|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số:12/2024/HNGĐ-ST Ngày 10-7-2024 V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Quý
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Bích Hằng
Ông Ngô Duy Tùng
Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thu Hằng, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Đảo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Khổng Thị Chanh, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 106/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Phạm Thị D, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
- - Bị đơn: Anh Lăng Văn Đ, sinh năm 1983; địa chỉ: Khu I, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là chị Phạm Thị D trình bày:
- Về hôn nhân: Chị kết hôn với anh Lăng Văn Đ ngày 22/12/2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và được tự do tìm hiểu. Sau khi cưới, chị về sống cùng gia đình anh Đ tại Khu I, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình chung sống, tình cảm vợ chồng thời gian đầu bình thường, sau khoảng 5-7 năm thì vợ chồng chị phát sinh mâu thuẫn, do anh Đ thường xuyên say rượu, chửi bới vợ con, hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống, dẫn đến cuộc sống chung không hạnh phúc. Đến cuối năm 2023 thì vợ chồng đã sống ly thân, hiện tại chị đang ở cùng nhà mẹ đẻ tại xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Nay chị xác định vợ chồng không còn tình cảm, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ.
- Về con chung: Chị và anh Đ có 02 con chung là cháu Lăng Ngọc Đ1, sinh ngày 03/01/2007 và cháu Lăng Huy H, sinh ngày 10/11/2009. Hiện cháu Đ1, cháu H đang ở cùng chị D, ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Đ1 và cháu H, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung. Chị hiện nay buôn bán nội thất, bán tạp hóa tại nhà và làm thêm may mặc, có thu nhập khoảng 15.000.000đồng - 20.000.000đồng/tháng, thu nhập của chị đủ điều kiện nuôi con.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức và đất canh tác chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa, bị đơn là anh Lăng Văn Đ trình bày:
- Về hôn nhân: Anh và chị Phạm Thị D kết hôn với nhau vào ngày 22/12/2005. Trước khi kết hôn, vợ chồng anh chị được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau ngày cưới, vợ chồng anh chị chung sống với nhau tại Khu I, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Trong quá trình chung sống, anh không chửi bới vợ con, chỉ hay uống rượu với bạn bè, anh cho rằng giữa anh và chị D không xảy ra mâu thuẫn. Hiện nay chị D và hai con đã bỏ về nhà ngoại sinh sống tại T. Đến nay, anh xác định vẫn còn tình cảm với chị D, mong muốn cả gia đình về đoàn tụ với nhau. Chị D có đơn khởi kiện xin ly hôn, anh không nhất trí.
- Về con chung: Anh và chị D có 02 con chung là cháu Lăng Ngọc Đ1, sinh ngày 03/01/2007 và cháu Lăng Huy H, sinh ngày 10/11/2009. Hiện cháu Đ1, cháu H đang ở cùng chị D. Trường hợp ly hôn thì anh Đ nhất trí để chị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đ1 và cháu H. Về mức cấp dưỡng nuôi con chung, anh và chị D tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức và đất canh tác chung: Anh Lăng Văn Đ không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Cho chị Phạm Thị D được ly hôn anh Lăng Văn Đ; về con chung: Giao cho chị Phạm Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lăng Ngọc Đ1, sinh ngày 03/01/2007 và cháu Lăng Huy H, sinh ngày 10/11/2009, anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị D.
Chị D phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Chị Phạm Thị D có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn, giải quyết vấn đề con chung đối với anh Lăng Văn Đ; anh Đ cư trú tại xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Do vậy, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự, và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2].Về hôn nhân: Chị Phạm Thị D và anh Lăng Văn Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc ngày 22/12/2005, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc thời gian đầu, sau thời gian 5-7 năm thì đã phát sinh mâu thuẫn, đến cuối năm 2023 thì vợ chồng sống ly thân. Về mâu thuẫn thì đúng như các đương sự trình bày, các bên đã cố gắng hòa giải nhưng không được, anh Đ mong muốn đoàn tụ, chị D cũng tạo cơ hội để vợ chồng cải thiện tình cảm nhưng không thành. Hiện tại vợ chồng chị D, anh Đ đã không còn sống chung, chị D đã về nhà mẹ đẻ sinh sống tại xã Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Nay thấy không thể tiếp tục cuộc hôn nhân này được nữa nên chị D làm đơn xin ly hôn với anh Đ. Xét thấy: Chị D, anh Đ đã không còn sống chung với nhau từ cuối năm 2023 cho đến nay, không còn ai quan tâm đến ai, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Mặc dù, anh Đ không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị D, nhưng không đưa ra được phương án khắc phục mâu thuẫn, để vợ chồng về cùng chung sống đoàn tụ. Chị D cương quyết xin ly hôn với anh Đ, không đồng ý đoàn tụ. Thấy rằng, nếu tiếp tục cuộc sống hôn nhân sẽ không hạnh phúc và không đạt được mục đích nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu cho chị D được ly hôn với anh Đ.
[3].Về con chung: Chị Phạm Thị D và anh Lăng Văn Đ xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Lăng Ngọc Đ1, sinh ngày 03/01/2007 và cháu Lăng Huy H, sinh ngày 10/11/2009, hiện nay cháu Đ1, cháu H đang ở với chị D. Chị D có đề nghị được nuôi con, có thu nhập đảm bảo cho nhu cầu của cháu Đ1, cháu H, do vậy cần giao cháu Đ1, cháu H cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Anh Đ nhất trí với việc để hai con chung tiếp tục cho chị D nuôi dưỡng, anh không cấp Chị D không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4].Về tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng, công nợ, công sức và đất canh tác chung: Chị D và anh Đ không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[5].Về án phí: Chị Phạm Thị D phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, xử:
- Cho chị Phạm Thị D được ly hôn với anh Lăng Văn Đ.
- Giao cho chị Phạm Thị D được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lăng Ngọc Đ1, sinh ngày 03/01/2007 và cháu Lăng Huy H, sinh ngày 10/11/2009. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị D. Không ai được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.
- Chị Phạm Thị D phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001724 ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Chị D đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Các đương sự có quyền yêu cầu về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và yêu cầu về mức cấp dưỡng.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Hồng Quý |
|
Thành viên Hội đồng xét xử Trần Thị Bích Hằng Ngô Duy Tùng |
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Hồng Quý |
Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 10/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 12/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Pham Thi Dung xin ly hôn với anh Lang Van Dao
