Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST

Ngày 10 - 01 - 2024

V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Sang

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Bà Phan Thị Nga
  • Bà Nguyễn Thị Ly

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên - Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 591/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2023 về "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 552/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 667/2023/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Bích C, sinh năm 1996

Địa chỉ: Số A, ấp B, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1989

Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Bích C trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị C và anh K do tự tìm hiểu nên tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Giấy chứng nhận kết hôn số 71/2018, ngày 16/11/2018). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà của cha mẹ anh K thuộc ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Trong quá trình chung sống, đến đầu năm 2021, vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, cự cãi. Đến khoảng tháng 3/2023, anh K có hành vi cầm dao hăm dọa chị C vì chị C phát hiện anh K có tình cảm với người phụ nữ khác nên vợ chồng không còn tiếng nói chung và sống ly thân cho đến nay. Nguyên nhân làm phát sinh mâu thuẫn giữa vợ chồng là do anh K không quan tâm gia đình, không quan tâm vợ con, không có trách nhiệm với vợ con và có tình cảm với người phụ nữ khác. Chị C đã cho anh K nhiều cơ hội để sửa chữa sai lầm nhưng anh K không thay đổi. Từ khi vợ chồng sống ly thân, hai bên gia đình không có động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị C và anh K. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên chị C yêu cầu được ly hôn với anh K.

Về con chung: Chị C và anh K có 01 con chung tên Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 27/11/2018. Hiện nay, con chung đang do chị C chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị Lê Thị Bích C yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh Nguyễn Văn K cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Nguyễn Văn K vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Tại phiên tòa,

Chị Lê Thị Bích C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.

Anh Nguyễn Văn K vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã làm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Bích C. Về quan hệ hôn nhân, chị Lê Thị Bích C được ly hôn với anh Nguyễn Văn K. Chị Lê Thị Bích C được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 27/11/2018; anh Nguyễn Văn K không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Theo giấy chứng nhận kết hôn, giấy khai sinh của con chung, anh Nguyễn Văn K có nơi cư trú tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Đồng thời, tại Biên bản xác minh ngày 13/12/2023, anh Nguyễn Văn K có cư trú tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang nhưng hiện nay văng mặt tại địa phương và không rõ thời gian trở về do khi đi không có trình báo chính quyền địa phương nên không xác định được nơi cư trú hiện nay của anh Nguyễn Văn K. Căn cứ Điều 11 Luật Cư trú, Điều 5 và Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử xác định nơi cư trú của anh Nguyễn Văn K tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

[1.2] Chị Lê Thị Bích C khởi kiện yêu cầu được ly hôn đối với anh Nguyễn Văn K, yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi ly hôn là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Đồng thời, anh Nguyễn Văn K (bị đơn) có nơi cư trú tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Đối với anh Nguyễn Văn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng trong vụ án nhưng vắng mặt không có lý do trong quá trình tố tụng tại Tòa án. Đồng thời, tại phiên tòa, chị Lê Thị Bích C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Văn K đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 02 để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Lê Thị Bích C và anh Nguyễn Văn K.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Đối với quan hệ hôn nhân:

Chị Lê Thị Bích C cho rằng, chị C và anh K do tự tìm hiểu nên tiến đến hôn nhân vào năm 2018 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 16/11/2018. Vợ chồng chung sống đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do anh K không quan tâm vợ con, có hành vi bạo lực gia đình với chị C và có tình cảm với người phụ nữ khác. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 3/2023 cho đến nay. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, anh K không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng; gia đình hai bên không có động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị C và anh K. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị C yêu câu ly hôn với anh K.

Anh Nguyễn Văn K đã được tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Bích C.

Xét thấy, chị Lê Thị Bích C và anh Nguyễn Văn K kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Anh Nguyễn Văn K đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng không có ý kiến phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của chị C theo quy định tại Điều 91 và Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị C và anh K theo quy định của pháp luật nhưng anh K vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nên không hòa giải được, thể hiện anh Nguyễn Văn K không còn thiện chí níu kéo quan hệ hôn nhân giữa chị C và anh K nên lời trình bày của chị C về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn và tình trạng hôn nhân giữa chị C và anh K đã lâm vào tình trạng trầm trọng là có cơ sở chấp nhận. Do đó, có căn cứ để xác định hôn nhân giữa chị C và anh K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc chị C yêu cầu ly hôn anh K phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

[2.2] Đối với con chung:

Chị Lê Thị Bích C xác định chị C và anh K có 01 con chung tên Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 27/11/2018, hiện nay đang sống với chị C. Khi ly hôn, chị C yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Đăng K1, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, việc giao con chung là người chưa thành niên cho người chăm sóc, nuôi dưỡng khi chị C và anh K ly hôn phải đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho con cả về vật chất lẫn tinh thần. Căn cứ lời trình bày của chị C, từ khi vợ chồng sống ly thân, cháu Nguyễn Đăng K1 sinh sống với chị C cho đến nay nên tình cảm của cháu đã gắn liền với người nuôi dưỡng; quá trình sinh sống với chị C, cháu K1 được đi học và phát triển bình thường. Để ổn định cuộc sống cho cháu K1, giúp cháu K1 phát triển tốt nhất về thể chất và tinh thần, Hội đồng xét xử xét thấy việc chị C yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi chị C và anh K ly hôn phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lê Thị Bích C là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung khi chị C và anh K ly hôn nên anh Nguyễn Văn K phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định tại khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình nhưng chị Lê Thị Bích C không yêu cầu anh Nguyễn Văn K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

[2.4] Đối với tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp sẽ được giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.

[3] Về án phí và quyền kháng cáo:

Chị Lê Thị Bích C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Điều 28, 35, 39, 147, 244, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Bích C.

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Bích C được ly hôn anh Nguyễn Văn K.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 71/2018, ngày 16/11/2018 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp cấp cho chị Lê Thị Bích C và anh Nguyễn Văn K không còn giá trị pháp lý.

[2] Về con chung:

Chị Lê Thị Bích C được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 27/11/2018. Hiện nay đang sống với chị Lê Thị Bích C.

Anh Nguyễn Văn K không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Lê Thị Bích C cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Nguyễn Văn K trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Trên cơ sở lợi ích của con chung, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

[3] Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[4] Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị Bích C phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai số 0013991 ngày 06/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Chợ Mới;
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Mới;
  • - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn;
  • - Đương sự;
  • - Văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Phước Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 12/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị C và anh K do tự tìm hiểu nên tự nguyện tiến đến hôn nhân vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (Giấy chứng nhận kết hôn số 71/2018, ngày 16/11/2018). Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà của cha mẹ anh K thuộc ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Trong quá trình chung sống, đến đầu năm 2021, vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, cự cãi. Đến khoảng tháng 3/2023, anh K có hành vi cầm dao hăm dọa chị C vì chị C phát hiện anh K có tình cảm với người phụ nữ khác nên vợ chồng không còn tiếng nói chung và sống ly thân cho đến nay. Nguyên nhân làm phát sinh mâu thuẫn giữa vợ chồng là do anh K không quan tâm gia đình, không quan tâm vợ con, không có trách nhiệm với vợ con và có tình cảm với người phụ nữ khác. Chị C đã cho anh K nhiều cơ hội để sửa chữa sai lầm nhưng anh K không thay đổi. Từ khi vợ chồng sống ly thân, hai bên gia đình không có động viên, hàn gắn tình cảm vợ chồng cho chị C và anh K. Nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên chị C yêu cầu được ly hôn với anh K
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger