Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN HỒNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07-6-2024

“ V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con"

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Nguyễn Thị Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Quyên;

Bà Bùi Nguyễn Tuyết Minh.

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Liếng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Hữu Định - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 20 tháng 5 và 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Hồng, đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 289/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2023, về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/QÐST-HNGĐ ngày 20/5/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị K, sinh năm 1976.

Địa chỉ: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

2. Bị đơn: Anh Huỳnh Phú H, sinh năm 1973

Địa chỉ: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp

(Nguyên đơn vắng mặt và có văn bản xin vắng mặt. Bị đơn triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có đơn)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 27/10/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị K thể hiện ý kiến như sau: Vào năm 2017, chị và anh Huỳnh Phú H chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn S, huyện T. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, sống không hạnh phúc, vợ chồng đã hàn gắn nhiều lần nhưng không được nên vợ chồng đã không còn sống chung từ năm 2021. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Phú H. Về con chung: Có 01 con chung tên Huỳnh Hạnh N, sinh ngày 25/5/2017 đang sống với chị K nên chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, tự nguyện không yêu cầu anh Huỳnh Phú H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Huỳnh Phú H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án.

- Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng thủ tục tố tụng.

Về nội dung giải quyết vụ án: Về hôn nhân đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Lê Thị Kiều. Về con chung: Chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị K, về cấp dưỡng đương sự không yêu cầu nên không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không đề nghị xem xét giải quyết.

Kiến nghị khắc phục: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Ý kiến phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Chị Lê Thị K khởi kiện anh Huỳnh Phú H, sinh năm 1973, địa chỉ: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp để yêu cầu ly hôn và tranh chấp về nuôi con. Đây là vụ kiện “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”. Theo văn bản cung cấp thông tin số 61/CV-CATT ngày 23/4/2024 của Công an thị trấn S xác định anh Huỳnh Phú H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Tân Hồng theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Lê Thị K vắng mặt và có văn bản xin vắng mặt. Bị đơn anh Huỳnh Phú H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt đối với đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án: Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị K, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về hôn nhân: Chị Lê Thị K và anh Huỳnh Phú H chung sống với nhau năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn S vào ngày 14/7/2020 theo quy định Điều 9 Luật hôn nhân gia đình nên hôn nhân giữa anh, chị là hợp pháp.

Chị Lê Thị K cho rằng vợ chồng mâu thuẫn từ năm 2020, thường xuyên cãi nhau, sống không hợp, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn nên chị cương quyết yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Phú H. Kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án và đến ngày xét xử vụ án thì anh Huỳnh Phú H không đến Tòa án và không có văn bản thể hiện ý kiến gửi đến Tòa án. Điều này thể hiện anh H không bác bỏ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị K và tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp cũng như Tòa án thu thập trong quá trình giải quyết vụ án. Đồng thời, thể hiện anh H không có thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị K.

Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Lê Thị K và anh Huỳnh Phú H đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị K khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh H là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình.

- Về con chung: Chị Lê Thị K yêu cầu được nuôi con chung tên Huỳnh Hạnh N, sinh ngày 25/5/2017, tự nguyện không yêu cầu anh Huỳnh Phú H cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay cháu Hạnh N đang sống chung với chị K. Theo bản tự khai ngày 03/6/2024 của cháu N thể hiện nguyện vọng muốn sống chung với mẹ là Lê Thị Kiều. Theo văn bản cung cấp thông tin số 111/UBND ngày 26/4/2024 của Ủy ban nhân dân thị trấn S thể hiện thông tin “...trong thời gian sinh sống tại địa phương, Lê Thị K chưa phát hiện được đơn thư khiếu nại hay bị xử lý vi phạm hành chính và cũng chưa từng vi phạm nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái...”. Tòa án không nhận được văn bản ý kiến hoặc yêu cầu gì của anh Huỳnh Phú H đối với con chung. Do đó, chị K yêu cầu được nuôi con chung tên Huỳnh Hạnh N, sinh ngày 25/5/2017 là có cơ sở và phù hợp nguyện vọng của con chung. Chị Lê Thị K tự nguyện không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn chị Lê Thị K không yêu cầu. Bị đơn anh Huỳnh Phú H không có ý kiến hay yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là phù hợp và có căn cứ theo quy định pháp luật.

[4] Về án phí sơ thẩm: Chị Lê Thị K phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình;

Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử.

- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Kiều.

Chị Lê Thị K được ly hôn với anh Huỳnh Phú H.

- Về con chung: Có 01 con chung tên Huỳnh Hạnh N, sinh ngày 25/5/2017. Chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị Lê Thị Kiều.

+ Chị Lê Thị K được tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung tên Huỳnh Hạnh N, sinh ngày 25/5/2017 (hiện đang sống với chị K). Điều này phù hợp nguyện vọng của cháu N. Anh Huỳnh Phú H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh Huỳnh Phú H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì chị Lê Thị K có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh H.

+ Về cấp dưỡng: Đương sự tự nguyện không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Buộc chị Lê Thị Kiều c 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000đồng theo Biên lai số 0002878 ngày 27/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng, chị K không phải nộp thêm. Anh Huỳnh Phú H không phải chịu tiền án phí.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Tân Hồng;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Hồng;
  • - Các đương sự;
  • - UB nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 07/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn và tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 12/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger