Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HNGĐ - PT

Ngày 09 tháng 5 năm 2024

V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Huyền.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Toàn;

Ông Nguyễn Quang Vũ.

Thư ký phiên tòa :Bà Hoàng Thị Vân- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Bà Tôn Thị Thanh Hương- Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình phúc thẩm thụ lý số: 33/2023/TLPT- HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Do bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 46/2023/HNGĐ-ST ngày 28 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án Hôn nhân và gia đình ra xét xử phúc thẩm số: 26/2023/QĐXXPT - HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2023, các Quyết định hoãn phiên tòa và tạm ngừng phiên tòa giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Kim L, sinh năm 1989; địa chỉ: Khu Gọ 1, xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ

Bị đơn: Anh Hoàng Đức T, sinh năm 1984; địa chỉ: Khu Gọ 1, xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Hà Công K, sinh năm 1985; địa chỉ: Khu A, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ
  • - Vi Quang H, sinh năm 1990; địa chỉ: Khu Thống Nhất, xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ.
  • - Anh Hoàng Triệu S, sinh năm 1987; địa chỉ: Trung tâm huấn luyện 334. Địa chỉ: Huyện T, thành phố Hà Nội
  • - Ông Hoàng Quang L, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị Ngọc O, sinh năm 1960. Đều có địa chỉ: Khu Gọ 1, xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ
  • - Anh Bùi Văn Đ, sinh năm 1993; địa chỉ: Khu Đạng 1, xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ
  • - Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện C. Người đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam: Ông Nguyễn Ngọc L - Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng nông nghiệp Chi nhánh huyện C, tỉnh Phú Thọ.

(Chị L, anh T, ông L, bà O có mặt. Anh H, anh S. Anh Đ, ông L có đơn xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng nguyên đơn chị Bùi Thị Kim L trình bày: Chị và anh Hoàng Đức T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 10/01/2010 tại Uỷ ban nhân dân xã P (nay là xã M), huyện C, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng sinh sống cùng bố mẹ anh T khoảng 04 năm thì vợ chồng ra ở riêng trên đất mà bố mẹ đẻ anh T cho mượn và làm nhà sinh sống tại xã P (nay là xã M), chị L làm giáo viên còn anh T lao động tự do. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn nhỏ nhưng chưa đến mức phải ly hôn nhưng gay gắt và trầm trọng nhất kể từ tháng 7/2022. Nguyên nhân anh T không chung thuỷ với chị L, tính tình nỏng nảy nên hai vợ chồng không nói chuyện được với nhau và không có tiếng nói chung, vợ chồng không tôn trọng nhau, cãi chửi nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình hai bên hoà giải nhiều lần nhưng không khắc phục được, chị L thuê nhà ở riêng, vợ chồng sống ly thân từ tháng 7/2022 mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T để ổn định cuộc sống.

Anh Hoàng Đức T là bị đơn trình bày: Về thời gian kết hôn, quá trình chung sống, thời điểm vợ chồng sống ly thân như chị L trình bày là đúng. Nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng là do một phần lỗi của anh, do anh chơi bời, vợ chồng nợ nần nhiều, chị L ghen tuông nên vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau, không tôn trọng, yêu thương nhau, vợ chồng sống ly thân từ tháng 7/2022, không quan tâm đến nhau, nay chị L xin ly hôn anh T đồng ý vì cố níu kéo cũng không mang lại hạnh phúc cho hai bên, đề nghị Toà án giải quyết theo yêu cầu khởi kiện của chị L.

- Về con chung: Hai bên đều trình bày vợ chồng có 02 con chung là: Hoàng Việt A, sinh ngày 26/11/2010 và Hoàng Mai H, sinh ngày 18/01/2018. Kể từ khi vợ chồng sống ly thân, chị L trực tiếp nuôi dưỡng cháu H, anh T nuôi dưỡng cháu A. Ly hôn chị L xin được trực tiếp nuôi cháu H, để anh T nuôi cháu A, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Anh T xin được trực tiếp nuôi cả hai con chung, không yêu cầu chị L phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị L và anh T đều thừa nhận vợ chồng có các tài sản sau:

  1. Thửa đất số 467, tờ bản đồ 04, diện tích 120 m², được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 03/4/2012 mang tên anh T và chị L; địa chỉ thửa đất: khu Đồng Xủng, xã P (nay là xã M), huyện C, trên đất không có tài sản gì.

