Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HS-ST

Ngày: 09-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Linh Sương

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Trần Thị Tuyết
  2. Ông Lâm Văn Vô

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tùng Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Đẩu- Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai Vụ án hình sự thụ lý số 101/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 134/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Vũ Anh T, sinh ngày 16 tháng 8 năm 1985, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 26C Khu phố F, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: C13/30, ấp E xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Vũ Văn T1 (đã chết) và bà: Đinh Thị K, sinh năm 1959; có 02 người em sinh đôi, sinh năm 1990; có vợ là Nguyễn Bích N, sinh năm 1986 (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2012; tiền án: Ngày 20/5/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2019/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/01/2020, chấp hành xong nghĩa vụ nộp án phí ngày 27/6/2019; ngày 20/5/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 22/2021/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/01/2023, chấp hành xong nghĩa vụ nộp án phí ngày 10/5/2022; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Q1; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Đặng Văn Thái Q, sinh năm 1983; nơi cư trú: 49 đường T, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa).
  2. Ông Nguyễn Thành N1, sinh năm 1974, nơi cư trú: A35/7 Ấp A xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 27/6/2023, tại trước nhà số A T, Phường E, Quận E, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an Q1 phát hiện Vũ Anh T đang dừng xe môtô biển số 86B2 - 30683 chở phía sau Chiêm H. Tại đây, có Nguyễn Thành N1 đang đứng cạnh bên, tất cả đều có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm, phát hiện nên thu giữ tay trái của T đang cầm 01 (một) gói giấy bên trong có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu, T khai là ma túy tổng hợp loại đá, đang chuẩn bị bán cho N1 nên Tổ công tác đưa T và vật chứng về trụ sở Công an Q1, Quận E lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Vào lúc 21 giờ 10 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 tiến hành khám xét nhà ở của Vũ Anh T tại số C ấp E, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Qua kiểm tra, phát hiện và thu giữ 01 (một) hộp nhựa bên trong có 01 (một) gói nylon chứa tinh thể không màu, 01 (một) cân điện tử, 04 (bốn) gói nylon bên trong không chứa gì và sát góc nhà trên nền nhà có 01 chai nhựa có nắp đậy được khoét gắn 01 (một) ống hút nhựa và 01 (một) ống thủy tinh (nỏ). Tại thời điểm kiểm tra còn có Huỳnh Thị Hoàng D (sống chung như vợ chồng với Vũ Anh T) chứng kiến sự việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, bị cáo Vũ Anh T khai nhận: Khoảng đầu tháng 03/2023, T cùng Huỳnh Thị Hoàng D thuê phòng trọ không số - Nhà trọ số C, ấp E, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống như vợ chồng. Do không nghề nghiệp ổn định nên khoảng đầu tháng 6/2023 T nảy sinh ý định mua bán ma túy để kiếm tiền tiêu xài, thông qua bạn bè giới thiệu T biết thanh niên (không rõ tên, lai lịch) có số điện thoại 0906.678.xxx có bán ma túy nên T lưu lại số điện thoại để khi ai mua ma túy sẽ liên lạc với thanh niên trên mua ma túy về bán. Khoảng 17 giờ ngày 27/6/2023, Nguyễn Thành N1 (bạn bè quen biết ngoài xã hội của T) điện thoại cho T hỏi mua nửa hộp năm ma túy đá, T báo giá 1.300.000 đồng, N1 đồng ý mua và hẹn địa điểm mua bán ở Quận E. Lúc này, T liên lạc với thanh niên có số điện thoại 0906.678.xxx để mua nửa hộp năm ma túy đá với giá 1.000.000 đồng. Mua xong T về lại nhà ở lấy gói ma túy đã mua phân ra thêm 01 (một) gói nhỏ cất giữ trên đầu tủ quần áo, gói còn lại để bán cho N1. Lúc này, có Chiêm Hoàng V là bạn bè ngoài xã hội của T đến chơi. Khoảng 18 giờ 15 phút cùng ngày N1 điện thoại cho T nói T đến trước số A T, Phường E, Quận E để bán ma túy cho N1 thì T đồng ý. T nói V có công việc đi sang Quận E sẵn tiện đường để T đưa V về nhà. T điều khiển xe mô tô biển số 86B2-30683 chở V, T cầm trên tay trái 01 (một) gói ma túy đá để bán cho N1. Khi T chở V đến trước số A T, Phường E, Quận E thì thấy N1 đang đứng chờ, T vừa dừng xe thì bị lực lượng Công an đến kiểm tra, phát hiện và thu giữ vật chứng như nêu trên. Việc cất giữ ma túy để bán cho Nguyễn Thành N1, T không nói cho Chiêm Hoàng V và Huỳnh Thị Hoàng D biết. Riêng số ma túy thu giữ khi tiến hành khám xét tại nơi ở của T, T khai cất giữ mục đích để bán lại cho người khác kiếm lời. Việc cất giấu ma túy này, T không nói cho Huỳnh Thị Hoàng D biết.

Qúa trình điều tra, lời khai của Nguyễn Thành N1, Chiêm Hoàng V và Huỳnh Thị Hoàng D khai nhận phù hợp với lời khai của Vũ Anh T như đã nêu. Đối với Nguyễn Thành N1 còn khai trước đó đã mua ma túy của T 02 (hai) lần; lần thứ nhất vào ngày 18/6/2023; lần thứ hai vào ngày 24/6/2023 tại hẻm trên đường N, xã B, huyện B, mỗi lần đều mua 01 (một) gói ma túy đã với giá 300.000 đồng. Tuy nhiên Vũ Anh T không thừa nhận, T thừa nhận chỉ bán ma túy cho N1 một lần vào ngày 27/6/2023 thì bị bắt quả tang như đã nêu. Kết quả thực hiện đối chất giữa N1 và T, N1 và T vẫn giữ nguyên lời khai của mình.

Vật chứng thu giữ: 02 (hai) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu; 01 (một) mảnh giấy loại giấy lịch; 01 (một) điện thoại di động hiệu S, số IMEI 1:352987102580851, số IMEI 2: 352988102580859; 01 (một) xe mô tô biển số 86B2 – 30683; 01 (một) cân điện tử; 04 (bốn) gói nylon; 01 (một) hộp nhựa; 01 (một) chai nhựa có nắp đậy được khoét gắn 01 (một) ống hút nhựa và 01 (một) ống thủy tinh; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, số IMEI: 356962092371062.

Tại Bản kết luận giám định số 7002/KL-KTHS ngày 04/7/2023 và số 7003/KL-KTHS ngày 04/7/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận: 02 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,6144+0,5119=2,1263 g (hai phẩy một hai sáu ba gam), loại Methamphetamin.

Về trách nhiệm dân sự: Không có người tham gia tố tụng yêu cầu.

Tại Bản cáo trạng số 100/CT-VKS ngày 14/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Vũ Anh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Bị cáo Vũ Anh T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng nêu trên; bị cáo thống nhất với tội danh và khung hình phạt như cáo trạng đã nêu, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Vũ Anh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Vũ Anh T hình phạt tù giam với mức án từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự: Không có người tham gia tố tụng yêu cầu nên đề nghị không xem xét; về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 02 (hai) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu; 01 (một) mảnh giấy loại giấy lịch; 01 (một) cân điện tử; 04 (bốn) gói nylon; 01 (một) hộp nhựa; 01 (một) chai nhựa có nắp đậy được khoét gắn 01 (một) ống hút nhựa và 01 (một) ống thủy tinh; tịch thu sung công quỹ 01 (một) điện thoại di động hiệu S, số IMEI 1:352987102580851, số IMEI 2: 352988102580859; trả lại cho Nguyễn Thành N1 01 (một) điện thoại di động hiệu N2, số IMEI: 356962092371062; đối với thanh niên bán ma túy cho T, chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau; đối với Huỳnh Thị Hoàng D, không biết bị cáo mua ma túy cất giữ tại nhà và mang đi bán cho người khác nên không có cơ sở xử lý; đối với Chiêm Hoàng V, không biết bị cáo cất giữ ma túy bán cho người khác nên không có cơ sở xử lý; đối với Nguyễn Thành N1, chưa đủ cơ sở xử lý N1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” cũng như các lần mua ma túy trước đó của T.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì và nói lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáokhông có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Đối với sự vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là các ông Đặng Văn Thái Q, Nguyễn Thành N1 tại phiên tòa, xét thấy những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã trình bày đầy đủ lời khai, đề nghị trong quá trình điều tra. Do đó, sự vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[2] Về tội danh: Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Anh T tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa công khai, qua xét hỏi bị cáo Vũ Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 27/6/2023, tại trước nhà số A T, Phường E, Quận E, bị cáo T đã có hành vi cất giữ 01 gói giấy bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu thì bị bắt quả tang. Ngoài ra, T còn tàng trữ trái phép tại nơi ở tại địa chỉ số C, ấp E, xã B, huyện B 01 (một) gói ma túy nhằm mục đích bán cho người khác kiếm lời. Theo Kết luận giám định số 7002/KL-KTHS ngày 04/7/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H kết luận: 02 (hai) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,6144+0,5119=2,1263 g (hai phẩy một hai sáu ba gam), loại Methamphetamin. Tổng khối lượng ma túy mà T tàng trữ nhằm mục đích mua bán là 2,1263g (hai phẩy một hai sáu ba gam), loại Methamphetamine.

Như vậy, hành vi của Vũ Anh T đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo T đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2019/HSST ngày 20/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 22/2021/HSST ngày 20/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm b khoản 2 Điều 53 Bộ luật Hình sự, là tình tiết định khung tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Như vậy, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Về đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng. Ma túy tổng hợp Methamphetamine là chất ma túy gây nghiện, có hại cho sức khỏe và ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội do đó bị Nhà nước cấm tự do tàng trữ, mua bán, vận chuyển hoặc chiếm đoạt. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép các chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý tàng trữ chất ma túy để nhằm mục đích mua bán kiếm lời.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho tệ nạn ma túy gia tăng, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nhằm mục đích giáo dục bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

[4.1] Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

[4.3] Về nhân thân bị cáo:

Bị cáo có nhân thân xấu, bị kết án về các tội trộm cắp tài sản, tàng trữ trái phép chất ma túy nay lại tiếp tục phạm tội.

