|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LANG CHÁNH TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 11/7/2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LANG CHÁNH, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Minh Tuân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Xuân Long
2. Ông Lê Đình Phát
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Khánh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lang Chánh tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Đạt - Kiểm sát viên
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 14/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 11/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27/6/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1990
Địa chỉ: Thôn 10, xã B, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
* Bị đơn: Anh Lê Phi Q, sinh năm 1976
Địa chỉ: Khu phố O, thị trấn L, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên toà chị Nguyễn Thị T vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Lê Phi Q vắng mặt (lần 2) không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 23/4/2024, Bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Q tự nguyện kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Quang H (nay là thị trấn L), huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 25/10/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và cách nuôi dạy con. Khi xảy ra mâu thuẫn đã được hai bên gia đình động viên khuyên bảo để vợ chồng hàn gắn hạnh phúc với nhau nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn trầm trọng và không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên chị T và anh Q đã ly thân nhau từ cuối năm 2015 đến nay. Trong thời gian ly thân, chị T chuyển về sinh sống tại nhà bố mẹ đẻ tại thôn 10, xã B, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa, từ đó chị T và anh Q không còn gặp nhau, không liên lạc và không còn quan tâm đến nhau nữa. Xác định mâu thuẫn đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Q.
Về con chung: Chị và anh Q có một con chung là Lê Phi M, sinh ngày 29/11/2012. Lâu nay cháu M vẫn đang sống cùng với anh Q, phát triển bình thường về thể chất và trí tuệ, đang ăn học ổn định tại thị trấn L, huyện Lang Chánh. Khi ly hôn, chị đề nghị giao cháu M cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng, chị không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản và công nợ: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Chị T đề nghị chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
* Đối với bị đơn anh Lê Phi Q: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã giao thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng cho anh Q (qua người thân là mẹ đẻ anh Q) nhưng anh Q cố tình vắng mặt, không có lời khai trong hồ sơ mà chỉ thể hiện ý kiến của mình qua người thân, không đến Tòa án để thực hiện việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Do đó, Tòa án chỉ tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đối với nguyên đơn mà không tiến hành hòa giải được. Tòa án cũng đã giao Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng phiên tòa ngày 27/6/2024 anh Q vắng mặt nên Hội đồng xét xử (HĐXX) quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Tại phiên tòa hôm nay, anh Q vẫn vắng mặt nên HĐXX quyết định xét xử vắng mặt.
* Tại Bản ý kiến ngày 03/5/2024, cháu Lê Phi M trình bày: Nếu bố mẹ phải ly hôn thì nguyện vọng của cháu xin tiếp tục được ở với bố vì cháu đã quen sống với bố và ông bà nội, được bố và ông bà nội chăm sóc cháu rất tốt.
* Tại biên bản làm việc ngày 17/5/2024, bà Phạm Thị K là mẹ đẻ của anh Q cho biết: Anh Q làm lao động tự do mấy ngày mới về nhà và toàn về vào buổi tối nên anh không có thời gian đến Tòa án được. Quan điểm của anh Q là vợ chồng đã ly thân nhiều năm nay, không còn quan tâm, không thương yêu nhau nữa nên anh cũng nhất trí ly hôn. Đối với con chung là cháu Lê Phi M lâu nay đang sinh sống, ăn học ổn định với bên nội nên anh đề nghị tiếp tục được trực tiếp nuôi cháu M để cháu tiếp tục đi học và ổn định cuộc sống. Về tài sản anh Q không yêu cầu giải quyết.
* Do vụ án có liên quan đến người chưa thành niên nên Tòa án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo quy định tại khoản 3 Điều 208 BLTTDS.
* Tại biên bản xác minh ngày 17/5/2024, bà Phạm Thị V - Trưởng khu phố O, thị trấn L cho biết:
- Về hôn nhân: Về thời gian và điều kiện kết hôn như chị T trình bày là đúng. Kể từ năm 2015 chị T không còn chung sống với anh Q tại khu phô O, thị trấn L. Việc chị T và anh Q mâu thuẫn và nguyên nhân mâu thuẫn như thế nào thì địa phương không nắm được cụ thể. Nay chị T xin ly hôn thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
- Về con chung: Chị T, anh Q có một con chung như chị T trình bày là đúng. Từ khi còn nhỏ đến nay cháu M vẫn đang ăn học, phát triển ổn định với anh Q tại khu phố O, thị trấn L. Nếu giao cháu M cho anh Q tiếp tục lo cho ăn học, phát triển ổn định như lâu nay là phù hợp.
- Về tài sản và công nợ: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên địa phương không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
* Ý kiến của đại diện VKSND huyện Lang Chánh:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của của BLTTDS.
Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ- UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, xử:
+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Lê Phi Q.
+ Về con chung: Giao cho anh Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Phi M, sinh ngày 29/11/2012, chị T phải cấp dưỡng nuôi con 1.500.000₫ đến 2.000.000đ/tháng đến khi cháu M đủ 18 tuổi, chị Tâm có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
+ Về án phí: chị T phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và án phí cấp dưỡng 300.000 đồng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Ý kiến của nguyên đơn trong các bản tự khai; ý kiến của đại diện VKSND; HĐXX nhận định:
[1]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho chị Nguyễn Thị T và anh Lê Phi Q các văn bản tố tụng của Tòa án; chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Q vắng mặt 02 lần không có lý do nên HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 BLTTDS, tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh Q.
[2]. Thẩm quyền giải quyết: Đơn khởi kiện của nguyên đơn đã làm đúng theo mẫu quy định, nội dung khởi kiện phù hợp với khoản 1 Điều 28 của BLTTDS; Bị đơn có nơi cư trú tại khu phố O, thị trấn L, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Lang Chánh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS.
[3]. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T và anh Lê Phi Q tự nguyện kết hôn ngày 25/10/2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Q (Nay là thị trấn L), huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa. Vì vậy, hôn nhân giữa chị T và anh Q là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật HNGĐ năm 2014. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống và cách nuôi dạy con. Khi xảy ra mâu thuẫn đã được hai bên gia đình động viên khuyên bảo để vợ chồng hàn gắn hạnh phúc với nhau nhưng không có kết quả. Nay xác định không thể sống chung được với nhau nữa nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Lê Phi Q.
Qua chứng cứ do nguyên đơn cung cấp đó là Đơn khởi kiện; Bản tự khai và các văn bản như Biên bản làm việc; Biên bản xác minh lấy ý kiến của Trưởng khu phố O, thị trấn L mà Tòa án thu thập, HĐXX có đủ cơ sở xác định tình trạng mâu thuẫn hôn nhân của chị T, anh Q thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nay chị T đề nghị xin ly hôn anh Q, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật HNGĐ năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T về việc xin ly hôn anh Lê Phí Q.
[4]. Về con chung: Chị Nguyễn Thị T và anh Lê Phí Q có một con chung là Lê Phi M, sinh ngày 29/11/2012. Khi ly hôn, chị T đề nghị giao con cho anh Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc; Chị không cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh Q.
Qua các tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã cung cấp và kết quả xác minh của Tòa án, HĐXX thấy rằng, việc giao con chung cho chị T hay anh Q trực tiếp nuôi dưỡng phải xem xét tất cả các điều kiện liên quan đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng nhằm đảm bảo cho việc phát triển tốt nhất cho cháu M.
Xét nguyện vọng của chị T về trách nhiệm nuôi con, HĐXX thấy rằng: Thực tế lâu nay cháu Lê Phi M đang sinh sống, học tập ổn định cùng anh Q tại thị trấn L, huyện Lang Chánh. Hơn nữa, cháu M đã trên bảy tuổi, tại bản ý kiến ngày 03/5/2024 cháu có nguyện vọng xin được ở với anh Q. Do đó, giao cháu M cho anh Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cũng phù hợp với thực tế và tốt hơn cho sự phát triển của cháu, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc buộc chị T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: HĐXX thấy rằng, anh Q làm lao động tự do, thu nhập không ổn định. Xét thấy cha mẹ có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên và theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình quy định việc cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Do vậy, chị T không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ phải cấp dưỡng cho con để đảm bảo sinh hoạt, học tập cho cháu M khi ở với anh Q. Việc đề nghị HĐXX buộc chị T phải cấp dưỡng cho cháu M mức cấp dưỡng từ 1.500.000₫ đến 2.000.000đ/tháng đến khi cháu M đủ 18 tuổi để cháu M có đủ điều kiện ăn uống, học tập tốt nhất nên cần xem xét chấp nhận. Tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn mức cấp dưỡng do Tòa án quyết định nhưng không thấp hơn một nửa tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con. Hiện nay, mức lương tối thiểu vùng nơi chị T đang cư trú là 3.450.000đ/tháng. Do đó, HĐXX xem xét buộc chị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với cháu M mỗi tháng là 1.800.000đ/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi cháu đủ 18 tuổi là phù hợp.
[5]. Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[6]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T là nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm về ly hôn và án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của BLTTDS;
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; các Điều 57; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị T.
- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T được ly hôn anh Lê Phi Q.
- Về con chung: Giao cho anh Lê Phi Q có quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Lê Phi M, sinh ngày 29/11/2012. Chị T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với cháu M mỗi tháng là 1.800.000đ (Một triệu tám trăm nghìn đồng)/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 7 năm 2024 cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi.
Chị Nguyễn Thị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí DSST thẩm về việc ly hôn và 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung. Tổng cộng là 600.000₫ (Sáu trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) chị T đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0006622 ngày 25/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa; chị T còn phải tiếp tục nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T, anh Lê Phi Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Minh Tuân |
Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LANG CHÁNH, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 12/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LANG CHÁNH, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Tâm xin ly hôn anh Lê Phi Quý và yêu cầu giải quyết về con chung
