|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15-5-2024
V/v: Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quản
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Đoàn Văn Tám
Ông Hoàng Tương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 11/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/5/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hồ Thị Tường V, sinh năm 1992
Địa chỉ thường trú: 1121 Spring Hollow R, AR G, Hoa Kỳ.
Địa chỉ liên hệ: Thôn H, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
- Bị đơn: Ông Ngô Đình T, sinh năm: 1995.
Địa chỉ: A đường L, phường P, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, nguyên đơn bà Nguyễn Hồ Thị Tường V trình bày:
Bà và ông Ngô Đình T tự tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận vào ngày 21 tháng 03 năm 2022. Sau khi kết hôn, bà và ông Ngô Đình T sống chung một thời gian thì bắt đầu phát sinh nhiều bất đồng trong quan điểm sống, hai vợ chồng không còn quan tâm tin tưởng nhau, tình cảm vợ chồng nhạt phai dù hai bên đã cố hàn gắn rất nhiều lần nhưng vẫn không giải quyết được. Mâu thuẫn giữa vợ chồng bà ngày càng căng thẳng và trầm trọng hơn. Thực tế vợ chồng không còn chung sống một thời gian. Sau khi suy nghĩ thấu đáo, bà nhận thấy hiện nay đời sống chung giữa bà và ông T không thể kéo dài thêm được nữa, nên bà làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Ngô Đình T.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân bà và ông Ngô Đình T không có con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời kỳ hôn nhân bà và ông Ngô Đình T không có tài sản chung và nợ chung nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Ngô Đình T trình bày: Ông và bà Nguyễn Hồ Thị Tường V tự nguyện tìm hiểu, yêu thương nhau và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 09/2022 ngày 21 tháng 03 năm 2022. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được 02 tháng thì bà V về lại Mỹ. Vợ chồng xa cách nhưng vẫn liên lạc, tuy nhiên khoảng 4 tháng sau thì cãi nhau, sau đó cả hai im lặng cho đến khi bà V làm đơn ly hôn. Nay bà V yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý, giữa vợ chồng ông mâu thuẫn đã không thể giải quyết được, tình cảm cũng không còn.
Về con chung: Quá trình chung sống, ông và bà V không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: ông và bà V không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:
1. Về tố tụng:
Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đúng thành phần như trong quyết định đưa vụ án ra xét xử. Cho đến trước khi nghị án Hội đồng xét xử và thư ký đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Các đương sự đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Về nội dung:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà V, bà V được ly hôn với ông T; về con chung, tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Bà V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên toà, căn cứ lời khai của đương sự và đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa, các đương sự vắng mặt nhưng đều có văn bản xin vắng. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
[2] Về nội dung:
[2.1] Theo lời khai của bà Nguyễn Hồ Thị Tường V thì sau khi kết hôn, vợ chồng bà sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng không còn quan tâm tin tưởng nhau, tình cảm nhạt phai dù hai bên đã cố hàn gắn rất nhiều lần nhưng vẫn không giải quyết được. Mâu thuẫn giữa vợ chồng bà ngày càng căng thẳng và trầm trọng hơn. Thực tế vợ chồng bà không còn chung sống một thời gian dài cho đến nay. Đối với yêu cầu ly hôn của bà V thì ông Ngô Đình T có văn bản thể hiện đồng ý ly hôn vì mâu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết được và tình cảm cũng không còn.
[2.2] Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Hồ Thị Tường V và ông Ngô Đình T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Hồ Thị Tường V, như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
[3] Về con chung: Bà Nguyễn Hồ Thị Tường V và ông Ngô Đình T không có con chung. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Hồ Thị Tường V khai vợ chồng bà không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét đến.
[5] Về án phí: Bà Nguyễn Hồ Thị Tường V là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 469, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 273, và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 19, Điều 51, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 123, khoản 2 Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình;
- - Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hồ Thị Tường V. Bà Nguyễn Hồ Thị Tường V được ly hôn với ông Ngô Đình T.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Hồ Thị Tường V phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0000143 ngày 24/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận. Bà Nguyễn Hồ Thị Tường V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn bà Nguyễn Hồ Thị Tường V vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định.
Bị đơn ông Ngô Đình T vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM/THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quản |
Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn
- Số bản án: 12/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Hồ Tương V khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh NGô Đình T
