Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/DS-PT

Ngày: 11/01/2024

“V/v tranh chấp hợp đồng cầm cố

quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng;

Các Thẩm phán:Ông Hồ Văn Phụng;

Ông Trần Nam Trung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Sơn Cươl – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 242/2023/TLPT-DS ngày 02 tháng 11 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 60/2023/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 353/2023/QĐ-PT ngày 05 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Châu Văn S; Sinh năm 1949; Địa chỉ: Số C ấp B, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (đã chết)

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn Châu Văn S:

  1. Bà Hứa Thị Sà Q; Sinh năm 1958; Địa chỉ: Số C ấp B, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
  2. Người đại diện hợp pháp của bà Hứa Thị Sà Q: Bà Mai Hồng L; Sinh ngày 01/01/1993; Địa chỉ: Số A đường C, KDC M, Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (theo giấy ủy quyền ngày 26/12/2023) (có mặt)

  3. Bà Châu Thị Hồng L1; Sinh năm 1998; Địa chỉ: Số C ấp B, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
  4. Ông Châu Hồng N; Sinh năm 2000; Địa chỉ: Số C ấp B, xã K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn Châu Văn S là bà Châu Thị Hồng L1 và ông Châu Hồng N: Bà Mai Hồng L – Luật sư của văn phòng luật sư Trương Hoài P, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; Địa chỉ: Số A đường C, KDC M, Phường G, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).

- Bị đơn: Ông Trương Văn T; Sinh năm 1957; Địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trà Thị T1; Sinh năm 1957; Địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
  2. Bà Trương Thị Y; Sinh năm 1978; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
  3. Bà Trương Thị Bích T2; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
  4. Bà Trương Thị Mộng T3; Sinh năm 1985; Địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
  5. Ông Trương Thanh T4; Sinh năm 1989; Địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
  6. Ủy bản nhân dân huyện T; Địa chỉ: Khu H ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Người đại diện theo ủy quyền: Bà Huỳnh Minh N1 – Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

- Theo đơn khởi kiện ngày 23/3/2022 (Bút lục 02), Biên bản lấy lời khai ngày 07/02/2023 (Bút lục 58), quá trình giải quyết vụ án (Bút lục 144) và tại phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn là ông Châu Văn S cũng như người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông S là bà Hứa Thị Sà Q, chị Châu Thị Hồng L1 và anh Châu Hồng N đều trình bày:

Ông Châu Văn S có quyền sử dụng 17.700m² đất thuộc thửa 330, tờ bản đồ số 06; tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Nguồn gốc quyền sử dụng đất nêu trên do ông S được cha mẹ là cụ Châu Văn T5 - Trần Thị L2 cho từ trước năm 1975; khi được chia đất, ông S không đo đạc, không kê khai đăng ký, chỉ biết là cha của ông S nói cho 14 công. Sau khi được chia đất, ông S chỉ làm được 03 năm nhưng đều thất thu nên ngay năm sau là cố cho ông T, không còn cầm cố cho ai khác. Cụ thể, vào năm 1993, dù chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông S đã cầm cố toàn bộ thửa đất cho ông Trương Văn T để lấy 08 (Tám) chỉ vàng 24K.

Về hình thức của Hợp đồng cầm cố, ông S có hai lời khai; một là, không được lập thành văn bản, chỉ thỏa thuận bằng lời nói, không xác định thời hạn; hai là, ông S với ông T có làm giấy tờ cầm cố đất nhưng ông S không giữ giấy này vì tin tưởng ông T là cháu, ngoài giấy tờ cố đất này thì ông S với ông T không còn ký kết văn bản thỏa thuận gì khác. Từ khi cố đất cho ông T, ông S không tới lui kiểm tra việc sử dụng đất, không gặp gỡ trao đổi gì với ông T cho đến hơn 20 năm sau mới đòi chuộc lại do có Luật sư tư vấn; ông T không đồng ý cho chuộc, với lý do đã mua đất của ông Sinh từ năm 1993 nên xảy ra tranh chấp.

Ngày 26/01/2018, khi hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã T, ông S mới biết ông T đã được Ủy ban nhân dân huyện M (Nay là Ủy ban nhân dân huyện T) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhận cầm cố của ông S.

Về quan hệ thừa kế của ông S: Bà Q, chị L1 và anh N cùng khẳng định ông S có vợ trước nhưng đã ly thân, không còn qua lại từ năm 1993, vợ trước của ông S đã bỏ đi đâu đến nay không rõ; không có thông tin về con riêng, con nuôi của ông S.

Bà Hứa Thị Sà Q và chị Châu Thị Hồng L1, anh Châu Hồng N là những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Châu Văn S khẳng định chữ ký trong Tờ sang nhượng đất mà ông T xuất trình không phải là của ông S nhưng không yêu cầu gì khác, cũng không có chữ ký nào khác của ông S gần trước và sau thời điểm năm 1993; đã rất nhiều lần ông T gặp ông S với bà Q yêu cầu ông S chuộc đất, ông S không chuộc mà kêu ông T cứ làm, trao đổi này được thực hiện ngoài đường và có người biết nhưng bà Q không nhớ ai; ngoài ra, thời điểm ông S hấp hối vào ngày 24/4/2023, ông S vẫn dặn dò vợ con rằng khi nào có vàng thì chuộc lại đất cầm cố cho ông T. Nay, bà Q với chị L1 và anh N có thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau:

  1. Buộc ông Trương Văn T cho phía nguyên đơn chuộc lại diện tích đất đã cầm cố nêu trên với giá 08 (T) chỉ vàng 24K.
  2. Chỉ xem xét việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Trương Văn T vào ngày 01/10/1994 đối với 17.700m² đất thuộc thửa 330, tờ bản đồ số 06 tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn giao nộp gồm: Bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Sổ hộ khẩu gia đình ông S; bản fotocoppy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; bản sao Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 10/2018/QĐST-DS; Đơn yêu cầu hòa giải ngày 25/4/2017 và ngày 11/8/2017 của ông S; Biên bản hòa giải ngày 12/8/2017 của Tổ hòa giải ấp T; Biên bản hòa giải ngày 14/12/2017, ngày 26/01/2018; bản sao Trích lục khai tử của ông S; Tờ tường trình về quan hệ nhân thân của ông S; xuất trình tại phiên tòa Bằng khen số 21 ngày 21/9/2006, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh S tặng Hứa Thị Xa Q1.

- Theo Biên bản lấy lời khai ngày 02/8/2022 (Bút lục 40) cũng như quá trình giải quyết vụ án (Bút lục 143) và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn là ông Trương Văn T trình bày:

Ông T với ông Châu Văn S (Tên gọi khác là Châu Ngọc X) là bà con xa với nhau, ông T gọi ông S bằng chú. Ông S là người quê gốc ở ấp H, xã T, huyện T; đến khi có vợ hai, mới chuyển đi sinh sống bên huyện K từ năm 1993. Cũng vào năm 1993, ông S với vợ trước là bà Bùi Thị C (Đã bỏ địa phương đi nơi khác, gần 30 năm nay không trở về và không ai biết bà C đi đâu) có chủ động mời ông T mua diện tích đất 13 công sáu tầm ba thước tại ấp T, xã T, huyện M (N là Trần Đ).

Sau khi ông S mời mua đất, ông T tìm hiểu thì biết thửa đất trên đã được ông S cầm cố cho ông Phan Văn H (8 H), cư trú tại ấp T; giá cầm cố là 07 chỉ vàng 24K. Ông T trao đổi với ông H về việc ông S mời mua đất mà ông H đang nhận cầm cố, được ông H cho biết nếu ông S bán đất cho ông T thì ông S phải trả lại ông H 07 chỉ vàng đã nhận, ông H sẽ không giao đất nếu ông T chưa trả vàng cho ông H để chuộc đất do ông S cầm cố. Tiếp đó, ông T làm việc với ông S và đôi bên thống nhất giá mua bán là 13 chỉ vàng 24K; ông S sẽ trả lại 07 chỉ vàng ngay cho ông H để ông T nhận đất. Vào ngày 03/12/1993, vợ chồng ông S với ông T đã tiến hành mua bán diện tích đất trên theo giá đã thỏa thuận; đôi bên có làm giấy tay và có sự chứng kiến của 04 nhân chứng là cụ Châu Văn T5 (Cha của ông S), ông Phan Văn H (Là người nhận cầm cố trước), ông Phan Văn Đ1 (Đã chết năm 2019), ông Trà Văn X1 (Ấp T). Giấy tay mua bán là Tờ sang nhượng đất do ông Tư v, tên “Châu Ngọc X” được ghi theo ông S đọc, ông T cũng không biết chính xác tên của ông S.

Ngay khi ông T giao trả vàng mua đất, ông S đã trả ông H 07 chỉ và ông T nhận đất canh tác từ ngày 03/12/1993 đến nay. Ngày 13/5/1994, ông S đã đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện M (Nay là huyện T) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 01/10/1994. Tại thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất, những người trong hộ ông T cùng trực tiếp sử dụng chỉ có ông T và vợ là bà Trà Thị T1; các con của ông T còn nhỏ, chưa đủ tuổi lao động nên ông T không kê khai. Hiện tại, quyền sử dụng đất nêu trên vẫn do vợ chồng ông T quản lý nhưng cho các con canh tác, chưa làm thủ tục tặng cho theo quy định của pháp luật, toàn bộ diện tích thửa đất được sử dụng trồng lúa theo mùa vụ.

Ông T đã mua quyền sử dụng đất của ông S, đã trực tiếp quản lý và sử dụng liên tục 30 năm, không có việc nhận cầm cố đất của Sinh nên không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông S.

Ông Trương Văn T giao nộp bản chính Tờ sang nhượng đất, đề ngày 03/12/1993, sau khi đối chiếu đã nhận lại ngay và không có yêu cầu gì khác.

- Quá trình giải quyết vụ án (Bút lục 143) và tại phiên tòa sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trà Thị T1, chị Trương Thị Y, chị Trương Thị Bích T2, chị Trương Thị Mộng T3 và anh Trương Thanh T4 đều trình bày:

Hoàn toàn thống nhất với lời trình bày của bị đơn; không giao nộp tài liệu, chứng cứ; không có yêu cầu gì khác, cùng đề nghị Tòa án bác đơn khởi kiện của nguyên đơn Châu Văn S.

- Quá trình giải quyết vụ án (Bút lục 143), đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện T là bà Huỳnh Minh N1 trình bày:

Ủy ban nhân dân huyện M (Nay là Trần Đ), tỉnh Sóc Trăng đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có Số vào sổ 00113 ngày 01/10/1994 đảm bảo đúng trình tự, thủ tục tại thời điểm cấp; đúng đối tượng, đúng quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Đối với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận đã cấp nêu trên, Ủy ban nhân dân huyện T yêu cầu áp dụng thời hiệu về tố tụng hành chính; đồng thời, khẳng định nguyên đơn yêu cầu hủy Giấy chứng nhận là hoàn toàn không có căn cứ, bởi việc cấp Giấy chứng nhận đúng quy định của pháp luật.

Ủy ban nhân dân huyện T không có yêu cầu gì khác, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

- Tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được là: Biên bản lấy lời khai của nguyên đơn, bị đơn; bản sao hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trương Văn T, Văn bản trả lời về việc cấp Giấy chứng nhận này; Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ đối với quyền sử dụng đất là đối tượng của Hợp đồng; các biên bản xác minh về nguồn gốc, quá trình giao dịch và sử dụng đất, hiện trạng sử dụng đất, thông tin về hộ tịch của ông Châu Văn S. Các đương sự không có ý kiến phản đối về tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập được.

Vụ án được Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết. Tại Bản án sơ thẩm số 60/2023/DS-ST ngày 22/9/2023 đã quyết định:

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 1 và Khoản 2 Điều 143, Khoản 3 Điều 144, Khoản 1 Điều 147, Khoản 1 Điều 157, Điều 158, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 116, Điều 309 của Bộ luật dân sự; Căn cứ vào điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Châu Văn S đối với phía bị đơn là ông Trương Văn T, về việc “Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất” có đặc điểm, diện tích, vị trí theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định pháp luật.

Ngày 03/10/2023, bà Hứa Thị Sà Q là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét giải quyết sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nuyên đơn không rút đơn khởi kiện, vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Các đương sự không thống nhất được với nhau về việc giải quyết tranh chấp.

Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật và chấp hành pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm. Đồng thời, phát biểu quan điểm về tính có căn cứ và hợp pháp của kháng cáo. Từ đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn. Giữ nguyên án sơ thẩm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng của những người tham gia tố tụng, ý kiến phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tính hợp lệ của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét đơn kháng cáo đề ngày 03/10/2023 do bà Q là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn nộp qua dịch vụ bưu chính ngày 03/10/2023 đến Tòa án nhân dân huyện Trần Đề ngày 04/10/2023 là hợp lệ, đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn, hình thức và nội dung kháng cáo theo quy định các Điều 271, 272, 273 và 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nên Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa phúc thẩm: Bà Huỳnh Minh N1 là người đại diện hợp pháp của Ủy ban nhân dân huyện T vắng mặt, nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 3 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà N1.

[3] Về nội dung: Các bên đương sự đều thừa nhận vào năm 1993, giữa ông S với ông T có giao dịch về đất 13 công diện tích 17.700m², thuộc thửa đất số 330, tờ bản đồ số 06, tọa lạc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự về những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Do đó, có căn cứ xác định giữa ông S với ông T có thoả thuận giao dịch về đất đai trên thực tế.

[4] Xét bà Q là người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét giải quyết, sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử thấy: Theo Biên bản xác minh ngày 17/8/2023 được ông Nguyễn Văn H1, ông H và ông X1 là người cung cấp thông tin: Nguồn gốc thửa đất do cụ Châu Văn T5 (Cha của ông S) khai phá trước năm 1975, sau đó Nhà nước trang trải cho các hộ khác theo chủ trương liền canh, liền cư. Khoảng năm 1990, cụ T5 được nhận lại đất gốc nhưng không sử dụng mà cho ông S; hiện trạng chỉ là đất lung bào, đìa hoang và ông S cũng không cải tạo đất, chỉ quản lý đất trên danh nghĩa; đến năm 1992, ông S cầm cố cho ông Phan Văn H (8 H) nhưng ông H sử dụng được 02 vụ/năm thì ông S lại bán cho ông T, gia đình ông T canh tác từ năm 1993 đến nay. Việc mua bán này được ông Phan Văn H, ông Trà Văn X1, ông Phan Văn Đ1 và cụ Châu Văn T5 chứng kiến, cùng ký tên vào văn bản. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

[5] Từ những nhận định, phân tích trên, xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ chấp nhận, xét toàn bộ kháng cáo của người kế thừa quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn ông Châu Văn S là bà Hứa Thị Sà Q là không có căn cứ chấp nhận.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Hứa Thị Sà Q được miễn án phí dân sự phúc thẩm do là người cao tuổi

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148, Điều 293, khoản 6 Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

* Không chấp nhận kháng cáo của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn Châu Văn S là bà Hứa Thị Sà Q. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 60/2023/DS-ST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng và được tuyên lại như sau:

Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 1 và Khoản 2 Điều 143, Khoản 3 Điều 144, Khoản 1 Điều 147, Khoản 1 Điều 157, Điều 158, Khoản 1 Điều 227, Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 116, Điều 309 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ vào điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 3 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Châu Văn S đối với phía bị đơn là ông Trương Văn T, về việc “Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất” có đặc điểm, diện tích, vị trí theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ như sau:

  • - H: Giáp thửa 329 và 331 (Thửa mới là 525, 527), do ông Lưu Văn C1 và Lưu Văn K đang sử dụng; có số đo lần lượt là 16,66m + 28,78m + 95,20m + 8,73m + 21,47m + 64,08m + 15,05m.
  • - Hướng Tây: Một phần giáp thửa 258, do ông Lưu Văn C1 đang sử dụng; có số đo lần lượt là 41,12m + 2,39m + 2,80m + 2,62m + 4,95m và một phần giáp thửa 257, do ông Nguyễn Thanh B đang sử dụng; có số đo lần lượt là 43,04m + 19,61m + 43,66m + 76,49m + 34,61m.
  • - H: Giáp thửa 440, thửa 440 này do ông Trương Văn T sử dụng 2.388,8m² và phần còn lại do ông Lưu Văn C1 đang sử dụng; cạnh hướng Nam có số đo là 73,14m.
  • - Hướng B1: Giáp thửa 259 và thửa 301, do ông Lưu Văn C1 đang sử dụng; có số đo lần lượt là 19,93m + 15,33m + 27,76m + 6,07m.

Diện tích đo đạc thực tế là 18.158,8m² thuộc thửa 330, tờ bản đồ số 06; tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 01/10/1994 cho hộ Trương Văn T. Thửa đất có ranh giới tử cận là những bờ đất cũ, ổn định không có tranh chấp với những người sử dụng đất liền kề.

Hiện trạng toàn bộ thửa đất 330 là mặt bằng ruộng trồng lúa nhưng đã thu hoạch, chỉ còn là đất trống, không có bất cứ tài sản hay cây trồng lâu năm khác; do các anh chị Trương Thị Y, Trương Thị Bích T2, Trương Thị Mộng T3, Trương Thanh T4 cùng sử dụng trên cơ sở được ông Trương Văn T - bà Trà Thị T1 tặng cho.

2. Ông Châu Văn S phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền là 6.223.510 đồng (Sáu triệu hai trăm hai mươi ba ngàn năm trăm mười đồng). Các chi phí này, ông S đã nộp tạm ứng và thanh toán xong.

3. Miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Châu Văn S, do ông S được miễn nộp tiền tạm ứng án phí nên không phải xử lý. Phía bị đơn Trương Văn T cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

* Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Hứa Thị Sà Q được miễn toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm.

* Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

* Bản án phúc thẩm này có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - TAND huyện Trần Đề;
  • - Chi cục THADS huyện Trần Đề;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Lê Vũ Huy Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/DS-PT ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 12/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm là không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của NĐ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger