Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐAM RÔNG

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 14/2024/HS-ST

Ngày: 11/6/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAM RÔNG

TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thúy Phượng

Các Hội thẩm nhân dân:+ Bà Bùi Thị Là

+ Bà: K'Nga

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh –Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông tham gia phiên tòa: ông Trương Văn Dương, bà Nguyễn Thị Yến – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024; Tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Văn Q; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 11 tháng 10 năm 1960 tại Quảng Bình. Nơi ĐKHKTT: Phường H, TP ., tỉnh Lâm Đồng. Nơi ở: Số G T, phường H, TP ., tỉnh Lâm Đồng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: (không). Học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Kinh doanh. Họ tên cha: Nguyễn Văn L, sinh năm 1930 (đã chết). Họ tên mẹ: Lê Thị N, sinh năm 1933. Bị cáo là con thứ tư trong gia đình có 07 anh em, lớn nhất sinh năm 1952 (đã chết), nhỏ nhất sinh năm 1975. Vợ: Nguyễn Thị Kim P, sinh năm 1960. Con: Có 03 con, lớn sinh năm 1984 (đã chết), nhỏ sinh năm 2000. Hiện vợ và các con đang sinh sống tại TP ., tỉnh Lâm Đồng. Tiền án, tiền sự: (không).

    Nhân thân: Ngày 10/7/1997 bị Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển, buôn bán lâm sản trái phép; Ngày 21/3/2017 bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc, hình thức phạt tiền, mức phạt 1.500.000 đồng; đã chấp hành.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Trần Văn T; Giới tính: Nam.Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 10 tháng 4 năm 1989 tại Quảng Ngãi. Nơi ĐKHKTT: Xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nơi ở: thôn T, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: (không). Học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: nhân viên Ban Q2, huyện Đ. Họ tên cha: Trần C, sinh năm 1962. Họ tên mẹ: Vi Thị T1, sinh năm 1964. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 03 chị em, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1993. Vợ: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1988. Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2022. Hiện vợ và các con đang sinh sống tại xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Tiền án, tiền sự: (không).

    Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/6/2022, được thay thế biện pháp ngăn chặn ngày 17/8/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Đinh Văn D; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Đinh Tiến D1. Sinh ngày: 06 tháng 02 năm 1975 tại Hà Nội. Nơi ĐKHKTT: Xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nơi ở: thôn T, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: (không). Học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Nông. Họ tên cha: Đinh Văn N1, sinh năm 1935 (đã chết). Họ tên mẹ: Trần Thị T3, sinh năm 1939. Bị cáo là con thứ bảy trong gia đình có 09 chị em, lớn nhất sinh năm 1959, nhỏ nhất sinh năm 1981. Vợ: Vũ Thị B, sinh năm 1977. Con: Có 03 con, lớn sinh năm 2003 nhỏ sinh năm 2018. Hiện vợ và các con đang sinh sống tại xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Tiền án, tiền sự: (không). Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 09/6/2022, trả tự do ngày 16/11/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  4. Họ và tên: Nguyễn Mạnh T4; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 29 tháng 11 năm 1996 tại Bắc Giang. Nơi ĐKHKTT: Xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nơi ở: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: (không). Học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: nhân viên Ban Q2, huyện Đ. Họ tên cha: Nguyễn Văn T5, sinh năm 1968. Họ tên mẹ: Đồng Thị N2, sinh năm 1971. Bị cáo là con đầu trong gia đình có 03 anh em, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2006. Vợ: Trần Thị Thu P1, sinh năm 2002. Con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2022, nhỏ nhất sinh năm 2024. Tiền án, tiền sự: (không). Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/7/2022, trả tự do ngày 06/3/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  5. Họ và tên: Phạm Tiến M; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 06 tháng 02 năm 1977 tại Thái Nguyên. Nơi ĐKHKTT: Thôn Trần N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Nơi ở: Tổ dân phố T, TT N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: (không). Học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Nông. Họ tên cha: Phạm Phúc L1, sinh năm 1940. Họ tên mẹ: Hoàng Thị M1, sinh năm 1944. Bị cáo là con thứ tám trong gia đình có 08 anh em, lớn nhất sinh năm 1961, nhỏ nhất sinh năm 1984. Vợ: Vũ Thị N3, sinh năm 1982. Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2013. Hiện vợ và các con đang sống tại TT N, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Tiền án, tiền sự: (không). Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/7/2022, trả tự do ngày 06/3/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  6. Họ và tên: Dương Văn V; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 07 tháng 8 năm 1991 tại Thanh Hóa. Nơi ĐKHKTT: Xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nơi ở: Thôn T, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: (không). Học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: nhân viên Ban Q2, huyện Đ. Họ tên cha: Dương Văn L2, sinh năm 1966. Họ tên mẹ: Nguyễn Thị L3, sinh năm 1967. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1993. Vợ: Nguyễn Thị N4, sinh năm 1995. Con: Có 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2024, hiện sinh sống tại xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Tiền án, tiền sự: (không).

    Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/7/2022, được trả tự do ngày 06/3/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  7. Họ và tên: Nguyễn Văn T6; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 03 tháng 11 năm 1988 tại Quảng Ngãi. Nơi ĐKHKTT: Xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nơi ở: thôn T, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: (không). Học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Nhân viên Ban Q2, huyện Đ. Họ tên cha: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1951. Họ tên mẹ: Ngô Thị N5, sinh năm 1953. Bị cáo là con út trong gia đình có 05 anh em, lớn nhất sinh năm 1977. Vợ: Tô Thị Thu H, sinh năm 1992. Con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2018. Hiện vợ và các con đang sinh sống tại xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Tiền án, tiền sự: (không).

    Nhân thân: Ngày 07/8/2015 bị Tòa án nhân dân huyện Đam Rông xử phạt 40.000.000 đồng về Tội đánh bạc (đã xóa án tích).

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  8. Họ và tên: Bùi Văn T7; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không Sinh ngày: 05 tháng 7 năm 1990 tại Thanh Hóa. Nơi ĐKHKTT: Xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Nơi ở: thôn P, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: (không). Học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: nhân viên Ban Q2, huyện Đ. Họ tên cha: Bùi Văn H1, sinh năm 1957. Họ tên mẹ: Nghiêm Thị T8, sinh năm 1958. Bị cáo là con út trong gia đình có 04 anh em, lớn nhất sinh năm 1979. Vợ: Hoàng Thị N6, sinh năm 1998. Con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2022. Hiện vợ, con đang sinh sống tại xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Tiền án, tiền sự: (không).

    Nhân thân: Ngày 15/02/2022 bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Đánh bạc, hình thức phạt tiền, mức phạt 1.000.000 đồng; đã chấp hành. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Q: Luật sư Huỳnh T9 - Văn phòng L6 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh L. Có mặt tại phiên tòa.

* Nguyên đơn dân sự: Ban Q2. Người đại diện theo pháp luật - ông Lê Đình T10. Chức vụ: Trưởng ban.

Người đại diện theo ủy quyền: ông Đinh Văn T11. Chức vụ: Phó phòng kĩ thuật QLBVR - Ban Q2. Ông T11 có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án:

  1. Ông Nguyễn Trường G. Sinh Năm: 1986. Địa chỉ: Thôn A, xã R, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  2. Ông Hà Duyên B1. Sinh năm: 1990. Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên tòa.

* Những người làm chứng:

  • + Ông Đặng Công L4. Sinh năm: 1988. Địa chỉ: thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
  • + Ông Viên Văn Đ1. Sinh năm: 1978. Địa chỉ: thôn T, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên tòa.
  • + Ông Trần Thanh T12. Sinh năm: 1977. Địa chỉ: thôn D, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên tòa.
  • + Ông Tạ Nghĩa . Sinh năm: 1977. Địa chỉ: thôn T, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
  • + Ông Vũ Văn H2. Sinh năm: 1977. Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt tại phiên tòa.
  • + Ông Nguyễn Thanh P2. Sinh năm: 1986. Địa chỉ: thôn D, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
  • + Ông Trần Đình S. Sinh năm: 1967. Địa chỉ: thôn T, xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.
  • + Ông Đỗ Văn C1. Sinh năm: 1980. Địa chỉ: thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện chỉ đạo của Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện Đ tại Công văn số 722/UBND-NN ngày 17/6/2021 về việc khẩn trương triển khai thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn mùa mưa năm 2021. Cuối tháng 6 đầu tháng 7 năm 2021, Hạt kiểm lâm Đ4 phân công ông Nguyễn Thanh P2-Kiểm lâm viên và Phạm Tiến M-Kiểm lâm địa bàn, phối hợp với: Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Đ (đại diện ông Vũ Văn H2-Chuyên viên); UBND xã P (đại diện Đinh Văn D-Phó Chủ tịch UBND); Ban Q2 (QLRPH) Phi Liêng (đại diện Trần Văn T-Phó trưởng phòng KT-QLBVR, Nguyễn Mạnh T4-Nhân viên) và đại diện Điện lực Đam Rông, tiến hành việc rà soát cây rừng có nguy cơ ngã đổ tại các tiểu khu B, 214, 215, 216 - Lâm phần do Ban QLRPH Phi Liêng quản lý, thuộc địa giới hành chính xã P, huyện Đ. Ngoài ra tại tiểu khu B và 214 còn có Dương Văn V là cán bộ tiểu khu tham gia. Cách thức thực hiện: Cả Đoàn tiến hành rà soát, thống nhất những cây gỗ T13, gỗ Chò có nguy cơ ngã đổ, Nguyễn Mạnh T4 thực hiện việc bài cây, đánh số (lấy tọa độ, vạc vỏ cây, xịt sơn lên thân cây, dùng bút xóa ghi số lên vị trí vỏ bị vạc), Nguyễn Thanh P2 là người ghi chép số liệu để phục vụ việc hoàn thiện Biên bản vào ngày 12/7/2021. Kết quả xác định được 74 cây, trữ lượng 97,120 m³, trong đó khối lượng thương phẩm tận dụng được 14,245 m³.

Căn cứ trên kết quả rà soát, Ban QLRPH Phi Liêng xây dựng Hồ sơ thiết kế khai thác tận thu, trình UBND huyện Đ phê duyệt tại Tờ trình số 32 ngày 19/8/2021. Ngày 07/9/2021 UBND huyện Đ có công văn số 1205, giao Ban QLRPH Phi Liêng phối hợp với Hạt kiểm lâm Đ4, UBND xã P và các cơ quan có liên quan, tổ chức thực hiện việc khai thác tận thu.

Ngày 08/9/2021 Ban Q2 ký “Hợp đồng khai thác tận thu, tận dụng gỗ là cây rừng có nguy cơ ngã đổ trong mùa mưa bão” số 01/HĐKT-BQL với Công ty trách nhiệm hữu hạn Q3, do Nguyễn Văn Q - Giám đốc, là đại diện, thời gian thực hiện hợp đồng từ ngày bàn giao hiện trường đến hết ngày 15/9/2021 (được gia hạn 01 lần đến ngày 23/9/2021). Cùng ngày, Ban Q2 ban hành Quyết định số 39, thành lập Tổ giám sát khai thác tận thu, tận dụng cây có nguy cơ ngã đổ trong mùa mưa bão, gồm: Trần Văn T-Tổ trưởng, Bùi Văn T7-Tổ phó, Nguyễn Mạnh T4, Dương Văn V và Nguyễn Văn T6-Thành viên. Tổ giám sát có nhiệm vụ phối hợp với Hạt kiểm lâm Đ4, UBND xã P và các cơ quan liên quan “Tổ chức bàn giao hiện trường, giám sát, theo dõi chặt chẽ quá trình khai thác, vận chuyển của đơn vị thi công”. Đồng thời có Thông báo số 03 (ngày 08/9/2021) gửi Hạt kiểm lâm huyện Đ, UBND xã P và các cơ quan liên quan, đề nghị cử cán bộ tham gia phối hợp. Sau khi nhận được Quyết định số 39 và Thông báo số 03, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm Đ4 phân công Phạm Tiến M-Kiểm lâm viên-Phụ trách Cụm kiểm lâm địa bàn Phi Liêng, Chủ tịch UBND xã P phân công Đinh Văn D-Phó Chủ tịch UBND-Phó Ban lâm nghiệp xã P, phối hợp cùng với Tổ giám sát của Ban Q2.

Sáng ngày 09/9/2021, sau khi nhận được Quyết định số 39 và Thông báo số 03, tất cả thành viên Đoàn giám sát 07 người, gồm: Trần Văn T, Bùi Văn T7, Nguyễn Mạnh T4, Dương Văn V, Nguyễn Văn T6, Phạm Tiến M và Đinh Văn D có mặt tại tiểu khu B cùng với đơn vị thi công, đại diện Nguyễn Văn Q và nhân viên của Q, để tiến hành bàn giao hiện trường, cưa hạ tại tiểu khu B. Tại đây, theo hồ sơ thiết kế có 14 cây Thông ba lá, toàn bộ nằm trên đất nông nghiệp, bị khô mục, gãy đổ, không có khối lượng tận dụng. Quá trình này, Đoàn giám sát phát hiện thêm 05 cây Thông ba lá (gồm 01 cây tươi và 04 cây khô) ngoài hồ sơ thiết kế và cho rằng có nguy cơ ngã đổ nhưng chưa được rà soát, lập hồ sơ nên các thành viên thống nhất với nhau, chỉ cho đơn vị thi công cưa hạ, lâm sản tận dụng được thì đưa về bãi tập kết của Ban Q2.

Quá trình giám sát việc thực hiện hợp đồng số 01 ngày 08/9/2021 của Ban QLRPH Phi Liêng với Công ty TNHH Q3, do có chủ trương cho đơn vị thi công cắt những cây có nguy cơ ngoài hồ sơ thiết kế nên các thành viên trong Đoàn giám sát (gồm: Trần Văn T, Bùi Văn T7, Nguyễn Mạnh T4, Dương Văn V, Nguyễn Văn T6, Phạm Tiến M và Đinh Văn D) đã cho phép và chỉ cho các thợ cưa cắt hạ tổng số 194 cây, trong đó 72 cây trong hồ sơ thiết kế và 122 cây ngoài hồ sơ thiết kế. Về phía đơn vị thi công, Nguyễn Văn Q đã thuê các thợ cưa, gồm: Lò Văn M2, Đặng Đăng L5, Viên Văn Đ1, Trần Thanh T12, Đỗ Văn C1, Tạ N7 thực hiện việc cưa hạ, cắt lóng tại các tiểu khu B, 215, 216, 217, 214 trong tổng thời gian 08 ngày, từ ngày 09/9/2021 đến ngày 20/9/2021, theo sự chỉ dẫn của Đ2 giám sát. Xen kẽ trong khoảng thời gian này, Nguyễn Văn Q chỉ đạo Hà Duyên B1 thực hiện việc cắt lóng, vận chuyển gỗ 13 chuyến máy cày về xưởng cưa của mình và 05 chuyến máy cày về bãi tập kết tại Ban Q2, cụ thể:

Ngày 09/9/2021 cưa hạ tại tiểu khu B (Dương Văn V là cán bộ tiểu khu). Ngoài 14 cây trong hồ sơ thiết kế, đã cưa hạ thêm 05 cây ngoài hồ sơ thiết kế, trong đó cắt được 03 lóng từ 01 cây tươi, vận chuyển về xưởng cưa vào lúc 17 giờ cùng ngày. Thợ cưa là Lò Văn M2 và Tạ N7 (Tạ Nghĩa cưa hạ cả 05 cây ngoài hồ sơ). Tại thời điểm khám nghiệm hiện trường (ngày 30/9/2021) lâm sản không còn.

Ngày 10, 13, 14 và 20/9/2021 cưa hạ tại tiểu khu B (Nguyễn Văn T6 là cán bộ tiểu khu). Theo hồ sơ thiết kế có 46 cây Thông ba lá (08 cây trên đất nông nghiệp, 38 cây trên đất lâm nghiệp), khối lượng lâm sản tận dụng 4,161 m³, trong đó có 09 gốc cây tươi, lâm sản không còn tại hiện trường, 37 gốc cây khô mục, lâm sản còn tại hiện trường. Số cây bị cưa hạ ngoài hồ sơ thiết kế là 88 cây, toàn bộ nằm trên đất rừng sản xuất, gồm: 77 cây Thông ba lá, trong đó 52 cây tươi và 25 cây khô, khối lượng lâm sản còn lại hiện trường là 42,345 m³ (41,029 m³ tươi và 1,316 m³ khô); 11 cây Chò tươi, khối lượng lâm sản còn lại hiện trường 2,567 m³. Thợ cưa gồm: Đỗ Văn C1, Viên Văn Đ1, Trần Thanh T12 và Đặng Đăng L5.

Ngày 15/9/2021 cưa hạ tại tiểu khu B và 217 (Bùi Văn T7 là cán bộ tiểu khu B, Phạm Đình T14 là cán bộ tiểu khu B). Tại tiểu khu B có 03 cây trong hồ sơ thiết kế và 02 cây ngoài hồ sơ thiết kế nằm trên đất nông nghiệp, lâm sản khô mục hết (không có khối lượng tận dụng, do Trần Thanh T12 cưa hạ). Tại tiểu khu B, Đoàn giám sát chỉ cho các thợ cưa cắt hạ 15 cây Thông ba lá ngoài hồ sơ thiết kế (có 05 cây thuộc đất nông nghiệp, 10 cây thuộc đất rừng phòng hộ, Trần Thanh T12 khai nhận cưa hạ 14 cây), toàn bộ là cây tươi, khối lượng lâm sản còn lại hiện trường là 0,108 m³.

Ngày 16, 17/9/2021 cưa hạ tại tiểu khu B (Dương Văn V là cán bộ tiểu khu). Tại đây cưa hạ tổng số 21 cây, trong đó có 09 cây Thông ba lá nằm trong hồ sơ thiết kế, khối lượng lâm sản còn lại hiện trường 8,983 m³ (gồm 07 gốc tươi và 02 gốc khô); 12 cây ngoài hồ sơ thiết kế, khối lượng lâm sản còn lại hiện trường 6,076 m³ (gồm 11 gốc Thông tươi và 01 gốc Chò tươi), toàn bộ thuộc đất rừng sản xuất. Do Trần Thanh T12 thực hiện việc cưa hạ.

Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 29/9/2021 tại bãi tập kết gỗ Ban QLRPH Phi Liêng, xác định: Tổng cộng có 65 lóng gỗ tròn, khối lượng 21,695 m³, chủng loại Thông ba lá, trong đó: 57 lóng gỗ tươi, khối lượng 18,630 m³; 08 lóng gỗ khô, khối lượng 3,065 m³. Được định giá thiệt hại về lâm sản là 29.106.496 đồng; không xác định được giá trị thiệt hại về môi trường. (Kết luận định giá tài sản số 3006/KL-HĐĐGTS ngày 09/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Lâm Đồng).

Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 30/9/2021 tại các tiểu khu B, 215, 216, 217, 234A xã P, huyện Đ, xác định: Tổng cộng có 226 gốc và lóng Thông ba lá, C2, gồm 194 gốc và 32 lóng, tổng khối lượng 60,079 m³; cụ thể:

Tại tiểu khu B tổng số 21 cây, trong đó có 09 cây Thông ba lá nằm trong hồ sơ thiết kế, khối lượng lâm sản còn lại tại hiện trường 8,983 m³ (gồm 07 gốc tươi và 02 gốc khô); 12 cây ngoài hồ sơ thiết kế, khối lượng lâm sản còn lại hiện trường 6,076 m³ (gồm 11 gốc Thông tươi và 01 gốc Chò tươi), toàn bộ thuộc đất rừng sản xuất. Được định giá thiệt hại về lâm sản là 6.426.588 đồng; thiệt hại về môi trường là 19.279.763 đồng; tổng thiệt hại về lâm sản và môi trường là 25.706.351 đồng. (Kết luận định giá tài sản số 3006/KL-HĐĐGTS ngày 09/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tổ tụng hình sự tỉnh Lâm Đồng).

Tại tiểu khu 215 tổng số 134 cây, trong đó có 46 cây Thông ba lá nằm trong hồ sơ thiết kế (08 cây thuộc đất nông nghiệp, 38 cây thuộc đất lâm nghiệp), khối lượng lâm sản tận dụng 4,161 m³, trong đó có 09 gốc cây tươi, lâm sản không còn tại hiện trường, 37 gốc cây khô mục, lâm sản còn lại hiện trường; 88 cây ngoài hồ sơ thiết kế, toàn bộ nằm trên đất rừng sản xuất, gồm: 77 cây Thông ba lá, trong đó 52 cây tươi và 25 cây khô, khối lượng lâm sản còn lại hiện trường là 42,345 m³ (41,029 m³ tươi và 1,316 m³ khô); 11 cây Chò tươi, khối lượng lâm sản còn lại hiện trường 2,567 m³. Được định giá thiệt hại về lâm sản là 59.911.598 đồng; thiệt hại về môi trường là 173.452.917 đồng; tổng thiệt hại về lâm sản và môi trường là 233.364.515 đồng. (Kết luận định giá tài sản số 3006/KL-HĐĐGTS ngày 09/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Lâm Đồng).

Tại tiểu khu 216 có 03 cây trong hồ sơ thiết kế và 02 cây ngoài hồ sơ thiết kế, thuộc đất nông nghiệp, lâm sản khô mục hết.

Tại tiểu khu B, tổng số 19 cây Thông ba lá, trong đó 14 cây nằm trong hồ sơ thiết kế, toàn bộ thuộc đất nông nghiệp, đều bị khô mục, gãy đổ, không có khối lượng tận dụng; 05 cây Thông ba lá ngoài hồ sơ thiết kế (gồm 01 cây tươi và 04 cây khô), lâm sản không còn tại hiện trường.

Tại tiểu khu B, có 15 cây Thông ba lá ngoài hồ sơ thiết kế (có 05 cây thuộc đất nông nghiệp, 10 cây thuộc đất rừng phòng hộ), toàn bộ là cây tươi, khối lượng lâm sản còn lại tại hiện trường là 0,108 m³. Được định giá thiệt hại về lâm sản là 981.224 đồng; thiệt hại về môi trường 2.795.925 đồng; tổng thiệt hại về lâm sản và môi trường 3.777.149 đồng. (Kết luận định giá tài sản số 3006/KL-HĐĐGTS ngày 09/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Lâm Đồng).

Các bị cáo thừa nhận kết quả khám nghiệm hiện trường tại các tiểu khu và bãi tập kết của Ban Q2 là chính xác, đúng hành vi, khối lượng lâm sản thiệt hại.

Đối với khối lượng gỗ bị cáo Nguyễn Văn Q đã chỉ đạo H Biến vận chuyển về xưởng cưa, ban đầu Cơ quan điều tra xác định: Tổng số có 176 lóng, khối lượng 46,179 m³, trong đó: Gỗ Thông ba lá 171 lóng, khối lượng 45,194 m³; Gỗ Chò 05 lóng, khối lượng 0,985 m³. Gỗ xẻ (ván tươi) 360 tấm, khối lượng 5,44 m³ Thông ba lá, tương đương 8,704 m³ gỗ tròn. Bìa gỗ mới quy tròn khối lượng 4,62 m³. Tổng cộng 59,503 m³. Được định giá thiệt hại về lâm sản là 57.414.676 đồng, trong đó: gỗ tròn là 39.229.718 đồng, gỗ xẻ ván là 18.184.958 đồng; không xác định được giá trị thiệt hại về môi trường. Đối với khối lượng gỗ bìa 4,62 m³ không có cơ sở định giá (Kết luận định giá tài sản số 3006/KL-HĐĐGTS ngày 09/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Lâm Đồng). Đối với khối lượng gỗ 36,809 m³ đà, hộp, phách, ván được xác định có nguồn gốc bị cáo Q mua hợp pháp nên không đề cập.

Tuy nhiên, các bị cáo cho rằng tổng khối lượng bị cáo Nguyễn Văn Q vận chuyển về xưởng 59,503m³ là chưa chính xác, do trong số đó có gỗ cũ và gỗ bìa. Vì vậy căn cứ vào kết quả khám nghiệm hiện trường, văn bản trả lời của Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh L thì xác định số gỗ mà bị cáo Nguyễn Văn Q vận chuyển từ các tiểu khu về xưởng là 150 lóng gỗ tròn, khối lượng 39,422m³ và 8,704 m³ gỗ ván tươi quy tròn, tổng là 48,126m³.

Đến nay đủ căn cứ kết luận tổng khối lượng lâm sản các bị cáo thuộc Đoàn giám sát đã cho phép đơn vị thi công cưa hạ là 194 cây, khối lượng thực tế xác định được là 129,9m³ (bao gồm tại các tiểu khu 60,079m³, tại Ban QLRPH Phi Liêng 21,695m³, tại xưởng cưa của bị can Nguyễn Văn Q 48,126m³). Tuy nhiên, do toàn bộ số gỗ này đã được cắt thành lóng, một số đã bị Nguyễn Văn Q chỉ đạo xẻ 360 tấm ván tươi, không đủ căn cứ xác định khối lượng nào thuộc 72 cây trong hồ sơ thiết kế; đồng thời bản thân các thành viên trong Đoàn rà soát khẳng định việc tính khối lượng thương phẩm tận dụng 14,245 m³ của 74 cây trong hồ sơ thiết kế là nhận định chủ quan. Vì vậy áp dụng nguyên tắc có lợi cho các bị cáo thì lấy tổng khối lượng 129,9m³ trừ đi trữ lượng của 72 cây đã cưa hạ trong hồ sơ là 96,099m³ còn 33,801m³ là cưa hạ trái phép ngoài hồ sơ thiết kế.

Về thiệt hại: Ngày 05/3/2024 Cơ quan điều tra có văn bản số 63 về việc đề nghị Hội đồng định giá tách giá trị thiệt hại về lâm sản của 33,801m³. Ngày 12/3/2024 Hội đồng định giá có văn bản số 04 trả lời không cơ sở để xác định giá trị thiệt hại. Tuy nhiên, tại phiên tòa các bị cáo tự nguyện nhận nộp số tiền bồi thường thiệt hại về lâm sản theo kết luận trước đây với số tiền 15.590.000 đồng/bị cáo.

Về thu giữ, xử lý vật chứng:

- Đối với số gỗ thu giữ tại xưởng của Nguyễn Văn Q 55,254m³; tại bãi tập kết của Ban QLRPH Phi Liêng 21,695 m³ và tại các hiện trường 60,079m³. Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, giao Hạt kiểm lâm thu hồi, xử lý theo quy định.

- Đối với 01 đầu ghi hình màu đen, đã qua sử dụng, nhãn hiệu Dahua Digital Video Recorder, model: DH-XVR1A04, số S/N: 6E08947PAZ51D12; 01 máy cưa xăng cầm tay nhãn hiệu MOTOKAWA MK-9999 CHAIN SAW, màu cam trắng (thu giữ của Nguyễn Văn Q); 01 xe máy cày độ chế có 06 bánh xe, đầu xe màu đỏ, thùng xe màu xanh lá cây, có hàn các cọc sắt 02 bên thùng xe để che hàng và tời hàng (thu giữ của Hà Duyên B1), đã chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ.

Theo bản cáo trạng số: 14/CT-VKS ngày 04/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng, thì bị cáo: Nguyễn Văn Q bị truy tố về “Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 232 Bộ luật Hình Sự; các bị cáo: Trần Văn T, Đinh Văn D Tiến D1), Nguyễn Văn T6, Bùi Văn T7, Nguyễn Mạnh T4, Phạm Tiến M và Dương Văn V bị truy tố về “Tội vi phạm quy định về quản lý rừng”, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 233 Bộ luật Hình sự.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông phát biểu quan điểm về vụ án và khẳng định rằng với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay thì hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Q đủ cơ sở để truy tố về “Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 232 Bộ luật Hình Sự; hành vi của các bị cáo: Trần Văn T, Đinh Văn D, Nguyễn Văn T6, Bùi Văn T7, Nguyễn Mạnh T4, Phạm Tiến M và Dương Văn V, đủ cơ sở để truy tố về “Tội vi phạm quy định về quản lý rừng”, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 233 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm “Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”; Tuyên bố các bị cáo: Trần Văn T, Đinh Văn D, Nguyễn Văn T6, Bùi Văn T7, Nguyễn Mạnh T4, Phạm Tiến M và Dương Văn V phạm “Tội vi phạm quy định về quản lý rừng”.

Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử

Áp dụng Điểm b khoản 2 Điều 232, điểm b, s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 400.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng.

Áp dụng Đ3 đ khoản 2 Điều 233, điểm b, s, v khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 38, 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T 14 tháng 15 ngày tù, bằng thời hạn tạm giam. Xử phạt vị cáo Đinh Văn D 17 tháng 16 ngày tù bằng thời hạn tạm giam và thời gian đã chấp hành.

Áp dụng Đ3 đ khoản 2 Điều 233, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 54, Điều 38, 58 Bộ luật hình sự xử phạt các bị cáo Nguyễn Mạnh T4, Dương Văn V, Phạm Tiến M mỗi bị cáo 07 tháng, 21 ngày tù bằng thời gian tạm giam.

Áp dụng Đ3 đ khoản 2 Điều 233, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 54, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn T7, Nguyễn Văn T6 mỗi bị cáo từ 24 đến 36 tháng tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng tính từ ngày tuyên án.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc các bị cáo Nguyễn Văn Q, Trần Văn T, Đinh Văn D (Đinh Tiến D1), Bùi Văn T7, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Mạnh T4, Phạm Tiến M, Dương Văn V mỗi bị cáo bồi thường thiệt hại về Lâm sản cho nguyên đơn dân sự với số tiền 15.590.000 đồng, được trừ vào số tiền 30.000.000 đồng mà các bị cáo đã tạm nộp trước cơ quan điều tra và tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đam Rông. Số tiền còn thừa hoàn trả lại cho các bị cáo là 14.410.000 đồng/bị cáo.

Về tang vật vụ án: Đối với số gỗ thu giữ tại xưởng của Nguyễn Văn Q 55,254m³; tại bãi tập kết của Ban QLRPH Phi Liêng 21,695m³ và tại các hiện trường 60,079m³. Cơ quan quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chúng, giao Hạt kiểm lâm thu hồi, xử lý theo quy định. Nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Đối với 01 đầu ghi hình màu đen, đã qua sử dụng, nhãn hiệu Dahua Digital Video Recorder, model: DH-XVR1A04, số S/N: 6E08947PAZ51D12; 01 máy cưa xăng cầm tay nhãn hiệu MOTOKAWA MK-9999 CHAIN SAW, màu cam trắng (thu giữ của Nguyễn Văn Q); 01 xe máy cày độ chế có 06 bánh xe, đầu xe màu đỏ, thùng xe màu xanh lá cây, có hàn các cọc sắt 02 bên thùng xe để che hàng và tời hàng (thu giữ của Hà Duyên B1), Viện kiểm sát ra quyết định chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Đam Rông để phục vụ việc truy tố, xét xử. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý tịch thu bán đấu giá sung quỹ nhà nước.

Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn Q, Trần Văn T, Đinh Văn D, Phạm Tiến M, Nguyễn Mạnh T4, Bùi Văn T7, Nguyễn Văn T6, Dương Văn V mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong phần tranh luận, bị cáo Nguyễn Văn Q thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông truy tố bị cáo về hành vi vi phạm quy định về khai thác rừng và Lâm sản theo điểm b khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, bị cáo không tranh luận gì thêm. Trong phần lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Văn Q đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo với mức án nhẹ nhất. Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn Q trình bày lời bào chữa như sau: Về tội danh không thống nhất với truy tố của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo Q, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo Q phạm tội “Vận chuyển lâm sản trái phép”. Về hình phạt, bị cáo Q có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong quá trình điều tra đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra, tự nguyện bồi thường thiệt hại, tích cực hợp tác với các cơ quan trong quá trình giải quyết vụ án và bị cáo ở lần phạm tội này được coi là phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 36 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Các bị cáo Trần Văn T, Đinh Văn D, Phạm Tiến M, Nguyễn Mạnh T4, Bùi Văn T7, Nguyễn Văn T6, Dương Văn V thừa nhận Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về “Tội vi phạm quy định về quản lý bảo vệ rừng” theo điểm đ khoản 2 Điều 233 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Các bị cáo không trình bày ý kiến tranh luận.

Trong phần nói lời sau cùng, bị cáo Trần Văn T, Đinh Văn D, Phạm Tiến M, Nguyễn Mạnh T4, Dương Văn V các bị cáo đã nhận thức được hành vi vi phạm của mình, thật sự ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hình phạt với mức thấp nhất để các bị cáo về với gia đình. Bị cáo Bùi Văn T7, Nguyễn Văn T6 thật sự ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng án treo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của Viện Kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến thắc mắc hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã được tiến hành đều hợp pháp.

[2] Về yếu tố cấu thành tội phạm của các bị cáo:

Đối với bị cáo Nguyễn Văn Q khai ngày 08/9/2021, bị cáo có ký hợp đồng số 01/HĐKT với ban Q2 để khai thác gỗ tận thu, tận dụng. Theo hợp đồng được ký kết thì vị trí khai thác tại một phần các tiểu khu B, 215, 216 và 234A, số cây gỗ được phép khai thác là 74 cây, số gỗ khai thác phải tập kết tại Ban Q2 để nghiệm thu, định giá và bán đấu giá. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng mặc dù bị cáo biết rõ số cây gỗ được phép khai thác là 74 cây, số gỗ khai thác được tập kết tại bãi tập kết gỗ thuộc Ban Q2, nhưng được sự đồng ý của thành viên tổ giám sát, bị cáo Nguyễn Văn Q đã trực tiếp chỉ đạo những thợ cưa gỗ mà bị cáo Q thuê khai thác thêm 122 cây gỗ ngoài hồ sơ thiết kế, đồng thời chỉ đạo Hà Duyên B vận chuyển gỗ 13 chuyến máy cày về xưởng của bị cáo Q, với mục đích là để sẻ và bán gỗ cho người khác lấy tiền, nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện, theo biên bản khám nghiệm hiện trường tại xưởng cưa bị cáo Q là 33,801 m³, bị cáo Nguyễn Văn Q thừa nhận toàn bộ số gỗ tại xưởng cưa là do khai thác và vận chuyển từ các tiểu khu B, 215, 216, 217 và 234A. Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là hoàn toàn đúng sự thật, không bị ép cung. Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo Q thì thấy rằng hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Q đã vi phạm các quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản, nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đam Rông truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về “Tội vi phạm các quy định về khai thác bảo vệ rừng và lâm sản” theo điểm b khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Do đó, không có cơ sở để xét xử bị cáo Q về “Tội vận chuyển lâm sản trái phép” theo đề nghị của người bào chữa.

Đối với các bị cáo Trần Văn T, Bùi Văn T7, Nguyễn Mạnh T4, Nguyễn Văn T6, Dương Văn V là thành viên tổ giám sát việc thực hiện gỗ tận thu, tận dụng theo quyết định số 39/QĐ ngày 08/9/2021 của Ban Q2, các bị cáo Đinh Văn D (Đinh Tiến D1) là người được Chủ tịch UBND xã P phân công phối hợp với tổ giám sát, giám sát chặt chẽ việc khai thác gỗ tận thu, tận dụng; Bị cáo Phạm Tiến M là kiểm lâm viên phụ trách địa bàn được Hạt trưởng hạt kiểm lâm phân công phối hợp với tổ giám sát, giám sát chặt chẽ việc khai thác gỗ tận thu, tận dụng theo công văn số 03 của Ban Q2, các bị cáo biết rõ nhiệm vụ của các bị cáo là giám sát chặt chẽ việc khai thác gỗ tận thu, tận dụng gồm có 74 cây tại các T, 234A, nhưng trong quá trình giám sát, các bị cáo đã tự ý cho phép bị cáo Nguyễn Văn Q và các thợ cưa của bị cáo Nguyễn Văn Q khai thác thêm 122 cây gỗ nằm ngoài hồ sơ thiết kế. Cụ thể, tại tiểu khu B, số cây được phép khai thác là 15 cây, nhưng các bị cáo đã cho phép thợ cưa của bị cáo Q khai thác thêm 05 cây gỗ, số cây này trên đất nông nghiệp, trong đó có 01 cây gỗ thông tươi; Tại tiểu khu B, số cây được phép khai thác là 09 cây, nhưng các bị cáo đã cho phép thợ cưa của bị cáo Q khai thác thêm 12 cây gỗ, toàn bộ số cây này nằm trên đất rừng sản xuất. Tại tiểu khu B, số cây được phép khai thác là 46 cây, nhưng các bị cáo đã cho phép thợ cưa của bị cáo Q khai thác thêm 88 cây ngoài hồ sơ thiết kế, toàn bộ số cây này nằm trên đất rừng sản xuất, gồm: 77 cây Thông ba lá, khối lượng lâm sản còn lại hiện trường là 42,345 m³; 11 cây Chò tươi, khối lượng lâm sản còn lại hiện trường 2,567 m³. Tại tiểu khu B, số cây được phép khai thác là 03 cây, nhưng các bị cáo đã cho phép thợ cưa của bị cáo Q khai thác thêm 02 cây, số cây này trên đất nông nghiệp. Tại thiểu khu 217, mặc dù tiểu khu này không được phép khai thác nhưng các bị cáo đã để cho bị cáo Q khai thác 15 cây (trong đó có 05 cây trên đất nông nghiệp, 10 cây trên đất rừng phòng hộ).

Theo các bị cáo khai việc cho bị cáo Q khai thác gỗ ngoài hồ sơ thiết kế là do các cây gỗ này có nguy cơ ngã đổ, một số cây đã vàng lá, nếu không khai thác sẽ chết hoặc bị ngã đô vào đường giao thông, đường điện, mặc dù chưa rà soát, chưa được thiết kế nhưng vì lo ngại cho người dân nên các bị cáo đã cho bị cáo Q khai thác. Còn việc bị cáo Q vận chuyển gỗ về xưởng, các bị cáo biết nhưng vẫn để bị cáo Q vận chuyển. Tuy nhiên, các bị cáo khai không có động cơ vụ lợi mà chỉ với mục đích bảo vệ tài sản và tính mạng của người dân trong mùa mưa bão.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa hôm nay thì thấy rằng hành vi của các bị cáo Trần Văn T, Bùi Văn T7, Nguyễn Mạnh T4, Nguyễn Văn T6, Dương Văn V, Đinh Văn D (Đinh Tiến D1), Phạm Tiến M là hành vi vi phạm quy định về quản lý bảo vệ rừng, nên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố các bị cáo Trần Văn T, Bùi Văn T7, Nguyễn Mạnh T4, Nguyễn Văn T6, Dương Văn V, Đinh Văn D (Đinh Tiến D1), Phạm Tiến M theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 233 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn Q là rất nghiêm trọng, bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo biết rõ khi ký hợp đồng khai thác gỗ tận thu, tận dụng với Ban Q2 chỉ được phép khai thác 74 cây thông và sau khi khai thác gỗ xong thì vận chuyển về bãi tập kết gỗ của Ban Q2, nhưng vì động cơ vụ lợi, muốn lấy gỗ bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân, mà bị cáo đã cấu kết với thành viên tổ giám sát, bị cáo Phạm Tiến M và bị cáo Đinh Văn D khai thác một cách trái phép lâm sản với khối lượng 33,801m³ và vận chuyển 13 chuyến gỗ về xưởng cưa của bị cáo, hành vi của bị cáo Q đã xâm phạm đến chế độ quản lý, bảo vệ rừng của nhà nước, nên hành vi của bị cáo cần phải xử lý trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự. Bị cáo Q vì mục đích kinh tế, tư lợi cá nhân mà cố tình thực hiện hành vi vi phạm nên Hội đồng xét thấy cần thiết áp dụng hình thức phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

Các bị cáo Trần Văn T, Đinh Văn D (Đinh Tiến D1), Phạm Tiến M, Bùi Văn T7, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Mạnh T4, Dương Văn V là người có chức vụ, quyền hạn trong lĩnh vực quản lý Lâm nghiệp, nhưng các bị cáo đã không thực hiện hết trách nhiệm của mình, mà tự ý cho phép bị cáo Nguyễn Văn Q là giám đốc công ty TNHH Q3 khai thác 122 cây gỗ thông, gỗ chò với khối lượng lâm sản là 33,801m³ một cách trái phép, các bị cáo biết rõ chủ trương của UBND huyện Đ là cho phép cắt, tỉa, mé nhánh 74 cây đã được rà soát, tránh ngã, đổ nhằm bảo vệ tính mạng tài sản của người dân trong mùa mưa bão năm 2021. Nhưng lợi dụng chủ trương của UBND huyện, cho phép khai thác gỗ tận thu để đơn vị thi công là bị cáo Q khai thác trái phép cây thông cây chò, hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý, bảo vệ rừng của nhà nước nên hành vi của các bị cáo Trần Văn T, Bùi Văn T7, Nguyễn Mạnh T4, Nguyễn Văn T6, Dương Văn V, Đinh Văn D (Đinh Tiến D1), Phạm Tiến M phải xử phạt theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 233 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

Trong vụ án này còn có Ban QLRPH Phi Liêng, là đơn vị chủ trì giám sát việc khai thác tận thu. Tuy nhiên, việc Tổ giám sát tự ý cho phép đơn vị thi công khai thác 122 cây gỗ ngoài hồ sơ thiết kế, không báo cáo lại cho lãnh đạo đơn vị, nên không có căn cứ xem xét xử lý. Đối với ông Nguyễn Trường G, quá trình điều tra không có căn cứ chứng minh việc tiếp tay, bao che cho các bị can khai thác ngoài hồ sơ thiết kế. Vì vậy không đủ căn cứ để xử lý hình sự.

Đối với Hạt kiểm lâm Đ4, Ủy ban nhân dân xã P là hai đơn vị có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Tổ giám sát của Ban QLRPH Phi Liêng. Đã phân công cán bộ để tham gia phối hợp. Tuy nhiên, chưa đến ngày nghiệm thu, bị cáo Đinh Văn D và Phạm Tiến M chưa kịp thời báo cáo kết quả. Vì vậy, các đơn vị trên chưa kịp thời nắm bắt, nên không có căn cứ xem xét xử lý.

Đối với Hà Duyên B1 là người làm thuê cho bị cáo Nguyễn Văn Q, B1 không thể biết được là số gỗ cưa hạ phải tập kết ở đâu, việc vận chuyển theo sự chỉ đạo của bị cáo Q. Toàn bộ quá trình vận chuyển gỗ vào ban ngày, không có ai áp tải, không bị lực lượng chức năng nhắc nhở, hay lập biên bản. Do vậy, không có căn cứ để xem xét xử lý.

Đối với các thợ cưa Lò Văn M2, Đặng Đăng L5, Viên Văn Đ1, Trần Thanh T12, Đỗ Văn C1, Tạ N7, đều là những người làm nông, không phải thợ cưa chuyên nghiệp, được thuê đi cưa. Do quá trình cưa hạ ồ ạt, nhiều cá nhân chỉ đạo nên các thợ cưa không nhớ được chính xác đã cưa hạ tổng cộng bao nhiêu cây, các cây nào là do mình cưa hạ. Bản thân các thợ cưa cũng không thể biết được hồ sơ thiết kế là gì và cây nào được phép khai thác, cây nào không được phép khai thác. Quá trình cưa hạ, các thợ cưa được trả công theo ngày, không có lợi ích gì khác. Do đó, xác định hành vi của các thợ cưa không có dấu hiệu của tội phạm.

[3] Về vai trò của các bị cáo trong vụ án vi phạm về quản lý bảo vệ rừng trong vụ án này như sau:

Đối với bị cáo Trần Văn T là phó phụ trách phòng kỹ thuật, đồng thời là người được giao thực hiện việc ra soát cây gỗ có nguy cơ ngã đổ, xây dựng hồ sơ thiết kế khai thác gỗ để trình UBND huyện phê duyệt, tổ trưởng tổ giám sát việc khai thác, vận chuyển gỗ tận thu, tận dụng, đồng thời bị cáo biết rõ vai trò, chức năng nhiệm vụ của mình, biết rõ số cây được phép khai thác, số cây không được phép khai thác, nhưng bị cáo để cho bị cáo Nguyễn Văn Q khai thác 122 cây gỗ ngoài hồ sơ thiết kế, biết rõ Nguyễn Văn Q chở 13 chuyến gỗ về xưởng của bị cáo Q, nhưng bị cáo không chỉ đạo lập biên bản, do đó bị cáo Trần Văn T là người giữ vai trò chính trong vụ án này.

Đối với bị cáo Đinh Văn D (Đinh Tiến D1), với vai trò là người phối hợp giám sát, bị cáo D1 đã trực tiếp chỉ các cây gỗ ngoài hồ sơ để thợ cưa của bị cáo Q cưa hạ trong tất cả các tiểu khu, ngoài ra khi thấy H Biến chỡ gỗ về Ban Q2 và về xưởng cưa bị cáo Q bị cáo biết nhưng không có ý kiến gì nên trong vụ án này bị cáo D1 giữ vai trò đồng phạm trong vụ án.

Đối với bị cáo Bùi Văn T7 là trạm trưởng trạm quản lý bảo vệ rừng P, đồng thời là tổ phó tổ giám sát, bị cáo Nguyễn Văn T6 là nhân viên nhân viên trạm quản lý bảo vệ rừng Phi Liêng trực tiếp quản lý tiều khu 215 đây là tiểu khu khai thác gỗ trái phép nhiều nhất, nên các bị cáo Bùi Văn T7, bị cáo Nguyễn Văn T6 cũng là đồng phạm trong vụ án này. Bị cáo Nguyễn Mạnh T4 được bị cáo Trần Văn T giao nhiệm vụ đi rà soát các cây gỗ có nguy cơ ngã đổ, là thành viên tổ giám sát, bị cáo Phạm Tiến M là kiểm lâm viên được hạt trưởng hạt Kiểm Lâm phân công phối hợp giám sát, bị cáo Dương văn V1 là cán bộ tiểu khu B, 234A, thành viên tổ giám sát, nhưng các bị cáo M, bị cáo T4, bị cáo V1 giám sát một cách qua loa, biết bị cáo Q khai thác 122 cây gỗ ngoài hồ sơ thiết kế nhưng không có ý kiến phản đối hay lập biên bản vi phạm, nên các bị cáo V1, M, T4 là đồng phạm trong vụ án này. Tuy nhiên, bị cáo V1 và bị cáo T4 là thành viên tổ giám sát và bị cáo M phối hợp giám sát nhưng chỉ tham gia giám sát một số tiểu khu, còn lại được phân công làm việc khác nên bị cáo V1, T4, M là người giữ vai trò thứ yếu trong vụ án này.

[4] Về nhân thân của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân các bị cáo: Đối với các bị cáo Trần Văn T, Đinh Văn D, Phạm Tiến M, Nguyễn Mạnh T4 đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Đối với bị cáo Nguyễn Văn T6 trước đây bị cáo phạm tội đánh bạc bị Tòa án nhân dân huyện Đam Rông xử phạt 40.000.000 đồng vào năm 2015, đã được xóa án tích, bị cáo Nguyễn Văn Q ngày 10/7/1997 bị Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vận chuyển, buôn bán lâm sản trái phép; Ngày 21/3/2017 bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”, hình thức phạt tiền, mức phạt 1.500.000 đồng; đã chấp hành xong và đến nay đã được xóa án tích, nên các bị cáo Bùi Văn T7, Nguyễn văn Q1, Nguyễn Văn T6 có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Đối với bị cáo Nguyễn Văn Q, sau khi phạm tội bị cáo đã biết ăn năn hối cải về hành vi việc làm của mình, nhận thức được hành vi sai trái, thành khẩn khai báo, đã tự nguyện nộp số tiền 30.000.000 đồng để cùng các bị cáo khác khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra, tích cực hợp tác với các cơ quan trong quá trình giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Q. Về ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Q đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” theo quy định tại điểm i, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì hành vi của bị cáo Q là nghiêm trọng do đó không có cơ sở chấp nhận theo đề nghị của người bào chữa.

Đối với bị cáo Trần Văn T, sau khi phạm tội, bị cáo đã rất thành khẩn trong khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi việc làm của mình, bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 30.000.000 đồng để cùng các bị cáo khác, khắc phục hậu quả, trong quá trình công tác bị cáo đã được tặng nhiều giấy khen, gia đình bị cáo có ông N8 tên Trần Phạm là người có công với cách mạng, nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Trần văn T15.

Đối với bị cáo Đinh Văn D (Đinh Tiến D1) sau khi phạm tội, bị cáo đã rất thành khẩn trong khai báo, biết ăn năn hối cải về hành vi việc làm của mình, bị cáo đã tự nguyện nộp số tiền 30.000.000 đồng để cùng các bị cáo khác, khắc phục hậu quả, trong quá trình công tác bị cáo đã được tặng nhiều giấy khen, Bằng khen nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Đinh văn D2.

Đối với các bị cáo Bùi Văn T7, Nguyễn Văn T6, Phạm Tiến M, Nguyễn Mạnh T4, Dương Văn V sau khi phạm tội các bị cáo đã biết ăn năn hối cải về hành vi việc làm của mình, nhận thức được hành vi sai trái, thành khẩn khai báo, tự nguyện nộp số tiền 30.000.000 đồng để cùng các bị cáo khác khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra, trong quá trình công tác bị cáo đã được tặng nhiều giấy khen, nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

Các bị cáo T15, D2, T4, M, V đều có ít nhất 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, ngày 05/3/2024 cơ quan điều tra có văn bản số 63 về việc đề nghị Hội đồng định giá tách giá trị thiệt hại về lâm sản của 33, 801m³. Ngày 12/3/2024 Hội đồng định giá có văn bản số 04 trả lời không có cơ sở để tách giá trị thiệt hại về Lâm sản.

Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn dân sự không đưa ra được yêu cầu cụ thể để yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại. Nhưng các bị cáo tự nguyện nộp số tiền 15.590.000đ để bồi thường cho nguyên đơn dân sự và nguyên đơn dân sự đồng ý, xét thấy đây là ý chí tự nguyện của các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận và buộc mỗi bị cáo phải bồi thường cho Ban Q2 số tiền 15.590.000 đồng/ bị cáo nhưng được trừ vào số tiền mà các bị cáo đã tạm nộp trước 30.000.000 đồng, số tiền còn lại hoàn trả cho mỗi bị cáo 14.410.000 đồng.

Tại phiên tòa, ông Hà Duyên B1 yêu cầu bị cáo Q phải trả cho ông 30.000.000 đồng (đối với chiếc máy cày bị tịch thu), bị cáo Q đồng ý nên Hội đồng xét xử ghi nhận, buộc bị cáo Q phải trả cho ông Biến số tiền này.

[6] Về tang vật vụ án: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đối với 01 đầu ghi hình màu đen, đã qua sử dụng, nhãn hiệu Dahua Digital Video Recorder, model: DH-XVR1A04, số S/N: 6E08947PAZ51D12, đây là tài sản hợp pháp của bị cáo Q, không liên quan đến hành vi phạm tội nên tuyên trả lại cho bị cáo Q; Đối với 01 máy cưa xăng cầm tay nhãn hiệu MOTOKAWA MK-9999 CHAIN SAW, màu cam trắng (thu giữ của Nguyễn Văn Q); 01 xe máy cày độ chế có 06 bánh xe, đầu xe màu đỏ, thùng xe màu xanh lá cây, có hàn các cọc sắt 02 bên thùng xe để che hàng và tời hàng. Xét thấy đây là công cụ, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

[7] Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm, riêng bị cáo Nguyễn Văn Q sinh năm 1960 nên theo quy định tại Điều 2 Luật người cao tuổi thì bị cáo là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12, Điều 13 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Q.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 232, các điểm b, s, t khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm “Tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 400.000.000 đồng (Bốn năm triệu đồng).

  2. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 233, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, 58, Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm “Tội vi phạm quy định về quản lý rừng”.

    Xử phạt bị cáo Trần Văn T 14 (mười bốn) tháng 15 (mười lăm) ngày tù. Bằng thời hạn tạm giam.

  3. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 233, các điểm b, s, v khoản 1 Điều 51, Điều 54, 58, Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Đinh Văn D (Đinh Tiến D1) phạm tội “ Vi phạm quy định về quản lý rừng”.

    Xử phạt bị cáo Đinh Văn D (Đinh Tiến D1) 17 (Mười bảy) tháng 16 (Mười sáu) ngày tù. Bằng thời hạn tạm giam.

  4. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 233, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, 58, Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố các bị cáo Phạm Tiến M, Nguyễn Mạnh T4, Dương Văn V phạm tội “Vi phạm quy định về quản lý rừng”.

    Xử phạt bị cáo Phạm Tiến M, Nguyễn Mạnh T4, Dương Văn V mỗi bị cáo 07 (bảy) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù. Thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam.

  5. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 233, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 58, Điều 65 Bộ luật hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T7, Nguyễn Văn T6 phạm tội “ Vi phạm quy định về quản lý rừng”.

    Xử phạt bị cáo Bùi Văn T7 30 (Ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án (11/06/2024).

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T6 24 (Hai mươi bốn) tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 48 tháng kể từ ngày tuyên án (11/06/2024).

    Giao bị cáo Bùi Văn T7, Nguyễn Văn T6 cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì việc giám sát bị cáo thực hiện theo Điều 100 Luật thi hành án hình sự.

  6. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn Q, Trần Văn T, Đinh Văn D, Bùi Văn T7, Nguyễn Văn T6, Phạm Tiến M, Nguyễn Mạnh T4, Dương Văn V mỗi bị cáo phải bồi thường cho Ban Q2 số tiền 15.590.000 đồng. Nhưng được trừ vào số tiền mà các bị cáo đã tạm nộp trước 30.000.000 đồng, tại tài khoản tạm gửi số 3949.0.1048910.00000 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đam Rông. Hoàn trả lại cho các bị cáo Nguyễn Văn Q, Trần Văn T, Đinh Văn D, Bùi Văn T7, Nguyễn Văn T6, Phạm Tiến M, Nguyễn Mạnh T4, Dương Văn V số tiền còn thừa mỗi bị cáo là 14.410.000 đồng.

    Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải trả cho ông Hà D3 Biến số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  7. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. T16 trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Q 01 đầu ghi hình màu đen, đã qua sử dụng, nhãn hiệu Dahua Digital Video Recorder, model: DH-XVR1A04, số S/N: 6E08947PAZ51D12; Tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 máy cưa xăng cầm tay nhãn hiệu MOTOKAWA MK-9999 CHAIN SAW, màu cam trắng; 01 xe máy cày độ chế có 06 bánh xe, đầu xe màu đỏ, thùng xe màu xanh lá cây, có hàn các cọc sắt 02 bên thùng xe để che hàng và tời hàng, hiện đã chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/8/2022.
  8. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật hình sự, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Trần Văn T, Đinh Văn D, Bùi Văn T7, Nguyễn Văn T6, Phạm Tiến M, Nguyễn Mạnh T4, Dương Văn V mỗi bị cáo phải 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn Q.

Các bị cáo, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 11/6/2024, riêng những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo trình tự thủ tục phúc thẩm./.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Bùi Văn T7, Nguyễn Văn T6).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đông;
  • - VKSND H.Đam Rông;
  • - CQ Đtra CA H.Đam Rông;
  • - CQ THAHS H.Đam Rông;
  • - CC THADS H.Đam Rông;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Thúy Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAM RÔNG TỈNH LÂM ĐỒNG về vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản; vi phạm quy định về quản lý rừng

  • Số bản án: 14/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng và lâm sản; Vi phạm quy định về quản lý rừng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAM RÔNG TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Q và các cán bộ BQLR PH phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger