|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST Ngày 09-5-2024 V/v không công nhận quan hệ vợ chồng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Xuân Hùng
- Bà Hoàng Thị Chung
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Khiết – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Động tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tuyển - Kiểm sát viên;
Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 14/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 về việc “Yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/4/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Văn H. sinh năm 1976;
Địa chỉ: T. Đoàn Kết, TT. T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
- Bị đơn: Bà Hoàng Thị H1, sinh năm 1977;
Địa chỉ: TDP. Đoàn Kết, TT. T, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
(Ông H, bà H1 đều có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là ông Trần Văn H trình bày: Năm 1992, ông với bà Hoàng Thị H1 được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, trước khi cưới có thời gian tìm hiểu, tự nguyện, không bị ai cưỡng ép, lừa dối. Sau ngày cưới, vợ chồng về chung sống cùng nhau nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.
Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh căng thẳng từ năm 2009, nguyên nhân là do vợ ông có quan hệ ngoại tình với người đàn ông khác, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau, sống ly thân từ năm 2009 đến nay không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc cho nhau nữa. Ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng hôn nhân căng thẳng, trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống cùng nhau được nữa. Ông đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông và bà H1.
Về con chung: Ông và bà H1 có 02 con chung là anh Trần Văn H2, sinh năm 1996 và anh Trần Văn G, sinh năm 1999. Hiện các con đều đã trưởng thành nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc nuôi dưỡng con chung.
Về tài sản chung: ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài liệu, chứng cứ mà ông H giao nộp cho Tòa án gồm: 02 bản phô tô Căn cước công dân, 02 bản sao Giấy khai sinh của con chung, 01 giấy xác nhận thông tin cư trú, 01 Công văn số 01/UBND-TP, ngày 12/3/2024 của Ủy ban nhân dân xã Đ về việc xác nhận ông H và bà H1 chung sống cùng nhau nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn.
Tại Biên bản ghi lời khai, bị đơn là bà Hoàng Thị H1 trình bày: Năm 1992, bà với ông Trần Văn H được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, trước khi cưới vợ chồng có thời gian tìm hiểu, tự nguyện, không bị ai cưỡng ép, lừa dối. Sau ngày cưới, vợ chồng về chung sống cùng nhau nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.
Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh căng thẳng từ năm 2009, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau về quan điểm, lối sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau, sống ly thân từ năm 2009 cho đến nay, không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc cho nhau nữa.
Bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, tình trạng hôn nhân căng thẳng, trầm trọng, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống cùng nhau được nữa. Nay ông H đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng, bà đồng ý.
Bà H1 xác nhận vợ chồng có 02 con chung như ông H trình bày là đúng, các con đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi dưỡng con chung.
Bà H1 không yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ tài sản.
Ngoài lời khai, bà H1 không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì khác cho Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng và đầy đủ thủ tục tố tụng; các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự của phiên tòa sơ thẩm.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 14, 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông Trần Văn H và bà Hoàng Thị H1; ông H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ông Trần Văn H khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Sơn Động giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng với bà Hoàng Thị H1, có nơi cư trú tại tổ dân phố Đ, thị trấn T, huyện S, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Ông Trần Văn H, bà Hoàng Thị H1 đều xin được vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy:
Ông Trần Văn H và bà Hoàng Thị H1 kết hôn với nhau năm 1992 trên cơ sở có sự thỏa thuận và tự nguyện, nhưng hai bên không đăng ký kết hôn là vi phạm Điều 8 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986; sau khi Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 có hiệu lực thi hành, ông H và bà H1 không đi đăng ký kết hôn theo quy định tại Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội; việc ông H và bà H1 chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Nay ông H yêu cầu Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông H và bà H1, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H là đúng quy định tại Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình.
[3] Về quan hệ con chung: ông H và bà H1 có 02 con chung là anh Trần Văn H2, sinh năm 1996 và anh Trần Văn G, sinh năm 1999. Các con đều đã thành niên, ông H, bà H1 không yêu cầu giải quyết việc nuôi dưỡng con chung nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
[4] Về quan hệ tài sản: ông H, bà H1 không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
[5] Về án phí: Ông H là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 6, khoản 5 Điều 7 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 14 và Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6 và khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Quan hệ hôn nhân: Tuyên bố không công nhân quan hệ vợ chồng giữa ông Trần Văn H và bà Hoàng Thị H1.
- Về án phí: Ông Trần Văn H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0008576 ngày 11/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động; ông H không phải nộp án phí nữa.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Án xử công khai sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hằng |
Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 09/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG về không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 12/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN ĐỘNG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh H và chị H1 chung sống với nhau nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn, anh H xin ly hôn. Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông H và bà H1