Quan điểm của chị L: Chị xin sử dụng toàn bộ thửa đất trên và thanh toán chênh lệch tài sản cho anh T.

Quan điểm của anh T: Anh để cho con gái là cháu H sử dụng nếu chị L yêu cầu chia thì anh đồng ý chia đôi và thửa đất 467 anh để chị L sử dụng, chị L thanh toán chênh lệch bằng tiền cho anh.

  1. 01 xe mô tô HonDa SH125I -BKS 19G1-341.73 mua lại của anh Bùi Văn Đ (em trai chị L) số tiền 45 triệu đồng (trong đó có có 23 triệu đồng do chị L bán xe Lead cũ của chị đang sử dụng, 22 triệu đồng anh T đưa cho chị L).

Quan điểm của chị L: Chị xin sử dụng xe SH và thanh toán chênh lệch bằng tiền cho anh T là 22.500.000 đồng.

Quan điểm của anh T: Anh để chị L sử dụng xe và thanh toán chênh lệch tài sản cho anh.

* Ngoài ra chị L còn trình bày vợ chồng có các tài sản chung sau:

  1. 01 nhà xây cấp bốn xây năm 2012 (xây trên đất của bố mẹ đẻ anh Hoàng Đức T là ông Hoàng Công L, bà Nguyễn Thị Ngọc O) tại xã P (nay là xã M).
  2. Xe ôtô Santafe loại xe 07 chỗ, BKS 61N -9624;
  3. 01 Phọc máy kéo;
  4. 01 máy ủi D2 mua năm 2020;

Tại đơn khởi kiện ngày 24/11/2022 và bản tự khai ngày 28/11/2022, chị L yêu cầu Toà án chia đôi tài sản nhưng chị để cho anh T sử dụng các tài sản trên và thanh toán chênh lệch về tài sản cho chị theo quy định pháp luật.

Anh T trình bày: Đây là các tài sản của bố mẹ anh (ông L, bà O), không phải là tài sản chung của vợ chồng nên anh T không đồng ý chia đôi.

Quá trình giải quyết vụ án ngày 20/4/2022 chị L có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện về chia tài sản chung là: nhà xây cấp bốn trên đất của bố mẹ đẻ anh T; 01 xe ô tô Santafe 07 chỗ BKS 61N - 9624; 01 Phọc máy kéo; 01 máy ủi D2 mua năm 2020.

* Ngoài ra anh T trình bày vợ chồng còn có tài sản là: 01 xuất Phường có số tiền 52 triệu đồng, chị L đã lấy và không cho anh biết, anh được biết khi hàng xóm cung cấp thông tin.

Quan điểm của anh T: Chị L phải chia đôi cho anh ½ suất phường = 26 triệu đồng.

Chị L trình bày: Chị không chơi xuất phường nào như anh T trình bày nên không đồng ý với yêu cầu của anh T.

- Nghĩa vụ chung về tài sản:

* Chị L trình bày: Trước đây vợ chồng có nợ Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam- Chi nhánh huyện C, phòng giao dịch Tân Lập, số tiền gốc 200 triệu đồng, nhưng vợ chồng đã trả nợ xong, không nợ gì của ai khác.

* Anh T trình bày: Anh có nợ của những người sau:

  1. Nợ anh Hà Công K; địa chỉ: khu A, xã T, số tiền 300.000.000 đồng, không lãi, không có hạn vay, khi nào có thì trả dần. Vay để trả nợ cho việc chơi cờ bạc của anh T.
  2. Anh Vi Quang H, địa chỉ: khu Thống Nhất, xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ, số tiền 200.000.000 đồng, không lãi, không có thời hạn vay, để trả nợ khoản nợ riêng của tôi. Vay để trả nợ cho việc chơi cờ bạc của anh T.
  3. Anh Hoàng Triệu S, địa chỉ: Trung tâm huấn luyện 334, xã B, huyện T, TP Hà Nội, số tiền 300 triệu đồng, không có lãi, không có thời hạn vay, mục đích vay trả cho khoản nợ riêng của anh T. Vay để trả nợ cho việc chơi cờ bạc của anh T.
  4. Ngân hàng nông nghiệp Việt Nam- Chi nhánh huyện C, phòng giao dịch Tân Lập, số tiền gốc 200 triệu đồng, vay để chi tiêu cho gia đình và trả cho khoản nợ riêng của anh T.

Tổng cộng: 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng).

Anh T có quan điểm: Đây là khoản tiền vay riêng của anh nhưng do anh vay trong thời kỳ hôn nhân nên anh xác định là nợ chung của vợ chồng nên anh yêu cầu chị L có nghĩa vụ trả nợ ½ cùng anh.

Chị L có quan điểm: Các khoản tiền trên anh T vay để trả nợ cho việc ăn chơi của bản thân nên chị không đồng ý trả nợ cùng anh T. Còn khoản nợ của Ngân hàng nông nghiệp gia đình chị đã trả nợ xong, không còn nợ.

* Ngoài ra anh T còn yêu cầu: Anh yêu cầu chị L phải trả cho anh khoản tiền 300.000.000 đồng mà anh đã nuôi chị L ăn học và xin việc cho chị L trong thời gian 05 năm (từ năm 2012 -2017). Tuy nhiên, phía chị L có quan điểm: Trong thời gian đi học trung cấp chị học tại huyện C và học đại học tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, chị đi lại giữa nơi học và gia đình nên việc chi phí sinh hoạt không tốn kém. Chị vừa nuôi con, vừa lao động cùng gia đình anh T và chị được bố mẹ đẻ chị giúp đỡ và cho tiền chị đóng học chứ không phải anh T nuôi chị. Việc chị xin đi làm Hợp đồng tại trường mầm non do mức lương thấp nên chị chỉ cần làm đơn là được nhấp nhận mà không mất tiền chi phí nào khác. Chị L không nhất trí trả khoản tiền nào cho anh T.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Hà Công K trình bày: Anh và anh T có mối quan hệ là bạn bè lái xe chơi với nhau, anh không chơi với chị L nhưng có vài lần đến nhà anh T chơi, ăn cơm nên anh có biết chị L. Anh có cho anh T vay khoản tiền là 200.000.000 đồng vào khoảng tháng 4, tháng 5 năm 2022, không lãi vì là anh em chơi với nhau, giúp nhau. Anh T nói là: Vay tiền của anh để lấy vốn kinh doanh xe ô tô cũ. Nhưng đầu năm 2023 thì anh T đã trả hết tiền cho anh. Khi vay tiền thì anh T là người hỏi vay tiền và nhận tiền, còn chị L không đến vay và cũng không lần nào đến trả tiền, còn chị L có biết việc anh T vay tiền hay không thì anh không rõ. Nhưng hiện nay anh T đã trả tiền hết cho anh nên anh không yêu cầu anh T phải trả tiền và anh đề nghị Toà án không đưa anh vào tham gia tố tụng, anh không còn liên quan đến vay nợ với anh T.

Anh Vi Quang H trình bày: Anh có cho anh T vay khoản tiền là 200.000.000 đồng, vay không lãi, anh em chơi vơi nhau giúp nhau là chính, anh T vay tiền của tôi về để mua máy ủi thời gian vào khoảng cuối năm 2020, nhưng đến giữa năm 2022 thì anh T đã trả cho anh được 100.000.000 đồng và còn nợ lại 100 triệu đồng. Anh T là người đến hỏi vay và nhận tiền từ anh, việc chị L có biết anh T vay tiền của anh không thì anh không rõ, chị L cũng không lần nào đến trả tiền cho anh.

Anh cho anh T vay tiền từ khoản tiền riêng của anh nên vợ anh không biết, không liên quan.

Anh không đề nghị Toà án giải quyết việc vay nợ giữa anh và anh T. Do anh chưa yêu cầu anh T trả nợ nên đề nghị Toà án không báo gọi anh để tham gia tố tụng trong vụ án vì anh và anh T sẽ tự giải quyết với nhau.

Ông Hoàng Công L và bà Nguyễn Thị Ngọc O (bố mẹ đẻ anh T) trình bày: Về tài sản: Sau khi kết hôn anh chị sinh sống với ông bà đến năm 2012 thì ông, bà làm nhà cấp bốn trên diện tích đất 234 m², ở khu Gọ 1, xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ, đến năm 2014 sau khi chị L học xong trung cấp mầm non ông bà cho chị L, anh T ra ở riêng trên nhà đất trên của ông, bà. Hiện nay đất vẫn đứng tên ông, bà. Anh chị chỉ có tài sản riêng được nhà nước cấp đất ở là 120 m² tại khu Đồng Xủng, xã M, huyện C, tỉnh Phú Thọ ngoài ra anh chị không có tài sản nào khác.

Về công nợ: Khi chị L đi học ông, bà có vay nợ Ngân hàng 200.000.000 đồng để lấy tiền cho chị L đi học, nay còn lại bao nhiêu thì ông, bà không biết vì hàng tháng anh T trả gốc, lãi. Nay anh chị ly hôn thì ông, bà đề nghị anh chị tự trả nốt số tiền nợ của Ngân hàng nông nghiệp (Phòng giao dịch Tân L). Ngoài ra ông, bà không đề nghị gì khác.

Anh Bùi Văn Đ trình bày: Tháng 3/2022 do anh không có nhu cầu sử dụng nên đã bán cho chị gái là Bùi Thị Kim L 01 xe máy HonDa SHBKS 19G1-341.73 giá là 45.000.000 đồng, anh Hoàng Đức T là chồng chị L chuyển khoản cho tôi. Khi bán xe anh đã giao giấy tờ xe cho chị Bùi Thị Kim L vì là người trong gia đình nên anh không làm giấy tờ mua bán, đăng ký xe mô tô vẫn đứng tên anh do chị L bận công việc. Nếu khi nào chị L sang tên thì anh đồng ý ký hồ sơ để chị L hoàn thiện thủ tục mua bán xe vì anh chị đã trả hết tiền. Nay anh chị ly hôn, do xe anh đã bán cho anh chị nên anh chị có toàn quyền quyết định với chiếc xe trên anh không còn liên quan gì. Đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

Anh Hoàng Triệu S trình bày: Quá trình giải quyết đã báo gọi anh Sơn đến làm việc nhiều lần nhưng anh Sơn đều vắng mặt không có lý do nên Toà án không lấy được lời khai của anh Sơn.

Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam- Chi nhánh huyện C:

+ Đối với khoản vay hạn mức 200.000.000 đồng tại Ngân hàng nông nghiệp Phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh huyện C đến ngày 18/4/2022 thì ông T đã tất toán hết khoản vay, hiện nay ông T, bà L không còn nợ Ngân hàng khoản tiền nào.

+ Đối với khoản vay của ông Hoàng Công L, bà Nguyễn Thị Ngọc O số tiền 200.000.000 đồng tại Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số 2712-LAV-202102065 ngày 08/7/2021 tại phòng giao dịch Tân L, mục đích vay là: Phục vụ hoạt động kinh do và phục vụ nhu cầu đời sống, thời hạn vay 36 tháng, hạn trả nợ ngày 08/7/2025. Hiện tại giấy nhận nợ trên gia đình ông L, bà O chưa đến hạn trả nợ, trường hợp ông L, bà O vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng yêu cầu ông L, bà O thực hiện nghĩa vụ trả nợ của ông bà theo quy định pháp luật.

-Về công sức: Hai bên đều trình bày vợ chồng không có gì, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 46/2023/HNGĐ-ST ngày 28/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện C đã quyết định:

Căn cứ Điều 55; Điều 33; Điều 45; Điều 58; khoản 2, 3 Điều 59; Điều 62; khoản 1, 2 Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. khoản 3,4 Điều 147; Điều 157; Điều 165; khoản 2 Điều 244; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ điểm a, e khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Thị Kim L và anh Hoàng Đức T.
  2. Về con chung: Giao cho chị Bùi Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng con con chung là cháu Hoàng Mai H, sinh ngày 18/01/2018. Anh Hoàng Đức T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Hoàng Việt A, sinh ngày 26/11/2010, kể từ tháng 6/2023 cho đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) lao động tự túc được. Chị L và anh T không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị L và anh T được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

  1. Về tài sản chung:
  • Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Kim L về việc yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng là: 01 Nhà cấp bốn xây năm 2012 trên thửa đất 208, tờ bản đồ 08, diện tích 234,8 m²(đất đứng tên chủ sử dụng là ông Hoàng Công L, bà Nguyễn Thị Ngọc O là bố mẹ đẻ anh T). Địa chỉ nhà, đất: khu Gọ 1, xã P (nay là xã M), huyện C, tỉnh Phú Thọ. 01 xe ô tô Santafe 7 chỗ BKS 61N-9624; 01 Phọc máy kéo; 01 máy ủi D2, do chị L tự nguyện xin rút yêu cầu.
  • Giao cho chị Bùi Thị Kim L được quyền sử dụng các tài sản chung sau:
  • Quyền sử dụng thửa đất số 467, tờ bản đồ 04, diện tích 120 m², loại đất ở. Được UBND huyện C, tỉnh Phú Thọ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Hoàng Đức T, chị Bùi Thị Kim L ngày 03/4/2012; địa chỉ thửa đất: Khu Đồng Xủng, xã P (nay là xã M), huyện C, tỉnh Phú Thọ. Trên thửa đất không có tài sản gì, có giá trị là: 240.000.000 đồng (Có chiều dài các cạnh và các phía tiếp giáp như sơ đồ trích lục kèm theo).

Chị Bùi Thị Kim L có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện đăng ký quyền sử dụng đất đối với thửa đất 467, tờ bản đồ 04, diện tích 120m² theo quy định pháp luật.

  • 01 xe mô tô HonDa SH125I -BKS 19G1-341.73, trị giá là: 45.000.000 đồng.

Anh Bùi Văn Đ và chị Bùi Thị Kim L có nghĩa vụ thực hiện thủ tục sang tên đăng ký xe mô tô HonDa SH125I -BKS 19G1-341.73 cho chị L theo quy định của pháp luật.

Chị L được giao sử dụng tổng giá trị tài sản là 285.000.000₫ (Hai trăm tám mươi lăm triệu đồng).

Chị L có nghĩa vụ thanh toán chênh lệch về tài sản cho anh T tổng số tiền là: 142.500.000đ (Một trăm bốn mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác.

  1. Về chi phí tố tụng: Xác nhận chị Bùi Thị Kim L tự nguyện xin chịu toàn bộ tổng số tiền chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản là 4.000.000 đồng, chị L không yêu cầu anh T phải thanh toán chênh lệch tiền chi phí tố tụng, chị L đã nộp đủ chi phí tố tụng.
  2. Về án phí:

Án phí dân sự sơ thẩm:

- Chị Bùi Thị Kim L phải chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 7.125.000₫ (Bảy triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí chia tài sản chung. Tổng cộng là: 7.200.000₫ (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng). Nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị L đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008066 ngày 28/11/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C. Chị L còn phải nộp số tiền 6.900.000₫ (Sáu triệu chín trăm nghìn đồng).

- Anh Hoàng Đức T phải chịu 75.000₫ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 7.125.000₫ (Bảy triệu một trăm hai mươi lăm nghìn đồng) án phí chia tài sản chung. Tổng cộng là: 7.200.000₫ (Bảy triệu hai trăm nghìn đồng).

Án phí dân sự phúc thẩm:

- Anh Hoàng Đức T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm. Xác nhận anh Hoàng Đức T đã nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA /2020/0008284 ngày 23/8/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Phú Thọ.

- Ông Hoàng Quang L được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật do thuộc trường hợp người cao tuổi.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh;
  • - TAND H. Cẩm Khê;
  • - C.CTHADS H. Cẩm Khê;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, AV;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Thị Thu Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HNGĐ - PT ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 12/2024/HNGĐ - PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa chị Bùi Thị Kim L và anh Hoàng Đức T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger