà L và ông S không thỏa thuận được tài sản chung, nay bà L xác định tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân và yêu cầu giải quyết, bao gồm:

  1. Một phần đất nuôi trồng thủy sản với diện tích 6.588m² (diện tích đo thực tế là 7.364,5m² chưa tính diện tích đất tranh chấp với ông C1 là 16,9m²) thửa số 291, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau. Nguồn gốc phần đất là được cha mẹ ruột của ông S tặng cho vợ chồng ông S, bà L và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 537995 ngày 05/5/2010 đứng tên ông Nguyễn Văn S. Do phần đất này là của cha mẹ ruột của ông S cho, nên bà L đồng ý giao cho ông S quản lý.
  2. Một phần đất diện tích 3.082,4m² (diện tích đo thực tế là 3.035,1m²), thửa số 67, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại khóm N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau. Nguồn gốc phần đất là do cha ruột bà L là ông M hùn vốn sang đất cùng bà Nguyễn Thị Đ, sau đó chuyển nhượng lại cho vợ chồng ông S, bà L. Phần đất đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 293752 ngày 14/8/2019 đứng tên ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Ngọc L. Bà L yêu cầu được nhận quản lý phần đất này.
  3. Một căn nhà diện tích 60m2 nhà cất trên nền đất thuê của ông Võ Thành C, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà L rút lại yêu cầu đối với căn nhà này.
  4. Một nền nhà diện tích 64m², tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau, do vợ chồng ông S, bà L sang nhượng của ông Nguyễn Văn M1; Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà L rút lại yêu cầu đối với phần đất này.

Bà Nguyễn Ngọc L trình bày ý kiến đối với yêu cầu của ông Hà Văn V: Sau khi bà L và ông S kết hôn thì được cha mẹ chồng cho 01 phần đất có diện tích là 6.588 m², tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 05/5/2010 do ông Nguyễn Văn S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; bà L không đồng ý với yêu cầu của ông V vì khi ông S ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hà Văn V với ông Nguyễn Văn S thì không có sự đồng ý của bà L và đây là tài sản chung giữa bà L với ông S nên hợp đồng này là vô hiệu.

Đối với phần đất ấp B, xã Đ có tranh chấp ranh đất với ông C1 thì bà L và S sẽ yêu cầu địa phương hòa giải để thỏa thuận với ông C1 giải quyết riêng, không yêu cầu trong vụ án này.

* Nguyên đơn ông Hà Văn V và người đại diện theo ủy quyền của ông V – bà Hà Xuân T trình bày: Ngày 15 tháng 01 năm 2020, ông Hà Văn V với ông Nguyễn Văn S có thoả thuận chuyển nhượng phần đất nuôi trồng thủy sản diện tích 6.588m², tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau với giá là 214.000.000 đồng, đất do ông S đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hai bên có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng C2 vào ngày 15/01/2020 và ông V đã giao đủ số tiền 214.000.000 đồng. Đến ngày 24/6/2020 ông V đến Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C làm thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà Nguyễn Ngọc L là vợ ông S ngăn cản nên không chuyển tên từ ông S sang tên ông V được. Phần đất chuyển nhượng hiện nay ông V đang cho ông S thuê lại với giá là 14.000.000 đồng/01 năm, việc cho thuê đất chỉ nói miệng không có làm văn bản, nên phần đất hiện ông S đang sử dụng. Nay ông V yêu cầu Toà án giải quyết công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông V với ông S và bàn giao phần đất chuyển nhượng có diện tích 6.588m², tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau cho ông V được quản lý, sử dụng.

* Bà Lê Thị T1 trình bày: Bà T1 yêu cầu Tòa án không công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hà Văn V với ông Nguyễn Văn S đối với phần đất nuôi trồng thủy sản thửa số 291, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau, vì hợp đồng này là giải tạo, giá chuyển nhượng không hợp lý, không đúng giá thực tế. Do đó, bà T1 yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hà Văn V với ông Nguyễn Văn S ngày 15/01/2020 là vô hiệu.

* Bị đơn ông Nguyễn Văn S trình bày:

Đối với yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn của bà L: Ông S thống nhất với yêu cầu của bà L, ông S đồng ý nhận phần đất nuôi trồng thủy sản diện tích 6.588m² (diện tích đo thực tế là 7.364,5m² chưa tính diện tích đất tranh chấp với ông C1 là 16,9m²) thửa số 291, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau vì nguồn gốc phần đất là được cha mẹ ruột tặng cho ông S trong thời kỳ hôn nhân. Ông S đồng ý giao phần đất với diện tích 3.082,4m² (diện tích đo thực tế là 3.035,1m²), thửa số 67, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại khóm N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau cho bà L quản lý, sử dụng.

Việc bà L rút lại yêu cầu đối với một căn nhà diện tích 60m² nhà trên nền đất thuê và một nền nhà diện tích 64m², tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau thì ông S thống nhất, không có yêu cầu, ông S và bà Lam tự thỏa thuận sau.

Ông S thống nhất với kết quả đo đạc và thẩm định giá đối với 02 phần đất nêu trên. Đối với phần đất ông đang quản lý, sử dụng và có tranh chấp ranh đất với ông C1 thì ông sẽ yêu cầu địa phương hòa giải để thỏa thuận với ông C1 giải quyết riêng, không yêu cầu trong vụ án này.

Đối với yêu cầu của ông Hà Văn V: Ông S cho rằng trước đây ông thế chấp phần đất nuôi trồng thủy sản thửa số 291, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau cho ông V để vay số tiền 200.000.000 đồng nhưng không làm hợp đồng thế chấp mà làm dưới dạng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; lý do làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là do hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất sẽ không thuộc đối tượng để công chứng, do ông cần tiền để làm ăn nên mới làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Hà Văn V để vay số tiền 200.000.000 đồng, lãi suất vay tiền là tháng đầu lãi 8.000.000 đồng, từ tháng thứ hai trở đi là 6.000.000 đồng/tháng, khi đó có thỏa thuận miệng khi nào ông có tiền trả thì các bên sẽ đến cơ quan chức năng hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã ký. Ông thừa nhận chữ ký trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 15/01/2020 là do ông trực tiếp ký tên. Đã qua ông đã trả được 02 tháng tiền lãi với số tiền là 14.000.000 đồng, bà T là người trực tiếp nhận và có viết biên nhận giao cho ông giữ. Ông thừa nhận chỉ có vay của ông V số tiền 200.000.000 đồng chứ không phải là 214.000.000 đồng như bà T trình bày. Đối với việc bà T cho rằng phần đất sau khi làm hợp đồng chuyển nhượng xong là cho ông thuê lại là không đúng vì ông chỉ cầm cố giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông V, còn đất ông vẫn canh tác bình thường. Ông thừa nhận còn thiếu ông V số tiền 200.000.000 đồng và tiền lãi từ tháng thứ ba cho đến nay. Nay ông đồng ý trả lại cho ông V số tiền 200.000.000 đồng và đồng ý trả lãi theo thỏa thuận với ông V, yêu cầu ông V hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã ký.

* Ông Nguyễn Văn M trình bày: Phần đất diện tích 3.082,4m², thửa số 67, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại khóm N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau. Nguồn gốc phần đất là do ông M hùn vốn sang đất cùng với bà Nguyễn Thị Đ, sau đó chuyển nhượng lại cho vợ chồng ông S, bà L, phần tiền chuyển nhượng đất của bà Đ đã thanh toán xong, nhưng phần tiền của ông M thì vợ chồng ông S, bà L còn nợ 17 chỉ vàng 24k. Phần đất này bị xoáy lở, ảnh hưởng đến đường giao thông nên ông M có mướn làm bờ kè chiều dài 20m x 1.000.000đ = 20.000.000 đồng. Ông M yêu cầu ông S và bà L phải thanh toán 17 chỉ vàng 24k và 20.000.000 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án thì ông M không yêu cầu để cho bà L và ông S tự thoả thuận trả nợ cho ông nên ông M không yêu cầu gì trong vụ án này.

Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 11/2024/HNGĐ-ST ngày 11 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cái Nước đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc L về việc chia tài sản sau khi ly hôn.

Giao cho ông Nguyễn Văn S quyền sử dụng phần đất nuôi trồng thủy sản, diện tích đo đạc thực tế là 7.364,5m² (không tính diện tích đất tranh chấp với ông C1 là 16,9m²) thửa số 291, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Giao cho bà Nguyễn Ngọc L quyền sử dụng phần đất nuôi trồng thủy sản, diện tích đo đạc thực tế là 3.035,1m², thửa số 67, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại khóm N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Buộc bà Nguyễn Ngọc L có trách nhiệm giao cho ông Nguyễn Văn S giá trị chênh lệch tài sản được nhận với số tiền là 711.123.250 đồng.

Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Ngọc L đối với yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn là 01 căn nhà và 01 nền nhà cùng tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hà Văn V về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hà Văn V và ông Nguyễn Văn S, đối với phần đất NTTS thửa số 291, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T1 tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hà Văn V và ông Nguyễn Văn S là vô hiệu.

Buộc ông Nguyễn Văn S trả lại cho ông Hà Văn V tổng số tiền là 385.200.000 đồng.

Buộc ông Hà Văn V trả cho ông Nguyễn Văn S bản gốc 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB537995 được UBND huyện C cấp ngày 05/5/2010 đứng tên Nguyễn Văn S.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 24/01/2024 bà Hà Xuân T, là người đại diện hợp pháp của ông Hà Văn V kháng cáo, yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hà Văn V và ông Nguyễn Văn S đối với phần đất nuôi trồng thuỷ sản toạ lạc tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Hà Văn V, công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hà Văn V và ông Nguyễn Văn S. Giao cho bà Nguyễn Ngọc L phần đất diện tích 3.035,1m², bà Nguyễn Ngọc L phải thanh toán lại ½ giá trị phần đất cho ông Nguyễn Văn S.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Tại phiên toà phúc thẩm phía ông Hà Văn V vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và phía ông Hà Văn V xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông và ông Nguyễn Văn S là hợp pháp, không có việc cho ông Nguyễn Văn S vay.

[2] Xét kháng cáo của ông Hà Văn V thấy rằng: Tại phiên Toà phía ông Hà Văn V khẳng định quá trình giải quyết ông Hà Văn V đều không chấp nhận nhận tiền, yêu cầu giao đất, đến khi giải quyết tại toà cấp sơ thẩm thì phía ông Hà Văn V xác định nếu ông S không giao đất được thì mới nhận tiền. Lý do không đồng ý với bản án tuyên thanh toán giá trị cho ông Hà Văn V vì bản án nhận định vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là do tài sản chung của vợ chồng ông Nguyễn Văn S là không đúng vì đây là tài sản riêng của ông S nhận thừa kế.

Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm và tại phiên toà phúc thẩm hôm nay ông Nguyễn Văn S cho rằng ông vay của ông Hà Văn V 200.000.000 đồng, ông đã thanh toán lãi 02 lần, tiền lãi 6.000.000 đồng cầm cố 60 ngày lãi cộng dồn là 214.000.000 đồng (BL 159), tại phiên toà thì ông S cho rằng tiền lãi của tháng đầu là 8.000.000 đồng, tháng thứ 2 là 6.000.000 đồng nên mới viết biên nhận 214.000.000 đồng. Phía ông Hà Văn V thì cho rằng ông và ông Nguyễn Văn S đi đến Văn phòng Công chứng tại Thành phố C công chứng hợp đồng và giao nhận đủ tiền, tài sản đứng tên ông S là tài sản riêng của ông S, không có việc cho vay, sở dĩ có làm biên nhận 02 lần số tiền 14.000.000 đồng và viết tờ cam kết cho ông Nguyễn Văn S mua lại đất giá 214.000.000 đồng là do trước khi chuyển nhượng đã đặt cọc, khi tiến hành xem đất thì thấy không thuận tiện cho việc canh tác và ông Nguyễn Văn S nếu có thiện chí mua lại thì ông Hà Văn V cũng đồng ý cho mua lại với giá chuyển nhượng trong vòng 60 ngày là 214.000.000 đồng.

Xét lời trình bày của các bên đương sự thấy rằng: Theo giấy giao nhận tiền thể hiện ông Nguyễn Văn S đã nhận đủ số tiền 214.000.000 đồng tại thời điểm chuyển nhượng ngày 15/01/2020 (BL03), ông Nguyễn Văn S không cung cấp được tài liệu chứng minh việc vay 200.000.000 đồng, ông Nguyễn Văn S lý giải do vay 200.000.000 đồng tính lãi suất tháng đầu là 8.000.000 đồng, tháng sau là 6.000.000 đồng nên viết biên nhận nhận 214.000.000 đồng, ông chỉ trả lãi tổng cộng là 14.000.000 đồng, 02 biên nhận ngày 01/3/2020(AL) và ngày 29/3/2020(AL) cũng là biên nhận thanh toán lãi. Ông Nguyễn Văn S không lý giải được vì sao đã thanh toán lãi trong biên nhận 214.000.000 đồng còn đóng lãi tiếp bằng hai biên nhận nêu trên. Xét lời trình bày phía ông Hà Văn V và căn cứ vào hồ sơ thể hiện giữa ông S và ông V chuyển nhượng quyền sử dụng đất là tự nguyện, giá trị chuyển nhượng năm 2020 là 214.000.000 đồng, so với giá trị năm 2023 đã được định giá là 484.442.500 đồng thì giá trị chênh lệch không đáng kể, theo như tính lãi suất ngân hàng thì số tiền ông S thanh toán cho ông Hà Văn V theo bản án sơ thẩm cũng là 385.200.000 đồng. Xét về tài sản ông S được nhận thừa kế từ cha mẹ ông S và ông S đã được cấp quyền sử dụng đất từ thủ tục thừa kế từ năm 2010 (BL 182 đến 190), khi ông S được thừa kế từ cha mẹ ông S thì bà L cũng không có ý kiến phản đối việc ông S được cấp quyền sử dụng đất. Do đó ông S có quyền thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông S thực hiện đúng trình tự luật định, khi ông S thực hiện việc chuyển nhượng ông S đủ trình độ nhận thức việc làm của mình. Cấp sơ thẩm nhận định tài sản ông S đứng tên quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng, ông S tự thực hiện thủ tục chuyển nhượng mà không có sự đồng ý của bà L nên hợp đồng vô hiệu, nhận định như cấp sơ thẩm là chưa phù hợp với các chứng cứ thể hiện tại hồ sơ. Tại phiên toà phúc thẩm bà Nguyễn Ngọc L cũng tranh luận vào khoản tháng 4 sau khi ông Nguyễn Văn S chuyển nhượng thì bà Hà Xuân T yêu cầu bà đưa cho bà T 214.000.000 đồng, bà T sẽ giao lại phần đất cho bà nhưng bà Nguyễn Ngọc L không đồng ý. Như vậy, có căn cứ chấp nhận lời trình bày của phía ông Hà Văn V, xác định có việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn S và ông Hà Văn V.

[3] Như phân tích trên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Hà Văn V. Sửa bản án sơ thẩm công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn S và ông Hà Văn V. Giao cho bà Nguyễn Ngọc L phần đất nuôi trồng thủy sản, diện tích đo đạc thực tế là 3.035,1m², bà Nguyễn Ngọc L có trách nhiệm giao cho ông Nguyễn Văn S ½ giá trị phần đất diện tích 3.035,1m² với số tiền 953.344.500 đồng; Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T1 về việc tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hà Văn V và ông Nguyễn Văn S là vô hiệu.

[4] Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ Luật tố tụng dân sự, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Hà Văn V, công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hà Văn V và ông Nguyễn Văn S. Như phân tích trên, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên được chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 3 và 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Ông Nguyễn Văn S phải chịu án phí chia tài sản sau khi ly hôn với số tiền là 40.600.335 đồng, do ông được nhận ½ giá trị của phần đất giao cho bà Nguyễn Ngọc L là 953.344.500 đồng.

Bà Nguyễn Ngọc L phải chịu án phí chia tài sản sau khi ly hôn với số tiền là 40.600.335 đồng trên giá trị số đất được nhận là 953.344.500 đồng, bà L nộp tạm ứng án phí với số tiền là 1.781.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0008154 ngày 25 tháng 5 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước được đối trừ, bà L phải nộp tiếp với số tiền là 38.819.335 đồng.

Ông Hà Văn V không phải chịu án phí, đã nộp tạm ứng án phí với số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006075 ngày 29 tháng 01 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước được nhận lại.

Bà Lê Thị T1 phải chịu án phí số tiền là 300.000 đồng, đã nộp tạm ứng án phí với số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0009066 ngày 21 tháng 4 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước, được đối trừ.

Án phí phúc thẩm: Ông Hà Văn V không phải chịu. Đã dự nộp được nhận lại.

[6] Ngoài ra cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm trong việc xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự. Quá trình thụ lý vụ án yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn và vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Khi tiến hành nhập vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào vụ án chia tài sản sau khi ly hôn thì nguyên đơn là bà Nguyễn Ngọc L, bị đơn là ông Nguyễn Văn S, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là ông Hà Văn V và bà Lê Thị T1 nhưng cấp sơ thẩm lai xác định ông Hà Văn V tham gia với tư cách là bị đơn là chưa phù hợp với quan hệ tranh chấp.

[7] Các Quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Chấp nhận kháng cáo của ông Hà Văn V. Sửa bản án sơ thẩm Hôn nhân và gia đình số 11/2024/HNGĐ-ST ngày 11/01/2024 của Toà án nhân dân huyện Cái Nước.

Căn cứ Các Điều 33, 38, 59 của Luật Hôn nhân và gia đình; Các Điều 500, 501, 502 Bộ Luật dân sự; Điều 27, 29 Nghị Quyết số 326 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Giao cho bà Nguyễn Ngọc L phần đất nuôi trồng thủy sản, diện tích đo đạc thực tế là 3.035,1m²( Giá trị 1.906.689.000 đồng), thửa số 67, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại khóm N, thị trấn C, huyện C, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 293752 ngày 14/8/2019 đứng tên ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Ngọc L tại vị trí mốc giới M1đến M6.

Vị trí tứ cận cụ thể: Hướng Đông giáp Rạch Cây H; Hướng Tây giáp phần đất Dương Minh H1; Hướng Nam giáp phần đất Nguyễn Văn T4; Hướng Bắc giáp phần đất Trần Văn T5 và Bùi Minh L2 (Kèm bảng vẽ hiện trạng).

Buộc bà Nguyễn Ngọc L có trách nhiệm giao cho ông Nguyễn Văn S ½ giá trị tài sản với số tiền là 953.344.500 đồng.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hà Văn V về việc công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hà Văn V và ông Nguyễn Văn S, đối với phần đất nuôi trồng thủy sản diện tích 6.588m², đo đạc thực tế là 7.364,5m² thửa số 291, tờ bản đồ số 01, tọa lạc tại ấp B, xã Đ, huyện C, tỉnh Cà Mau.

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T1 tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Hà Văn V và ông Nguyễn Văn S là vô hiệu.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Văn S phải chịu án phí chia tài sản sau khi ly hôn với số tiền là 40.600.335 đồng.

Bà Nguyễn Ngọc L phải chịu án phí chia tài sản sau khi ly hôn với số tiền là 40.600.335 đồng, bà L nộp tạm ứng án phí với số tiền là 1.781.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0008154 ngày 25 tháng 5 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước được đối trừ, bà L phải nộp tiếp với số tiền là 38.819.335 đồng.

Ông Hà Văn V không phải chịu án phí, đã nộp tạm ứng án phí với số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006075 ngày 29 tháng 01 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước được nhận lại.

Bà Lê Thị T1 phải chịu án phí số tiền là 300.000 đồng, đã nộp tạm ứng án phí với số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0009066 ngày 21 tháng 4 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước, được đối trừ.

Án phí phúc thẩm: Ông Hà Văn V không phải chịu. Đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0012803 ngày 24/01/2024 tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước được nhận lại.

Các Quyết định khác không có kháng cáo kháng nghị, phát sinh hiệu lực kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Cái Nước;
  • - Chi cục THADS huyện Cái Nước;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Hải Hà

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HNGĐ-PT ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn

  • Số bản án: 12/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa một phần bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger