|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2024/HS-PT Ngày: 09/01/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Trang
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Quyên
Bà Phan Thị Thu Hương
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Huy Hoàng –
Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên
tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 491/2023/TLPT-HS ngày 07/11/2023 đối với bị cáo Lê Văn L do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 138/2023/HS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 488/2023/QĐ-PT ngày 21/12/2023
- Bị cáo kháng cáo:
Lê Văn L (Chín); Sinh ngày: 03 tháng 6 năm 1986, tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: Khu phố T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: tài xế, Văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Phật giáo; Giới tính: Nam; Con ông: Lê R, sinh năm: 1946; Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1952; Bị cáo là con thứ 6 trong gia đình có 07 anh chị em; Có vợ tên Nguyễn Thị Yến L1, sinh năm: 1991 (đã ly hôn năm 2017); có 01 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Hiện bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện T từ ngày 16/6/2023 đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11 giờ 20 phút ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại chòi số 06 quán C (thuộc ấp I, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai), Công an huyện T lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Văn L về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, niêm phong tang vật theo quy định. Tang vật thu giữ: 01 túi nilon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy) thu giữ trên nền gạch gần chân bên phải của L. L khai nhận tang vật bị thu giữ là ma túy đá của L để sử dụng.
Lê Văn L là đối tượng nghiện ma túy từ năm 18 tuổi đến nay, L sử dụng cần sa và ma túy đá. Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 16/6/2023, L đang ở nhà thì đối tượng T (bạn mới quen, không rõ nhân thân, lai lịch, nhà ở thành phố L - là đối tượng sử dụng ma túy đá) gọi điện thoại cho L nói đang trên đường đi từ thành phố L xuống huyện T chơi nên rủ L đi cùng, L đồng ý. Một lúc sau, T điều khiển xe môtô hiệu Honda, loại Vision màu trắng (không rõ biển số) đến chở L, Lưu mang theo một cái túi da màu nâu. Trên đường đi, 02 bên trao đổi, thống nhất: Lưu đưa cho T túi da đang mang theo, T sẽ đưa cho L 01 túi ma túy đá để trao đổi. Đến 10 giờ 30 phút cùng ngày, Lưu ghé quán C tại ấp I, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai, để cùng sử dụng ma túy, L cầm ma túy rồi đem giấu dưới lòng bàn chân bên phải của mình. Đến 11 giờ 20 phút, Công an huyện T kiểm tra, Lưu đứng dậy và làm văng túi nilon chứa ma túy dưới lòng bàn chân phải ra nền gạch.
Quá trình điều tra, L đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với những tài liệu, chứng cứ thu thập được.
Kết luận giám định số: 1279/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh Đ ngày 23/6/2023, xác định: 01 túi nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng gửi đến giám định là ma túy, khối lượng 0,3002 gam, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, Lê Văn L đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại Bản án sơ thẩm số 138/2022/HS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất quyết định:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Xử phạt: Bị cáo Lê Văn L 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2023.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Vào ngày 02/10/2023, bị cáo có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: bản án sơ thẩm xét xử bị cáo 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết gì mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận, bác kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng, đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với hành vi đã được mô tả tại bản án sơ thẩm và Cáo trạng của Viện kiểm sát. Cụ thể: Ngày 16/6/2023, tại ấp I, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai, bị cáo Lê Văn L đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thì bị Công an huyện T phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Qua giám định, xác định tang vật thu giữ là ma túy, khối lượng 0,3002 gam, loại Methamphetamine. Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là chính xác. Tội danh có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù. Cấp sơ thẩm đã xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt để xử bị cáo 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù giam là không nặng. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng có tình tiết gì mới nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.
[3] Những nội dung khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.
[4] Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[5] Về án phí: do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015;
1. Bác toàn bộ đơn kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 138/2023/HS-ST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất.
2. Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn L 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 16/6/2023.
3. Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lệ Trang |
Bản án số 12/2024/HS-PT ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 12/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bác toàn bộ đơn kháng cáo của bị cáo, y án sơ thẩm
