Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH HÀ

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 12/2024/DS-ST

Ngày: 14/9/2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Đình Điềm
  2. Bà Lê Thị Yên

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 14/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 14/2024/TLST-DS ngày 04/4/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-DS ngày 05/8/2024 và quyết định hoãn phiên toà số 55 ngày 27/8/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1990

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1993.

- Người đại diện theo uỷ quyền của chị X: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1990.

Đều có địa chỉ: Thôn N, C, T, Hải Dương

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Ninh Văn L- Luật sư thuộc Văn Phòng L1- Đoàn luật sư tỉnh H.

Địa chỉ: Số C đường N, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương.

- Người làm chứng: Ông Tiêu Văn D, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn N, C, T, Hải Dương.

(Tại phiên tòa có mặt anh T, chị X, ông L; những người tham gia tố tụng khác vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, lời khai của nguyên đơn, vụ án có nội dung như sau:

Ngày 17/4/2020, vợ chồng anh T nhận chuyển nhượng QSD thửa đất số 206, tờ bản đồ 21 tại thôn N, xã C, huyện T từ vợ chồng ông Nguyễn Đức D1. Ngày 19/5/2020, vợ chồng anh đã được UBND huyện T cấp GCNQSD đối với đất này. Tại thời điểm mua đất, cạnh giáp đường đã có tường bao và 01 cửa ra vào. Thửa 206 nêu trên có nguồn gốc là của vợ chồng cụ K (ông bà nội anh Đ), sau khi vợ chồng cụ K chết, các hàng thừa kế thứ nhất của cụ K đã họp và thống nhất sang tên đất này cho vợ chồng ông Nguyễn Đức D1 (ông D1 là chú ruột anh Đ), sau đó vợ chồng ông D1 đã bán đất này cho vợ chồng anh. Do không đồng ý với việc ông D1 bán đất cho người ngoài nên ngày 14/1/2022, anh Nguyễn Văn Đ đã tự ý xây thêm tường bao tại cạnh phía Nam của thửa 206, vít lối ra vào đất này của vợ chồng anh. Đã nhiều lần anh yêu cầu anh Đ tháo dỡ tường bao nhưng anh Đ không thực hiện. Vì vậy anh khởi kiện đề nghị Toà án buộc anh Đ phải tháo dỡ tường bao, trả lại lối ra vào thửa đất cho gia đình anh. Anh chỉ đề nghị Toà án buộc anh Đ tháo dỡ tường phía sau cửa sắt. Còn các đoạn tường bao khác và cửa sắt anh đề nghị Toà án tuyên giao cho anh, anh tự nguyện trả cho anh Đ giá trị tài sản này theo giá mà hội đồng định giá đã xác định.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập bị đơn nhưng bị đơn không đến làm việc và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến nào cho Toà án.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị X uỷ quyền cho anh T trình bày quan điểm như quan điểm của nguyên đơn nêu trên.

* Người làm chứng là ông Tiêu Văn D trình bày toàn bộ tường bao và cổng sắt ở phía Nam của thửa 206 là do anh Đ làm.

* Kết quả thẩm định, định giá thể hiện: Thửa 206 có diện tích là 125m2; đoạn A2A3 gồm tường xây và cửa sắt (phía sau cửa đã xây tường bịt kín). Trong đó đoạn tường bao xây cũ cao 2m, dài 3,9m trị giá 292.000đ; tường bao mới xây (xây trồng lên tường cũ nêu trên) cao 0,85m, dài 3,9m trị giá 507.000đ; tường bao mới xây mới phía trên cổng cao 0,35m, dài 1,1m trị giá 59.000đ; tường bao xây mới sau cửa sắt cao 2,5m, rộng 1,1m trị giá 421.000đ; 01 cửa sắt trị giá 1.251.000₫.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

  • - Anh T, chị X trình bày và giữ nguyên ý kiến, quan điểm của họ như đã nêu trên.
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là Luật sư Ninh Văn L trình bày và xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện, ý kiến của nguyên đơn.

Đại diện VKSND huyện Thanh Hà phát biểu ý kiến: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (viết tắt: HĐXX) và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T: Buộc anh Đ phải tháo dỡ bức tường xây sau cánh cửa sắt nằm ở phía Nam giáp đường thôn xóm. Các đoạn tường còn lại và cửa sắt giao cho anh T tiếp tục quản lý, sử dụng, định đoạt; chấp nhận sự tự nguyện của anh T thanh toán cho anh Đ giá trị tài sản này. Về chi phí thẩm định, định giá và về án phí: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Tại phiên toà người làm chứng là ông D vắng mặt nhưng ông D đã có lời khai tại hồ sơ và trước đó ông D đã ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần nhưng vắng mặt không có lý do. Vì vậy Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn, người làm chứng theo quy định tại Điều 227, 229 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn tháo dỡ tường bao do bị đơn xây trên đất của nguyên đơn, trả lại lối ra vào thửa đất thuộc quyền sử dụng của vợ chồng nguyên đơn. Do đó Tòa án xác định quan hệ cần giải quyết trong vụ án là tranh chấp về quyền sử dụng đất.

[3]. Về nội dung khởi kiện

Bị đơn đã được Toà án triệu tập nhiều lần nhưng không đến làm việc theo giấy báo của Toà án. Tuy nhiên qua lời khai của nguyên đơn, cũng như kết quả xác minh tại địa phương và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX thấy: Thửa đất 206, tờ bản đồ số 21 tại thôn N, xã C, huyện T đã được cấp GCNQSD đất đứng tên anh T, chị X vào ngày 19/5/2020. Nguồn gốc đất này là do vợ chồng anh T nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông Nguyễn Đức D1. Hiện GCNQSD đất nêu trên của anh T, chị X đang có hiệu lực, không bị cơ quan nào thu hồi hay huỷ bỏ nên anh T, chị X được toàn quyền quản lý; khai thác, sử dụng và định đoạt đối với thửa đất này.

Theo kết quả thẩm định thì thửa đất 206 có cạnh phía Nam giáp đường thôn xóm- Đây cũng là lối duy nhất đi vào thửa đất trước đây nhưng hiện đã bị anh Đ xây tường bao dọc theo toàn bộ cạnh phía Nam của thửa đất này và xây vít cả cửa ra vào của thửa đất. HĐXX thấy việc anh Đ tự ý xây tường trên đất của nguyên đơn, bịt lối ra vào thửa đất của vợ chồng anh T là hành vi cản trở trái pháp luật quyền khai thác, sử dụng thửa đất của chủ sử dụng đất. Do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải tháo dỡ đoạn tường bao phía sau cửa sắt để trả lại lối đi vào thửa đất 206 cho vợ chồng anh T.

Đối với các đoạn tường bao còn lại và cửa sắt, anh T nhất trí xác định các tài sản này do anh Đ làm và đề nghị Toà án giao cho vợ chồng anh tiếp tục sử dụng; anh T, chị X tự nguyện thanh toán giá trị tài sản này cho anh Đ. Xét thấy đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn nên được HĐXX chấp nhận.

Mặc dù nguyên đơn trình bày lý do anh Đ xây tường bao như đã nêu trên, nhưng xét trong vụ án này không ai yêu cầu xem xét về hiệu lực giao dịch chuyển nhượng QSD đất giữa vợ chồng anh Đ và vợ chồng ông D1, hiệu lực GCNQSD đất của vợ chồng ông D1 cũng như GCNQSD đất của vợ chồng anh T đối với thửa 206, nên theo giới hạn của việc giải quyết vụ kiện, HĐXX không xem xét giải quyết các nội dung này. Sau này nếu đương sự nào có yêu cầu thì giành quyền khởi kiện cho đương sự bằng một vụ kiện khác.

[4] Về chi phí thẩm định, định giá tài sản: Tổng chi phí thẩm định, định giá tài sản tranh chấp trong vụ án này hết 7.200.000đ. Nguyên đơn tự nguyện chịu cả chi phí này, đến nay nguyên đơn đã nộp đủ và đề nghị Toà án không giải quyết về chi phí thẩm định, định giá, được HĐXX chấp nhận.

[5] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm vì nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện. Nguyên đơn phải chịu án phí trên số tiền phải thanh toán cho bị đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 6 Điều 12, Điều 166, Điều 203 Luật đất đai năm 2013, Điều 158, 161, 163, 164, Điều 169; khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Điều 227, Điều 229, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí, lệ phí; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
    • - Buộc anh Nguyễn Văn Đ phải tháo dỡ toàn bộ đoạn tường bao phía sau cửa sắt (tính từ điểm giáp mặt đất kéo lên trên đến hết tường bao) với chiều cao là 2,85m, rộng 1,1m.
    • - Các đoạn tường bao còn lại và cửa sắt giao cho anh Hoàng Văn T và chị Nguyễn Thị X tiếp tục quản lý, sử dụng, định đoạt. Chấp nhận sự tự nguyện của anh T, chị X thanh toán cho anh Đ giá trị tường bao được giao (trừ đoạn tường bao sau cửa sắt) trị giá 799.000đ và giá trị cửa sắt trị giá = 1.251.000đ; tổng là 2.050.000₫.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án khoản tiền trên mà người phải thi hành án chậm thi hành thì phải trả lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành được xác định theo khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  2. Về án phí: Anh Đ phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Anh T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ mà anh T đã nộp theo biên lai thu số 0001080 ngày 04/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà, anh T đã thực hiện xong nghĩa vụ về án phí.
  3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Thanh Hà;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/DS-ST ngày 14/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 12/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Theo kết quả thẩm định thì thửa đất 206 có cạnh phía Nam giáp đường thôn xóm- Đây cũng là lối duy nhất đi vào thửa đất trước đây nhưng hiện đã bị anh Đ xây tường bao dọc theo toàn bộ cạnh phía Nam của thửa đất này và xây vít cả cửa ra vào của thửa đất. HĐXX thấy việc anh Đ tự ý xây tường trên đất của nguyên đơn, bịt lối ra vào thửa đất của vợ chồng anh T là hành vi cản trở trái pháp luật
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger