|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH AN TỈNH CAO BẰNG Bản án số: 12/2024/HS-ST Ngày: 11/6/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH AN - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Mai
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Văn Giang
2. Ông Vương Thành Tuân
Thư ký phiên tòa: Bà Nông Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Bế Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2024/HSST ngày 10 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST- HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số: 44/2024/TB-XX ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng đối với các bị cáo:
1. Nông Ngọc S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 25/4/1977 tại xã L, huyện T, tỉnh Cao Bằng; ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12 phổ thông; Con ông: Nông Duy H - sinh năm 1940; Con bà: Nông Thị L - sinh năm 1942; Cùng ĐKHKTT: tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Anh chị em: Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Bế Thị H1 - sinh năm 1980; ĐKHKTT: tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2012.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 27/9/2007, Toà án nhân dân thị xã Cao Bằng (nay là Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng), tỉnh Cao Bằng xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2023 đến nay. Hiện nay, đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.
2. Triệu Đức T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 24/8/1982 tại N - L cũ nay là thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: N, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12 phổ thông; Con ông: Triệu Trung N - sinh năm 1950; Con bà: Chu Thị S1 - sinh năm 1957; Cùng ĐKHKTT: N, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Anh chị em: Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con út trong gia đình; Vợ, con: Chưa có.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Ngày 13/11/2023, Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Nhân thân: Ngày 28/11/2014, Toà án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2023 đến nay. Hiện nay đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.
3. Nông Đức P; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 09/9/1987 tại xã V, huyện T, tỉnh Cao Bằng; ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Dân tộc: Tày; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12 phổ thông; Con ông: Nông Đức T1 - sinh năm 1960; Con bà: Nông Thị L1 - sinh năm 1961; Cùng ĐKHKTT: tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Anh chị em: Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Vợ: Hoàng Ngọc H2, sinh năm 1988 (đã ly hôn); Con: 01 con sinh năm 2013.
Tiền sự: Không.
Tiền án: Không.
Nhân thân: Ngày 10/7/2020, Toà án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng.
- Ngày 23/11/2018, Công an huyện H, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2023 đến nay. Hiện nay, đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bế Thị H1; sinh năm: 1980; Địa chỉ: tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bản thân nghiện ma túy từ năm 2010 nên khoảng 11 giờ ngày 28/12/2023, Nông Ngọc S (sinh năm 1977; địa chỉ: tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng) gọi điện thoại cho Triệu Đức T (sinh năm 1982; địa chỉ: N, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng) rủ T góp tiền mỗi người 500.000,₫ (năm trăm nghìn đồng) để S lên thành phố C mua ma túy. Lúc này, T đang uống nước tại quán nước đầu cầu rẽ vào Chợ Đ (thuộc thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng). T trả lời là “chưa đủ tiền, khi nào đủ tiền sẽ gọi S”. Thời điểm này tại quán nước có mặt Nông Đức P (sinh năm 1987; địa chỉ: tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng) nên T đã rủ P góp mỗi người 250.000,₫ (hai trăm năm mươi nghìn đồng) để đưa cho S đi mua ma túy. P đồng ý và đưa cho T số tiền 250.000,₫ (hai trăm năm mươi nghìn đồng). Sau khi T và P góp đủ số tiền 500.000,₫ (năm trăm nghìn đồng) T gọi điện cho S xuống quán nước lấy số tiền 500.000,₫ (năm trăm nghìn đồng). Sau khi lấy được tiền với T, S đi xe ô tô từ thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng đến khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh C mua với một người đàn ông không quen biết 01 (một) gói ma túy được gói trong giấy kẻ ngang với số tiền 1.000.000,₫ (một triệu đồng). Sau khi mua được ma túy S điều khiển xe ô tô đem theo ma túy trở về nhà. Khi đến C, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang thu giữ tang vật gồm: số tiền 295.000,đ (hai trăm chín mươi lăm nghìn đồng); 01 (một) gói giấy trắng, dòng kẻ ngang, bên trong có cục bột màu trắng; 01 (một) xe ô tô nhãn hiệu KIA MORNING, biển kiểm soát: 29A - 960.09; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 686124 tên chủ xe Đặng Ngọc A; 01 (một) căn cước công dân mang tên Nông Ngọc S; 01 (một) giấy phép lái xe B2 mang tên Nông Ngọc S; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme 5; 01 (một) thẻ ngân hàng Al mang tên Nông Ngọc S; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số DA 4348996; 01 (một) chìa khoá xe ô tô màu đen bạc đã qua sử dụng.
Ngày 28/12/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phối hợp các cơ quan chức năng tiến hành cân xác định khối lượng chất bột màu trắng (nghi là heroine) thu giữ của Nông Ngọc S có khối lượng là 0,75g (không phảy bảy mươi lăm gam). Cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An tiến hành khám xét đối với chỗ ở của Nông Ngọc S, kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Ngày 02/01/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số: 02/QĐ trưng cầu Phòng K công an tỉnh C giám định số ma túy thu giữ của Nông Ngọc S. Tại bản kết luận giám định số: 89/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: "Chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là D”.
Hành vi của Nông Ngọc S, Triệu Đức T, Nông Đức P đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại bản Cáo trạng số: 05/CT-VKSTA ngày 08/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng truy tố các bị cáo Nông Ngọc S, Triệu Đức T, Nông Đức P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo Nông Ngọc S, Triệu Đức T, Nông Đức P thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo không có ý kiến và nhất trí với khối lượng ma túy bị thu giữ cũng như kết luận giám định số: 89/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh C.
- Bị cáo Nông Ngọc S khai nhận: Bị cáo gọi điện thoại cho bị cáo T bằng chiếc điện thoại Realme 5 để rủ góp tiền mua ma túy. Ma túy mua về sẽ được chia theo tỷ lệ tiền góp. Bị cáo là người trực tiếp đi mua ma túy. Bị cáo không biết số tiền 500.000,₫ (năm trăm nghìn đồng) bị cáo T đưa cho bị cáo có 250.000,₫ (hai trăm năm mươi nghìn đồng) của bị cáo P. Bố mẹ bị cáo sau khi nhận được khoảng 180.000.000,₫ (một trăm tám mươi triệu đồng) tiền bồi thường thu hồi đất đã cho vợ chồng bị cáo để mua ô tô phục vụ gia đình (đưa bố mẹ đi khám chữa bệnh). Số tiền được cho mới đầu bị cáo mua ô tô nhãn hiệu Lacettiđó bị cáo bán để mua chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA MORNING, biển kiểm soát: 29A - 960.09 với giá 148.000.000,₫ (một trăm bốn mươi tám triệu đồng). Việc bố mẹ bị cáo cho tiền không có giấy tờ gì. Do chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA MORNING được mua bằng tiền của bố mẹ bị cáo cho nên bị cáo đề nghị trả lại chiếc xe cho bố mẹ bị cáo. Chiếc xe máy biển kiểm soát 11F9-6557 là xe của vợ bị cáo mua năm 2008 khi bị cáo đang đi chấp hành án. Bị cáo đề nghị trả lại cho vợ bị cáo chiếc xe này. Số tiền 295.000,₫ (hai trăm chín mươi lăm nghìn đồng) là tiền ăn hỗ trợ của con bị cáo. Bị cáo không có ý kiến gì về số tiền này.
- Bị cáo Triệu Đức T khai nhận: Khi bị cáo S rủ bị cáo góp tiền mua ma túy bị cáo không có đủ tiền nên mới rủ bị cáo P cùng góp tiền. Bị cáo P đã đưa cho bị cáo số tiền 250.000,₫ (hai trăm năm mươi nghìn đồng). Bị cáo S là người chủ động gọi điện thoại cho bị cáo để rủ góp tiền mua ma túy. Bị cáo nhận điện thoại của bị cáo S bằng chiếc điện thoại N1 bị thu giữ. Bị cáo không có ý kiến gì về chiếc điện thoại này. Bị cáo chấp hành xong bản án năm 2014 của Tòa án nhân dân huyện Thạch An vào tháng 02/2020.
- Bị cáo Nông Đức P khai nhận: Bị cáo được đưa số tiền 250.000,₫ (hai trăm năm mươi nghìn đồng) cho bị cáo T để mua ma túy. Bị cáo vô tình gặp bị cáo T chứ không hẹn trước. Bị cáo không bị thu giữ đồ vật, tài sản gì.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bế Thị H1 trình bày: Chiếc xe máy biển kiểm soát 11F9-6557 đứng tên bà. Chiếc xe này bà vay Ngân hàng để mua khi bị cáo S đang đi chấp hành án. Bà đề nghị trả lại chiếc xe này cho bà. Chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA MORNING được mua bằng tiền bố mẹ chồng bà cho sau khi nhận tiền bồi thường thu hồi đất. Số tiền này bố mẹ chồng bà cho cả hai vợ chồng bà. Khi cho không có giấy tờ gì. Chiếc xe ô tô được mua không dùng để chạy dịch vụ taxi mà dùng để đưa đón bố mẹ chồng bà. Bà đề nghị trả chiếc xe ô tô cho gia đình bà. Số tiền 295.000,₫ (hai trăm chín mươi lăm nghìn đồng) là tiền hỗ trợ của con bà do cư trú tại vùng III.
- Trong quá trình điều tra, ông Nông Duy H có ý kiến: Vào đầu năm 2019, sau khi nhận được tiền đền bù đất đai, tài sản, hoa màu công trình đường T khoảng 180.000.000,₫ (một trăm tám mươi triệu đồng) ông đã cho S (con trai ông) mua ô tô để phục vụ gia đình đi lại và đưa vợ chồng ông đi khám chữa bệnh. Sau đó, S đã cầm tiền đi mua ô tô tại Lạng Sơn (chiếc xe màu đen). Sau khi sử dụng một thời gian S lại bán chiếc xe này đi và mua một chiếc xe ô tô khác. Chiếc xe ô tô mà S sử dụng đi mua ma túy có nguồn gốc từ số tiền mà ông cho S vào năm 2019. Do chiếc xe này chỉ phục vụ vào quá trình sinh hoạt hàng ngày và dùng để đưa vợ chồng ông đi khám chữa bệnh không phải mua về để nhằm mục đích vi phạm và cũng không phải là tài sản do vi phạm pháp luật mà có. Vì vậy, gia đình ông mong các cơ quan chức năng xem xét tạo điều kiện để trả lại chiếc xe cho gia đình để có phương tiện đi lại.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Nông Ngọc S, Triệu Đức T, Nông Đức P và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nông Ngọc S, tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Triệu Đức T, tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo mức án từ 17 tháng đến 23 tháng tù.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nông Đức P, tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo mức án từ 17 tháng đến 23 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi số 89/KL-KTHS, hoàn mẫu sau giám định vụ Nông Ngọc S có hành vi tàng trữ trái phép chấ ma tuý bắt ngày 28/12/2023.
+ Tịch thu, phát mại sung công quỹ nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen (điện thoại bàn phím số), điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc điện thoại đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi 01 điện thoại di động của Nông Ngọc S; ½ giá trị chiếc xe ô tô biển kiểm soát 29A – 960.09, nhãn hiệu: KIA MORNING; màu sơn: trắng, có số khung: RNYTB51M5DC039155; số máy: G4LADP050339, xe cũ đã qua sử dụng. kèm theo giấy tờ xe gồm: 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 686124 tên chủ xe Đặng Ngọc A; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số DA 4348996; 01 (một) chìa khoá xe ô tô màu đen bạc đã qua sử dụng.
+ Trả lại cho bà Bế Thị H1 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 11F9 – 6557, nhãn hiệu: YAMAHA; số loại: SIRIUS F1; màu sơn: đen, bạc; loại xe: hai bánh từ 50-175cm3, có số khung: RLCS5C6308Y052084, số máy: 5C63052084, xe cũ đã qua sử dụng.
+ Trả lại cho bị cáo Nông Ngọc S: 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Nông Ngọc S; 01 (một) thẻ ngân hàng A1, có số thẻ: 9704053040252537 mang tên Nông Ngọc S; 01 (một) giấy phép lái xe số [...] mang tên Nông Ngọc S; số tiền 295.000,₫ (hai trăm chín lăm nghìn đồng).
Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
- Tại phần tranh luận:
Các bị cáo Triệu Đức T; Nông Đức P không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo Nông Ngọc S; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bế Thị H1 có ý kiến tranh luận: Không nhất trí với đề nghị của Kiểm sát viên về việc tịch thu, phát mại sung công quỹ nhà nước ½ giá trị chiếc xe ô tô biển kiểm soát 29A – 960.09, nhãn hiệu: KIA MORNING bởi toàn bộ số tiền để mua chiếc xe này là của bố mẹ bị cáo cho.
Kiểm sát viên có ý kiến tranh luận với bị cáo Nông Ngọc S; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bế Thị H1: Khi bố mẹ bị cáo S cho tiền mua ô tô không có giấy tờ gì. Bị cáo S là người đứng tên trên giấy tờ mua bán xe. Đồng thời chiếc xe này là tài sản chung của vợ chồng bị cáo. Do vậy, Kiểm sát viên đề nghị tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước ½ giá trị của chiếc xe ô tô là có căn cứ.
Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để sớm quay trở về với gia đình và cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về các hành vi và quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện T, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bế Thị H1 không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về tư cách tham gia tố tụng của ông Nông Duy H: Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST- HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số: 44/2024/TB-XX ngày 31 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng, ông Nông Duy H được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, qua nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo Nông Ngọc S, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bế Thị H1 tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận thấy như sau: Ông Nông Duy H đã cho vợ chồng bị cáo Nông Ngọc S và Bế Thị H1 số tiền khoảng 180.000.000,₫ (một trăm tám mươi triệu đồng) để mua ô tô về sử dụng. Bị cáo S đã sử dụng số tiền này để mua ô tô nhãn hiệu Lacetti sau đó bị cáo bán để mua chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA MORNING, biển kiểm soát: 29A - 960.09 với giá 148.000.000,₫ (một trăm bốn mươi tám triệu đồng). Như vậy, nguồn gốc số tiền bị cáo S mua ô tô là do ông Nông Duy H cho. Việc cho số tiền này giữa các bên được coi là hợp đồng tặng cho bằng miệng theo quy định của Bộ luật dân sự. Do đó, số tiền bị cáo S được cho và chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA MORNING, biển kiểm soát: 29A - 960.09 thuộc quyền sở hữu của vợ chồng bị cáo không còn liên quan đến ông Nông Duy H. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định lại trong vụ án này ông Nông Duy H không có tư cách tố tụng gì.
[3]. Về tội danh: Tại cơ quan điều tra cũng như trước phiên tòa hôm nay, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản khám xét; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; kết luận giám định; vật chứng cùng các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 12 giờ 50 phút, ngày 28/12/2023 Nông Ngọc S có hành vi tàng trữ trái phép 0,75 (không phảy bảy mươi lăm) gam heroine nhằm mục đích sử dụng. Số heroine thu giữ được do Nông Ngọc S, Triệu Đức T, Nông Đức P cùng nhau góp tiền để S đi mua.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội và còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mua bán trái phép chất ma túy với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Nông Ngọc S, Triệu Đức T, Nông Đức P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)...
c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[4]. Về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công mà chỉ là đồng phạm giản đơn.
[5]. Về nhân thân; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo S là người nghiện ma túy và là người có nhân thân xấu. Bị cáo chưa có tiền sự nhưng có một tiền án (đã xóa án tích) về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo đã được cải tạo, giáo dục nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Bị cáo T là người nghiện ma túy và là người có nhân thân xấu. Bị cáo có 01 tiền sự vào năm 2023 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; 01 tiền án (đã xóa án tích) về tội mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo đã được cải tạo, giáo dục nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Bị cáo P là người nghiện ma túy. Bị cáo chưa có tiền án nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy năm 2018. Ngoài ra, bị cáo đã từng bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc năm 2020. Bị cáo đã được nhắc nhở nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với bị cáo Nông Ngọc S: Bị cáo được Bộ trưởng Bộ tư pháp tặng bằng khen vào năm 2003 nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác” quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (áp dụng theo tinh thần của điểm b khoản 5 Nghị quyết số: 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999). Bố mẹ bị cáo ông Nông Duy H, bà Nông Thị L là người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Đối với bị cáo Triệu Đức T: Bố bị cáo ông Triệu Trung N là người có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (được cấp giấy chứng nhận người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học) nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6]. Về hình phạt chính:
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nông Ngọc S từ 18 tháng đến 24 tháng tù; các bị cáo Triệu Đức T, Nông Đức P từ 17 tháng đến 23 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy mức đề nghị hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo là hoàn toàn phù hợp bởi các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy (heroine), không thể tự cải tạo, cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để cải tạo giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung trong xã hội. Trong vụ án này, các bị cáo cùng phải chịu trách nhiệm chung đối với khối lượng ma túy các bị cáo tàng trữ trái phép là 0,75 (không phảy bảy mươi lăm) gam heroine tuy nhiên Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Bị cáo S là người có nhân thân xấu. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuy nhiên, trong vụ án này bị cáo S là người rủ rê bị cáo T góp tiền mua ma tuý về sử dụng. Bị cáo là người góp nhiều tiền nhất và cũng là người trực tiếp đi mua ma tuý. Do vậy, mức hình phạt của bị cáo phải cao hơn mức hình phạt của bị cáo T và bị cáo P.
Bị cáo T và bị cáo P cùng nhau bỏ ra số tiền 250.000,₫ (hai trăm năm mươi nghìn đồng) để mua ma tuý. Hai bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Bị cáo T được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hơn bị cáo P tuy nhiên bị cáo T là người có nhân thân xấu hơn. Do đó, mức hình phạt của hai bị cáo là ngang nhau.
Mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An đối với các bị cáo tại phiên toà là hoàn toàn phù hợp với tính chất, mức độ hành vi mà các bị cáo đã thực hiện nên được chấp nhận.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[8]. Về những vấn đề khác:
Về nguồn gốc ma túy, bị cáo Nông Ngọc S khai nhận mua với một người đàn ông không biết họ tên và địa chỉ tại C bệnh viện đa khoa tỉnh C thuộc phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có căn cứ để xác minh, xử lý.
[9]. Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi số: 89/KL-KTHS, hoàn mẫu sau giám định vụ Nông Ngọc S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý bắt ngày 28/12/2023 là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu huỷ.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen (điện thoại bàn phím số), điện thoại cũ đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi 01 điện thoại di động của Nông Ngọc S là phương tiện các bị cáo S và bị cáo T liên lạc với nhau nên cần tịch thu, phát mại sung công quỹ nhà nước.
- Số tiền 295.000,₫ (hai trăm chín mươi lăm nghìn đồng) không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Nông Ngọc S nên cần trả lại cho bị cáo.
- 01 (một) chiếc xe mô tô biển kiểm soát: 11F9 – 6557, nhãn hiệu: YAMAHA; số loại: SIRIUS F1; màu sơn: đen, bạc không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho bà Bế Thị H1.
- 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Nông Ngọc S; 01 (một) thẻ ngân hàng A1, số thẻ: 9704053040252537 mang tên Nông Ngọc S; 01 (một) giấy phép lái xe số [...] mang tên Nông Ngọc S là các giấy tờ cá nhân của bị cáo S và còn giá trị sử dụng nên cần trả lại cho bị cáo.
- Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 29A – 960.09, nhãn hiệu: KIA MORNING; màu sơn: trắng; số khung: RNYTB51M5DC039155; số máy: G4LADP050339, xe cũ đã qua sử dụng cùng các giấy tờ kèm theo: 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 686124 tên chủ xe Đặng Ngọc A; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số DA 4348996; 01 (một) chìa khoá xe ô tô màu đen bạc đã qua sử dụng: Nguồn tiền mua chiếc xe ô tô này là tiền của bố mẹ bị cáo S tuy nhiên đã cho vợ chồng bị cáo S để mua ô tô nên đây là tài sản chung của bị cáo S và bà H1 theo quy định tại Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014. Bị cáo đã sử dụng chiếc xe này làm phương tiện để đi mua ma túy nên cần tịch thu, phát mại sung công quỹ nhà nước ½ giá trị của chiếc xe; ½ giá trị còn lại của chiếc xe trả lại cho bà Bế Thị H1.
[10]. Về án phí: Theo hồ sơ vụ án, bị cáo S là người dân tộc Tày, cư trú tại thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; bị cáo T là người dân tộc Nùng, cư trú tại thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; bị cáo P là người dân tộc Tày, cư trú tại thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Thị trấn Đ, huyện T thuộc khu vực III theo Quyết định số: 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2025. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, đồng bào dân tộc thiểu số cư trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được miễn án phí. Các bị cáo có đơn đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm nên các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bế Thị H1 được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Các bị cáo Nông Ngọc S, Triệu Đức T, Nông Đức P phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- - Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 đối với bị cáo Nông Ngọc S.
- Xử phạt bị cáo Nông Ngọc S 19 (mười chín) tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 28/12/2023.
- - Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Nông Đức P.
- Xử phạt bị cáo Nông Đức P 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 28/12/2023.
- - Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Triệu Đức T.
- Xử phạt bị cáo Triệu Đức T 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 28/12/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử:
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi số: 89/KL-KTHS, hoàn mẫu sau giám định vụ Nông Ngọc S có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý bắt ngày 28/12/2023. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong cùng 04 con dấu của phòng K Công an tỉnh C. Kèm Kết luận giám định ma tuý số: 89/KL-KTHS ngày 11/01/2024 của phòng K Công an tỉnh C.
- - Tịch thu, phát mại sung công quỹ nhà nước:
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen (điện thoại bàn phím số), điện thoại cũ đã qua sử dung. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra được số IMEI.
- + 01 (một) điện thoại đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi 01 điện thoại di động của Nông Ngọc S. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong cùng con dấu của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng.
- + ½ giá trị của chiếc xe ô tô biển kiểm soát: 29A – 960.09, nhãn hiệu: KIA MORNING; màu sơn: trắng, có số khung: RNYTB51M5DC039155; số máy: G4LADP050339, xe cũ đã qua sử dụng. Qua kiểm tra thực tế 4 cánh cửa, cốp sau, nắp ca pô đằng trước và nắp bình xăng đã được niêm phong dán kín có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong cùng con dấu của Công an thị trấn Đ. Số khung, số máy xe theo phiếu trả lời xác minh xe ngày 19/01/2024, do xe đã được niêm phong, dán kín nên không kiểm tra được số khung, số máy của xe; kèm theo giấy tờ xe gồm: 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 686124 tên chủ xe Đặng Ngọc A; 01 (một) giấy chứng nhận kiểm định số DA 4348996; 01 (một) chìa khoá xe ô tô màu đen bạc đã qua sử dụng. ½ giá trị còn lại của chiếc xe trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bế Thị H1.
- - Trả lại cho bị cáo Nông Ngọc S:
- + Số tiền 295.000,₫ (hai trăm chín mươi lăm nghìn đồng) đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi số tiền: 295.000,đ (hai trăm chín mươi lăm nghìn đồng) tiền ngân hàng N2 phát hiện thu giữ tại túi quần bên phải phía trước của Nông Ngọc S ngày 28/12/2023. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong cùng con dấu của Ngân hàng N3 chi nhánh huyện T. Kèm biên bản mở niêm phong xác định tang vật vụ án ngày 09/4/2024 giữa Ngân hàng N3 chi nhánh huyện T và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T.
- + 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Nông Ngọc S.
- + 01 (một) Thẻ ngân hàng A1, có số thẻ: 9704053040252537 mang tên Nông Ngọc S.
- + 01 (một) Giấy phép lái xe số [...] mang tên Nông Ngọc S.
- - Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bế Thị H1 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 11F9 – 6557, nhãn hiệu: YAMAHA; số loại: SIRIUS F1; màu sơn: đen, bạc; loại xe: hai bánh từ 50-175cm3, có số khung: RLCS5C6308Y052084, số máy: 5C63052084, xe cũ đã qua sử dụng. Qua kiểm tra thực tế xe có 01 gương chiếu hậu bên trái, vỏ thân xe, yếm xe bị trầy xước, có 01 chìa khoá kèm theo, có số khung, số máy trùng khớp với số khung, số máy trùng khớp với phiếu trả lời xác minh xe ngày 19/01/2024 của Công an huyện T.
Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 12 ngày 09/4/2024.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Các bị cáo Nông Ngọc S, Triệu Đức T, Nông Đức P được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bế Thị H1 có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quỳnh Mai |
Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH AN - TỈNH CAO BẰNG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 12/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH AN - TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nông Ngọc Sơn và đồng phạm