[5] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Qua đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, căn cứ Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù với một thời gian nhất định để có thể cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng” do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, nhận thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, không có khả năng thi hành hình phạt tiền. Căn cứ khoản 2 Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử quyết định khôngáp dụng hình phạt bổ sunglà phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu (số mẫu vật còn lại sau khi phục vụ giám định được gói niêm phong số 7002/(1425/23), bên ngoài có chữ ký giám định viên Phạm Huỳnh Minh T2 và cán bộ điều tra Nguyễn Thành T3); 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu (số mẫu vật còn lại sau khi phục vụ giám định được gói niêm phong số 7003/(1426/23), bên ngoài có chữ ký giám định viên Phạm Huỳnh Minh T2 và cán bộ điều tra Nguyễn Thành T3), là các vật phạm pháp, Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu và tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  • - 01 (một) mảnh giấy loại giấy lịch; 01 (một) cân điện tử; 04 (bốn) gói nylon; 01 (một) hộp nhựa; 01 (một) chai nhựa có nắp đậy được khoét gắn 01 (một) ống hút nhựa và 01 (một) ống thủy tinh, là các đồ vật thu giữ tại nhà của T, T sử dụng để tàng trữ và mua bán ma túy, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu S, số IMEI 1: 352987102580851, số IMEI 2: 352988102580859, là công cụ bị cáo T dùng để liên lạc mua bán trái phép chất ma túy nên cần tịch thu và sung vào ngân sách theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; 01 (một) điện thoại di động hiệu N2, số IMEI: 356962092371062, là điện thoại cá nhân của Nguyễn Thành N1, do chưa có đủ cơ sở xử lý Nguyễn Thành N1 về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy nên cần trả lại cho N1.
  • - 01 (một) xe mô tô biển số 86B2 – 30683, là tài sản của ông Đặng Văn Thái Q đứng tên chủ sở hữu. Bị cáo mượn để làm phương tiện đi lại, việc bị cáo sử dụng xe để mua bán ma túy ông Q không biết, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng trả lại xe cho ông Q là đúng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.

[7] Đối với nam thanh niên là đối tượng bán ma túy cho Vũ Anh T, do chưa xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau là phù hợp.

Đối với Huỳnh Thị Hoàng D, D không biết bị cáo mua ma túy cất giữ tại nhà và sau đó mang đi bán cho người khác nên không xử lý là phù hợp.

Đối với Chiêm Hoàng V đi cùng bị cáo T, không biết bị cáo cất giữ ma túy bán cho người khác nên không có cơ sở xử lý là phù hợp.

Đối với Nguyễn Thành N1, N1 khai mua ma túy của T để sử dụng. Tuy nhiên khi bắt quả tang Vũ Anh T, N1 chưa nhận được ma túy từ bị cáo T nên chưa đủ cơ sở xử lý N1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đối với việc Nguyễn Thành N1 khai trước đó đã mua ma túy của T hai lần, bị cáo không thừa nhận và ngoài lời khai của N1 không còn chứng cứ nào khác nên không đủ cơ sở xử lý bị cáo Vũ Anh T cũng như N1 về các lần mua bán trái phép chất ma túy nêu trên là phù hợp.

[8] Viện kiểm sát nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo để xét xử và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo cũng như các vấn đề xử lý vật chứnglà có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, đúng quy định.

[9] Về án phí: Người bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm q khoản 2 Điều 251; Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,

    Xử phạt bị cáo Vũ Anh T 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 27 tháng 6 năm 2023.

  2. Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu (số mẫu vật còn lại sau khi phục vụ giám định được gói niêm phong số 7002/(1425/23), bên ngoài có chữ ký giám định viên Phạm Huỳnh Minh T2 và cán bộ điều tra Nguyễn Thành T3); 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu (số mẫu vật còn lại sau khi phục vụ giám định được gói niêm phong số 7003/(1426/23), bên ngoài có chữ ký giám định viên Phạm Huỳnh Minh T2 và cán bộ điều tra Nguyễn Thành T3); 01 (một) mảnh giấy loại giấy lịch; 01 (một) cân điện tử; 04 (bốn) gói nylon; 01 (một) hộp nhựa; 01 (một) chai nhựa có nắp đậy được khoét gắn 01 (một) ống hút nhựa và 01 (một) ống thủy tinh.
    • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu S, số IMEI 1: 352987102580851, số IMEI 2: 352988102580859;
    • - Trả lại cho ông Nguyễn Thành N1: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, số IMEI: 356962092371062;

      (Tình trạng giao nhận vật chứng như Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 08/01/2024 giữa Công an Q1 và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh).

  3. Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

    Buộc bị cáo Vũ Anh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  4. Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,

    Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TpHCM;
  • - Sở Tư pháp TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TpHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Quận 5;
  • - Cơ quan CSĐT Công an Quận 5;
  • - Bộ phận THA HS Tòa án Quận 5;
  • - Phòng PV 06 Công an TPHCM;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Quận 5;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Linh Sương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 12/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Anh T-Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger