Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN TRỤ

TỈNH LONG AN

Bản án số: 12/2024/HS-ST

Ngày: 13-6-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Thái.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Mai Thị Bỉ.
  2. Ông Võ Văn Thủ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Thủy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Trụ, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 10/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Minh H, sinh ngày 24 tháng 9 năm 1992 tại Long An;

Nơi đăng ký thường trú: Khu phố B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Long An.

Nơi ở hiện nay: 229, Huỳnh Châu S, khu phố X, phường F, thành phố T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L và bà Lê Thị H1; vợ: Phan Thị Bích P (đã ly hôn); Con: 01 người sinh năm: 2003.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 15/9/2023, bị Công an huyện M, tỉnh Long An xử phạt vi phạm hành chính theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 35/QĐ-XPHC về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng), đã chấp hành xong vào ngày 29/02/2024.

- Nhân thân: Ngày 10/01/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An xử phạt 06 tháng tù giam theo bản án số 02/2019/HSST, về tội “Chống người thi hành công vụ”, đã chấp hành xong.

Bị cáo được tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

* Bị hại: Ông Lương Văn C, sinh năm: 1959; Địa chỉ: Số nhà F, Ấp A, xã Q, huyện T, tỉnh Long An. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phạm Văn B, sinh năm: 1957; Địa chỉ: 2, ấp E, xã L, huyện T, tỉnh Long An. Vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị Cẩm N, sinh năm: 1998; Địa chỉ: B, Huỳnh Châu S, khu phố X, phường F, thành phố T, tỉnh Long An. Có mặt.
  3. Bà Đoàn Thị Ngọc H2, sinh năm: 1992; Địa chỉ: B, ấp B, xã L, huyện T, tỉnh Long An. Vắng mặt.
  4. Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm: 2003; Địa chỉ: B, Huỳnh Châu S, Khu phố X, phường F, thành phố T, tỉnh Long An. Vắng mặt.
  5. Ông Nguyễn Tuấn Thanh N2, sinh năm: 2006; Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện T, tỉnh Long An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Cẩm N với Đoàn Thị Ngọc H2 có quen biết và chơi chung với nhau. Đến khoảng giữa năm 2022, H2 giới thiệu với N có người chị tên Lương Thị Kim H3, ở xã L, huyện T, tỉnh Long An làm chủ hụi uy tín nên N tham gia chơi hụi và hàng tháng đưa tiền cho H2 nhờ đóng dùm. Tuy nhiên, khi dây hụi mãn thì chị H3 không giao tiền hụi cho N. N có đến nhà tìm chị H3 đòi tiền nhiều lần nhưng không gặp. Do N biết được chị H3 cũng còn thiếu tiền đóng hụi của H2 nên ngày 26/12/2023, N nhắn tin cho H2 rủ đến nhà chị H3 để đòi tiền hụi thì H2 đồng ý.

Khoảng 15 giờ ngày 26/12/2023, Nguyễn Thị Cẩm N điều khiển xe mô tô loại Future FI biển số 62B1-716.88 từ thành phố T đến nhà Đoàn Thị Ngọc H2 và chở H2 đến nhà ông Lương Văn C (cha ruột của chị H3), ở xã Q, huyện T, tỉnh Long An để tìm chị H3 đòi tiền hụi. Tuy nhiên, khi đến nơi thì không gặp và người nhà cho biết chị H3 đã về nhà chồng ở xã L, huyện T, tỉnh Long An. Lúc này, N tiếp tục điều khiển xe mô tô biển số 62B1-716.88 chở H2 đến nhà của ông Phạm Văn B (cha chồng của chị H3), ở xã L, huyện T, tỉnh Long An để tìm chị H3. Trên đường đi, N gọi điện thoại cho em ruột tên Nguyễn Văn N1 và nói N1 rủ thêm Trần Minh H và Nguyễn Tuấn Thanh N2, cùng đi đến để phụ canh chị H3 về gặp đòi tiền hụi.

Khi đến đầu đường bê tông vào nhà ông Phạm Văn B thì N và H2 đứng chờ. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, N1, H và N2 đi trên 02 xe mô tô đến gặp N và H2. Sau đó, cả 05 người đi đến nhà của ông Phạm Văn B thì cửa nhà trên đóng, chỉ mở cửa sau phía hành lang. N đi vòng ngoài hành lang nhìn vào nhà nhưng không thấy chị H3. Lúc này, giữa ông B và N xảy ra mâu thuẫn, cự cãi, N cho rằng gia đình ông B giấu chị H3 không cho gặp nên N kêu N1 đập cửa nhà ông B. Khi đó, N1 dùng gậy 3 khúc bằng sắt (mang theo sẵn) đập vào ô cửa kính khung nhôm nhà ông B làm bể kính cửa. Sau đó, N cùng nhóm người đi chung lên xe mô tô di chuyển đến nhà của ông Lương Văn C (cha ruột của chị H3) để tìm chị H3. Khi đến nhà ông C là khoảng 17 giờ cùng ngày, N cùng H2 đi ra phía sau nhà để tìm chị H3; còn N1, H, N2 đứng ở trước sân. Do tìm không gặp chị H3 mà chỉ gặp bà nội chị H3 nên N có cự cãi với bà nội chị H3 về việc gia đình giấu chị H3. Lúc này, ở nhà trước N1 và H đã dùng gậy 3 khúc đập phá 02 cửa kính khung nhôm và H còn gỡ 01 cánh cửa nhôm quăng xuống hành lang nhà ông C gây hư hỏng. Nghe phía trước có tiếng đập phá cửa kính nên N đi lên, thấy 01 đoạn cây có sẵn ở sân nhà ông C nên N nhặt đoạn cây này ném vào cửa kính nhà ông C. Sau đó, cả nhóm điều khiển xe mô tô đi về.

Sau khi nhận được tố giác của ông Phạm Văn B, Công an xã L phối hợp Công an xã Q tiến hành kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, đồng thời báo cáo về Công an huyện T hỗ trợ truy xét mời làm việc những người có liên quan.

Qua kiểm tra tài sản bị thiệt hại như sau:

Tài sản bị đập phá hư hỏng tại nhà ông Phạm Văn B gồm:

  • - 05 (năm) ô kính cửa kích thước (0,2x0,7)m của cửa kính khung nhôm bị bể, loại kính 8mm, màu nâu;
  • - 01 (một) thanh nhôm loại Tung-K bị hư hỏng.

Tài sản bị đập phá hư hỏng tại nhà ông Lương Văn C gồm:

  • - 07 (bảy) ô kính cửa kích thước (0,2x0,4)m của cửa kính khung nhôm bị bể, loại kính 4mm, màu trắng;
  • - 01 (một) ô kính cửa của cửa kính khung nhôm bị bể, loại kính 4mm, màu nâu;
  • - 06 (sáu) thanh nhôm loại Tung-Kang loại 0,14mm bị cong, hư hỏng.

Qua làm việc Nguyễn Thị Cẩm N, Nguyễn Văn N1, Trần Minh H thừa nhận hành vi đập bể kính cửa nhôm tại nhà ông Phạm Văn B và ông Lương Văn C như đã nêu trên nhưng không có sự bàn bạc, thống nhất trước với nhau. Riêng, Đoàn Thị Ngọc H2 và Nguyễn Tuấn Thanh N2 chỉ đi cùng nhóm người trên, không tham gia thực hiện hành vi đập phá tài sản tại nhà ông Phạm Văn B và ông Lương Văn C.

Tại Kết luận hội đồng định giá tài sản số 01/KL-HĐĐG ngày 03/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện T kết luận về giá trị tài sản bị thiệt hại đối với tài sản bị hư hỏng của ông Phạm Văn B là 600.000 đồng (sáu trăm ngàn đồng) và của ông Lương Văn C là 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm ngàn đồng). Tổng giá trị tài sản thiệt hại là 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm ngàn đồng).

Đối với Trần Minh H đã có 01 tiền sự: Ngày 15/9/2023, bị Công an huyện M xử phạt vi phạm hành chính theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 35/QĐ-XPHC về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản số tiền 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng), đã chấp hành xong vào ngày 29/02/2024.

Tại Cáo trạng số 11/CT-VKSTTr ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ đã truy tố Trần Minh H về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như cáo trạng đã nêu. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Minh H từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu cho tiêu hủy 01 (một) cây gậy 3 khúc bằng sắt có lõi kim loại màu trắng và 01 (một) đoạn cây gỗ dài 60 cm, đường kính 05 cm. Vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã được sửa chữa lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì nên không đề cập xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Phạm Văn B, Đoàn Thị Ngọc H2, Nguyễn Văn N1 và Nguyễn Tuấn Thanh N2 vắng mặt nhưng trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của các đương sự nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[3] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản bị thiệt hại, biên bản thu giữ tài liệu, đồ vật và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở đó có đủ căn cứ xác định: Trần Minh H đã có 01 tiền sự về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, chưa chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Vào ngày 26/12/2023, H cùng với Nguyễn Thị Cẩm N, Nguyễn Văn N1, tại nhà của ông Lương Văn C, thuộc ấp A, xã Q, huyện T, tỉnh Long An, đã đập phá làm hư hỏng tài sản là cửa nhôm có gắn kính, giá trị thiệt hại theo định giá 1.300.000 đồng (một triệu ba trăm ngàn đồng). Do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Trụ truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[5] Xét thấy, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức được mọi hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người khác sẽ bị pháp luật nghiêm trị nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của công dân mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Khi lượng hình cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để có hình phạt tương xứng. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi; bị cáo có cha ruột và em ruột được tặng nhiều huy chương chiến sĩ vẻ vang và giấy khen của ngành Công an; bị hại đã làm đơn bãi nại cho bị cáo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo Điều 52 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có nhân thân không tốt nên cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo trở thành công dân tốt như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình của Nguyễn Thị Cẩm N đã sửa chửa khắc phục các thiệt hại và không có yêu cầu bị cáo hoàn trả lại chi phí. Tại phiên tòa ông C không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập xem xét.

[7] Đối với hành vi đập phá tài sản của Nguyễn Văn N1, Nguyễn Thị Cẩm N, tổng tài sản thiệt hại là 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm ngàn đồng) chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” nên Cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự, chuyển sang xử lý hành chính là phù hợp.

[8] Về vật chứng: Quá trình điều tra đã thu giữ 01 cây gậy 3 khúc bằng sắt có lõi kim loại màu trắng và 01 đoạn cây gỗ dài 60 cm, đường kính 05 cm, đây là vật chứng trong vụ án, do đó cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tuyên tịch thu cho tiêu hủy.

Ngoài ra trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra có thu giữ những tài sản của bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, quá trình điều tra đã làm rõ không có liên quan đến việc phạm tội nên đã giao trả cho các chủ sở hữu, nên không xem xét.

[9] Về án phí: Bị cáo Trần Minh H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh H phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 178; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Trần Minh H 06 (sáu) tháng tù. Thời gian tù được tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 cây gậy 3 khúc bằng sắt có lõi kim loại màu trắng và 01 đoạn cây gỗ dài 60 cm, đường kính 05 cm.

Các vật chứng trên đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 20 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Trụ, tỉnh Long An.

- Về án phí: Bị cáo Trần Minh H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Tân Trụ;
  • - Công an huyện Tân Trụ;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Trụ;
  • - Bị cáo;
  • - Người TGTT khác;
  • - Lưu hồ sơ, lưu án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Thái

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Mai Thị Bỉ - Võ văn Thủ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN về cố ý làm hư hỏng tài sản

  • Số bản án: 12/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN TRỤ, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Minh Hải phạm tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger