|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 12/2024/HNGĐ - ST Ngày: 10 - 7 - 2024 V/v: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Nam
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lê Quang Thùy và bà Hoàng Thị Tường Vy
- Thư ký phiên tòa: bà Dương Thị Mỹ Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: ông Phan Bảo Cường, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 25/2024/TLST - HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-DS ngày 12/6/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: chị Phan Thị H, sinh năm 1994; Nơi ĐKHK thường trú: Tổ dân phố C, thị trấn Nông Trường L, huyện L, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.
Bị đơn: Anh Phạm Hữu H1, sinh năm 1983; Nơi ĐKHK thường trú: thôn Á, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam B, Cục C, Bộ C1, tại tỉnh Thừa Thiên Huế, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn, bản tự khai nguyên đơn chị Phan Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Phạm Hữu H1 có quá trình tìm hiểu, cùng tự nguyện thống nhất kết hôn vào ngày 04/4/2013 tại UBND thị trấn N, huyện L, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc tại thôn Á, xã V, huyện Q. Từ năm 2014 cho đến nay anh H1 liên tục bị Tòa án kết án và đi chấp hành án. Hiện anh H1 vẫn đang trong thời gian chấp hành án hình phạt tù. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2021. Chị H nhận thấy anh H1 không có trách nhiệm của người chồng, người cha, tình cảm của chị đối với anh H1 không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn, nên chị H làm đơn yêu cầu được giải quyết ly hôn với anh H1 để ổn định cuộc sống riêng.
Về con chung: chị Phan Thị H và anh Phạm Hữu H1 có 02 con chung là Phạm Ngọc Mai L, sinh ngày 12/05/2013 và Phạm Ngọc Gia N, sinh ngày 05/8/2020. Nguyện vọng chị H sau khi ly hôn xin được nuôi hai con và không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: chị Phan Thị H khai vợ chồng không có tài sản chung không có nợ chung nên không yêu cầu toà án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Phạm Hữu H1 trình bày tại Bản tự khai ngày 26/4/2024 tại Trại tạm Giam Công an tỉnh Q như sau:
Về quan hệ hôn nhân anh H1 khai thống nhất như chị H và nhất trí ly hôn.
Về con chung: anh H1 khai có hai con chung thống nhất như chị H. Nguyện vọng của anh H1 trong thời gian anh H1 đang chấp hành án phạt tù, không có điều kiện nuôi con thì giao 02 con cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Sau khi chấp hành xong hình phạt, anh H1 trở về thì vẫn được chăm sóc, nuôi dưỡng hai con. Nếu hai con muốn sống với ai khác thì phải có ý kiến của anh H1.
Về tài sản chung: vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:
Trong quá trình giải quyết vụ án việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ, triệu tập tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định, đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ của đương sự.
Về nội dung: chị H, anh H1 tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận giải quyết cho chị H, anh H1 được ly hôn.
Về con chung: chị H có nguyện vọng nuôi 02 con là chính đáng, hiện anh H1 đang chấp hành án phạt tù, không thể giao cho anh H1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con trong thời gian này, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân Gia đình, giải quyết giao 02 con là Phạm Ngọc Mai L, sinh ngày 12/05/2013 và Phạm Ngọc Gia N, sinh ngày 05/8/2020 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị H không yêu cầu cấp dướng nên không xem xét.
Về án phí: đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về Tố tụng:
1.1 Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Chị Phan Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Phạm Hữu H1, bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thôn Á, xã V, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, xác định quan hệ tranh chấp giữa các bên là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sựCăn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh có thẩm quyền giải quyết tranh chấp.
1.2 Phiên tòa xét xử được mở lần thứ hai, nguyên đơn chị Phan Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Phạm Hữu H1 được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2]. Về nội dung:
2.1 Về quan hệ hôn nhân: Hội đồng xét xử nhận thấy, chị Phan Thị H và anh Phạm Hữu H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày ngày 04/4/2013 tại UBND thị trấn N, huyện L, tỉnh Quảng Bình là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn, lý do phần lớn trong thời gian kết hôn anh H1 bị kết án và đi chấp hành án phạt tù, không thực hiện trách nhiệm của người làm chồng, làm cha. Giữa chị H và anh H1 không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hạnh phúc hôn nhân không đạt được. Tình cảm giữa hai bên không còn khả năng hàn gắn, vì vậy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H ly hôn anh H1 để các bên ổn định cuộc sống riêng.
2.2 Về con chung: chị Phan Thị H và anh Phạm Hữu H1 thống nhất khai có 02 con chung là Phạm Ngọc Mai L, sinh ngày 12/05/2013 và Phạm Ngọc Gia N, sinh ngày 05/8/2020. Hội đồng xét xử nhận thấy các cháu Phạm Ngọc Mai L, Phạm Ngọc Gia N hiện nay đang ổn định sinh sống cùng với mẹ. Chị H làm công nhân có lương thu nhập ổn định, có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo đảm các lợi ích tốt nhất cho con. Anh Phạm Hữu H1 đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam B, Cục C, Bộ C1, tại tỉnh Thừa Thiên Huế, không đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng các con. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét các điều kiện của các bên để giao các con Phạm Ngọc Mai L, Phạm Ngọc Gia N cho chị H được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của chị H, anh H1 và cháu Phạm Ngọc Mai L, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.
Đối với tiền cấp dưỡng nuôi con, chị H không yêu cầu cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.
2.3 Về tài sản chung: chị H, anh H1 khai không có tài sản chung và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí sơ thẩm: Chị Phan Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự,
Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phan Thị H và anh Phạm Hữu H1 được ly hôn.
- Về nuôi con chung: Xử giao con Phạm Ngọc Mai L, sinh ngày 12/05/2013 và Phạm Ngọc Gia N, sinh ngày 05/8/2020 cho chị Phan Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ tháng 07/2024 đến khi con trưởng thành (đủ 18 tuổi); tạm thời không buộc anh Phạm Hữu H1 cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Hoặc nhận thấy người trực tiếp nuôi con không đủ điều kiện bảo đảm quyền, lợi ích của con thì người không trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
- Về chia tài sản chung, nợ chung: Không giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Phan Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị H đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án huyện Quảng Ninh theo biên lai số 0003819 ngày 15 tháng 4 năm 2024. Chị H đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo: Chị Phan Thị H và anh Phạm Hữu H1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Nam |
Bản án số 12/2024/HNGĐ - ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn và tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 12/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Phan Thị Huyền xin ly hôn anh Phạm hữu Hùng
