|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH Bản án số: 12/2024/HSST Ngày 13-11-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Văn Hoan
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hiệp;
Ông Ngô Văn Lưu;
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Thao - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà:
Bà Trần Thị Thu Hòa - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13-11-2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2024/TLST-HS, ngày 24-10-2024, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-HS ngày 31-10-2024, đối với các bị cáo:
- Đinh Văn V, sinh năm 1992; HKTT: Tổ dân phố Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; Nơi ở: Khu X, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông Đinh Văn K, sinh năm 1966 và bà Bùi Thị T, sinh năm 1969;
Vợ là: Đặng Thị T1, sinh năm 1998; Con: có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/07/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B (Có mặt tại phiên tòa).
- La Văn S, sinh năm 1998; HKTT: Thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; Nơi ở: Khu A, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Tày; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông La Văn V1, sinh năm 1970 và bà Ma Thị T2, sinh năm 1969;
Vợ là: Chúc Thị D, sinh năm 2003; Con: có 01 con, sinh năm 2021;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 10/01/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng. Ngày 06/6/2020 chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/07/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B (Có mặt tại phiên tòa).
Người bào chữa cho bị cáo La Văn S:
Ông Nguyễn Văn H là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B (Vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị Ngọc L, sinh ngày 22/5/2006 có HKTT: Tổ dân phố N, xa H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở: Phòng 702 ở Số nhà B đường L, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:
Hồi 8 giờ 15 phút ngày 16/7/2024 tại Phòng 702 ở Số nhà B đường L, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh của Nguyễn Thị Ngọc L, sinh ngày 22/5/2006 có HKTT: Tổ dân phố N, xa H, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố B phối hợp với Công an phường V đã phát hiện, bắt quả tang Đinh Văn V, sinh năm 1992 có HKTT : Tổ dân phố Đ, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh và La Văn S, sinh năm 1998 có HKTT : thôn N, xã T, huyện C, tỉnh Tuyên Quang có hành vi tổ chức để cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Thời điểm này, tại phòng của Nguyễn Thị Ngọc L còn có L và Hà Thị M, sinh ngày 10/01/2007 có HKTT: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đang ngủ trên giường. Vật chứng thu giữ:
- + Tại kệ tủ cạnh giường ngủ, thẳng cửa ra vào có: 01 chiếc đĩa sứ màu trắng trên mặt đĩa có chứa chất bột màu trắng, 01 thẻ nhựa cứng màu cam và 01 chiếc ống hút được cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, trên bề mặt thẻ và ống hút đều bám dính chất bột màu trắng. Lực lượng Công an đã tiến hành niêm phong chiếc đĩa, thẻ nhựa và ống hút này vào túi nilon theo quy định.
- + Thu trên kệ tủ 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ và 01 chiếc loa màu đen nhãn hiệu LG, model No: PL7.
Lực lượng Công an đã tiến hành test ma túy đối với Đinh Văn V, La Văn S, Nguyễn Thị Ngọc L và Hà Thị M: Kết quả V và Sáng dương tính với ma túy Ketamine, L và M âm tính với ma túy.
Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra đã khám xét nơi ở của Đinh Văn V tại Khu X, phường V và nơi ở của La Văn S tại Khu A, phường Đ, thành phố B. Quá trình khám xét, không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Trên cơ sở quyết định trưng cầu giám định chất ma túy của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, tại bản Kết luận giám định số: 1717/KL-KTHS ngày 18/7/2024 của phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:
- - Chất bột màu trắng trên đĩa sứ màu trắng và chất bột màu trắng bám dính trên 01 thẻ nhựa cứng màu cam và bám dính trên 01 chiếc ống hút được cuốn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng bên trong túi nilon màu trắng gửi giám định có khối lượng là 1,1358 gam; là ma túy; Loại ma túy: Ketamine;
- Ketamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính Phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất”.
Với các tình tiết nêu trên tại Bản Cáo trạng số 258/CT - VKS-TPBN ngày 23/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố các bị cáo Đinh Văn V, La Văn S ra trước Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh để xét xử về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B và tại phiên tòa các bị cáo khai nhận như sau:
Đinh Văn V và La Văn S là bạn bè xã hội và đều là đối tượng thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy. Nguyễn Thị Ngọc L và Hà Thị M là bạn bè quen biết xã hội với V.
Khoảng 02 giờ ngày 16/7/2024, V rủ S đến phòng 702 của L chơi. Tại đây, L cùng V và S ngồi uống bia với nhau. Một lúc sau, Hà Thị M đến ngồi uống bia cùng V, S và L. Đến khoảng 04 giờ cùng ngày, cả bọn uống bia xong thì đi ngủ. L và M ngủ trên giường, còn V và Sáng ngủ dưới sàn nhà. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, V và S tỉnh dậy thì, V rủ S góp tiền đi mua ma túy “ke” về cùng sử dụng và bảo S đi mua ma túy, còn V ở nhà chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy. Do V không đem theo tiền nên đã bảo S bỏ tiền ra đi mua trước, nếu mua ma túy hết hơn 1.000.000 đồng thì V sẽ trả một nửa tiền cho S sau, còn nếu hết dưới 1.000.000 đồng thì S bỏ ra mà không cần V phải góp tiền. Sáng đồng ý và đi bộ đến khu vực B, phường V mua của một người thanh niên không quen biết 500.000 đồng được 01 túi nilon màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy “ke”. Sáng cầm túi ma túy về phòng 702. Khi S đi mua ma túy, V ở trong phòng đã chuẩn bị 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa màu cam, 01 chiếc bật lửa gas màu đỏ và dùng tờ tiền polime mệnh giá 10.000 đồng cuốn thành ống hút để ra sàn nhà và mở nhạc qua chiếc loa vi tính để ở sàn nhà đợi. Sau khi mua được ma túy, S cầm túi ma túy Vừa mua đưa cho V. Sau đó, V cầm túi ma túy và chiếc đĩa sứ cùng thẻ nhựa và chiếc bật lửa gas đi vào nhà vệ sinh, đổ số ma túy có trong túi nilon ra đĩa sứ rồi dùng bật lửa hơ nóng dưới đáy đĩa và dùng thẻ nhựa đảo mịn số ma túy có trên đĩa (xào ke), còn chiếc túi nilon không thì V bỏ vào bồn cầu xả nước cho trôi đi. Thời điểm này, M tỉnh dậy đi vệ sinh, V thấy M vào nhà vệ sinh liền cầm đĩa ma túy đi ra ngoài ngồi ở sàn nhà cạnh Sáng. M đi vệ sinh xong lên giường ngủ tiếp cùng L nên không biết V và S chuẩn bị sử dụng ma túy. V thấy M ngủ thì bỏ thẻ nhựa ra tiếp tục đảo ma túy trên đĩa rồi chia thành các đường nhỏ. Sau đó, V cầm ống hút cuốn từ tờ tiền hít 02 đường ma túy trên đĩa rồi đưa chiếc đĩa cho S. Sáng cầm chiếc đĩa ma túy sử dụng hai đường rồi để đĩa cùng các dụng cụ lên kệ tủ cạnh giường ngủ rồi cùng V nằm ở sàn nhà nghe nhạc. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, lực lượng Công an đã kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh thực hành quyền công tố giữ nguyên bản cáo trạng số 258/CT - VKS-TPBN ngày 23/10/2024 và sau khi cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, cũng như nhân thân của các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đinh Văn V và La Văn S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
Áp dụng khoản 1 điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt:
- Bị cáo Đinh Văn V từ 28 tháng đến 32 tháng tù. Thời hạn tù tính tạm giữ, tạm giam.
- Bị Cáo La Văn S từ 26 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính tạm giữ, tạm giam.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bật lửa ga màu cam và 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa màu cam và mẫu vật là ma túy còn lại sau giám định.
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 10.000 đồng bên trong gói niêm phong có mã tài sản: 111000014098A đang gửi ở Kho bạc Nhà nước Bắc Ninh theo biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản để bảo quản số 30/2024/BBBQ-KBBN ngày 19/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố B và Kho bạc Nhà nước B và 01 chiếc loa màu đen nhãn hiệu LG model NO: PL7 đã qua sử dụng.
Chủ tọa phiên tòa công bố luận cứ bào chữa cho bị cáo La Văn S cụ thể như sau: Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng người đúng tội, đúng pháp luật. Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng Kinh tế - Xã hội đặc biệt khó khăn, nên nhận thức pháp luật bị hạn chế; Bị cáo là người có nhân thân tốt, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử cho được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo S đồng ý với luận cứ bào chữa cho bị cáo, không bổ sung gì thêm.
Các bị cáo không tham gia tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Đã thực hiện đúng theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vậy các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với biên bản kiểm tra. Căn cứ lời khai nhận của bị cáo, biên bản kiểm tra, vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để kết luận:
Hồi 8 giờ ngày 16/7/2024 tại Phòng 702 ở Số nhà B, đường L, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, Đinh Văn V có hành vi khởi xướng việc đi mua ma túy về cùng sử dụng, chuẩn bị dụng cụ là chiếc đĩa sứ, thẻ nhựa, ống hút và xào ma túy, còn La Văn S là người cung cấp chất ma túy để tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy. Sau khi V và S sử dụng ma túy xong thì bị lực lượng Công an kiểm tra thu giữ 1,1358 gam ma túy Ketamine là ma túy còn lại mà V và S chưa kịp sử dụng hết.
Hành vi của các bị cáo Đinh Văn V, La Văn S đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự. Bản Cáo trạng số 258/CT - VKS-TPBN ngày 23/10/2024 của Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo: Đinh Văn V, La Văn S với tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng; xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, hành vi của bị cáo làm cho tệ nạn ma túy gia tăng, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ của người sử dụng, làm suy giảm nòi giống và làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước. Ma tuý cũng là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm hình sự khác. Các bị cáo là người đã trưởng thành và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo biết rõ tác hại và sự nguy hiểm về hành vi của bản thân, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm, do vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm mà mình đã thực hiện; Cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo để giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét tính chất của vụ án: Đây là vụ án có đồng phạm mang tính chất giản đơn.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo thấy: Bị cáo Đinh Văn V là người giữ vai trò chính trong vụ án, điều này thể hiện ở chỗ: Bị cáo V là người khởi xướng việc mua ma túy về để cùng sử dụng; là người chuẩn bị dụng cụ để sử dụng ma túy; Bị cáo La Văn S là người bỏ tiền ra và trực tiếp đi mua ma túy.
Xét về nhân thân của các bị cáo thì thấy: bị cáo Đinh Văn V là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự; Bị cáo La Văn S là người có nhân thân xấu. Các bị cáo phạm tội nghiêm trọng, do vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc cách li các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để cải tạo giáo dục các bị cáo thành người có ích cho xã hội.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:
Sau khi phạm tội, tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải do vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo Đinh Văn V có bà ngoại là người có công với Cách mạng, bị cáo S là người dân tộc, cư trú tại vùng Kinh tế - Xã hội đặc biệt khó khăn, do vậy các bị cáo V, Sáng được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Xét thấy các bị cáo là đối tượng nghiện hút, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
Lượng ma túy còn lại sau giám định là vật không được sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
Ngoài ra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B còn thu giữ 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ, 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ, 01 thẻ nhựa màu cam, 01 chiếc loa và 01 tờ tiền 10.000 đồng trong đó chiếc đĩa sứ, bật lửa ga và chiếc loa là của chị L; Trong quá trình điều tra, chị L không yêu cầu trả lại cho chị L, Xét thấy: Chiếc loa có giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước; Đối với 01 đĩa sứ, 01 chiếc bật lửa ga và 01 thẻ nhựa không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 tờ tiền có mệnh giá 10.000 đồng các bị cáo sử dụng làm ống hút ma túy, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với Nguyễn Thị Ngọc L là chủ phòng 702 và Hà Thị M có mặt tại phòng 702 khi V và S có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, quá trình điều tra xác định L và M không sử dụng ma túy, không biết V và S tổ chức sử dụng trái phộp chất ma túy tại phòng nên Cơ quan điều tra chỉ nhắc nhở là phù hợp.
Đối với người thanh niên đã bán ma túy cho S ở khu B, phường V, S không biết tên tuổi, địa chỉ của người này nên cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo Đinh Văn V phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật. Bị cáo La Văn S cư trú tại vùng Kinh tế - Xã hội đặc biệt khó khăn, nên miễn án phí cho bị cáo
X đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ, nên cần được chấp nhận. Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Đinh Văn V, La Văn S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH khóa 14 về thu nộp án phí, lệ phí.
Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt:
- - Bị cáo Đinh Văn V 28 (Hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/07/2024.
- - Bị cáo La Văn S 28 (Hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 16/07/2024.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tạm giam các bị cáo Đinh Văn V, La Văn S 45 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 13/11/2024 để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình.
Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ và 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, 01 thẻ nhựa màu cam và mẫu vật là ma túy còn lại sau giám định.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 10.000 đồng bên trong gói niêm phong có mã tài sản: 111000014098A đang gửi ở Kho bạc Nhà nước Bắc Ninh theo biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản để bảo quản số 30/2024/BBBQ-KBBN ngày 19/7/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố B và Kho bạc Nhà nước B và 01 chiếc loa màu đen nhãn hiệu LG model NO: PL7 đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24 tháng 10 năm 2024).
Về án phí: Bị cáo Đinh Văn V phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo La Văn S.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Văn Hoan |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Văn Hiệp Ngô Văn Lưu |
Vũ Văn Hoan |
Bản án số 12/2024/HSST ngày 13/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về hình sự - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 12/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh Văn V phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy xử phạt 28 tháng tù La Văn S phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy xử phạt 28 tháng tù
