|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 12/2024/HS-ST Ngày 07-6-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quốc Công.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Cảnh Quyện và bà Hoàng Thị Thương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 09/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Đình L, tên gọi khác: Rin; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 21/8/1995, tại Thừa Thiên Huế; Nơi ĐKNKTT và chổ ở hiện nay: 3 N, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Trình độ văn hoá: 8/12; Nghề nghiệp: lái xe; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Đình D, sinh năm 1969 và bà: Hồ Thị Bích P, sinh năm 1971; Gia đình có 02 chị em ruột, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình; Vợ: Trương Hồ Bảo Q, sinh năm 1995; Con: có 02 con, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2017.
Tiền án; tiền sự: Không.
Quá trình nhân thân: Nhỏ ở với gia đình, lớn lên đi học đến lớp 8/12 nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình làm ăn sinh sống. Ngày 24/5/2012, bị Công an huyện Q xử phạt hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 51. Ngày 13/4/2015, bị Công an phường H, thị xã H xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 2353. Ngày 31/5/2016, bị TAND huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị xử phạt 03 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” theo Bản án số 09/2016/HSST. Ngày 18/6/2017, bị TAND thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 09 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” theo Bản án số 18/2017/HSST. Ngày 30/6/2018, bị TAND thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 10 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” theo Bản án số 27/2018/HSST. Ngày 29/11/2019, chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương sinh sống cho đến ngày phạm tội.
2
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/3/2024 đến 14/3/2024 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt.
· Bị hại: Anh Dương Bác T, sinh năm 1995
Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 ngày 08 tháng 3 năm 2024, Nguyễn Đình L đón xe buýt từ chợ Đ, thành phố H về xã Q, huyện Q để tìm người quen. Khi đến thôn T, xã Q, huyện Q, L xuống xe đi bộ hỏi tìm nhà người quen. Khoảng 12 giờ cùng ngày, L vào nhà anh Dương Bác T (SN: 1995, trú tại: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế), L nhìn thấy trên bàn để ti vi có một điện thoại di động Iphone 13 màu đỏ và một điện thoại di động Iphone 12 Promax màu đen xám, nên nảy sinh ý định trộm cắp, L lấy hai chiếc điện thoại nêu trên cất giấu vào trong túi quần của mình rồi đi ra khỏi nhà. Cùng lúc, anh T phát hiện, đuổi theo và hô hoán mọi người xung quanh bắt quả tang L cùng tang vật. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Q, L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐG ngày 11 tháng 3 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Q kết luận: một điện thoại di động Iphone 13 màu đỏ, có Imeil 353341935821951, Imeil 2: 353341835936619 trị giá 6.900.000đ; một điện thoại di động Iphone 12 Promax màu đen xám, có Imeil 357104917607755, Imeil 2: 35704917688540 trị giá 8.800.000đ. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 15.700.000đ (mười lăm triệu bảy trăm nghìn đồng).
- Về thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
+ Một chiếc ĐTDĐ Iphone 13 màu đỏ, có Imeil 353341935821951, Imeil 2: 353341835936619.
+ Một ĐTDĐ Iphone 12 Promax màu đen xám, có Imeil 357104917607755, Imeil 2: 35704917688540.
Ngày 18/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q ra Quyết định xử lý vật chứng số 65/QĐ bằng hình thức trả lại cho chủ sử hữu Dương Bác Thiên những vật chứng nêu trên.
+ 01 đĩa DVD chứa 02 đoạn video camera an ninh ghi lại sự việc xảy ra vào ngày 08/3/2024 tại nhà anh Dương Bác T (chuyển theo hồ sơ vụ án).
+ 01 chiếc áo mưa (dạng hai tà), màu xanh, đã qua sử dụng.
Ngày 22/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã nhập kho vật chứng nêu trên theo lệnh nhập kho vật chứng số 35.
3
- Về dân sự: anh Dương Bác T đã nhận lại tài sản bị mất nên không có yêu cầu gì.
Tại bản cáo trạng số 08/CT-VKS, ngày 04/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền truy tố bị cáo Nguyễn Đình L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội đã gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình L phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình L từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù.
Không xử phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Ngày 18/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q ra Quyết định xử lý vật chứng số 65 bằng hình thức trả lại tài sản cho chủ sở hữu là Dương Bác T: Một chiếc ĐTDĐ Iphone 13 màu đỏ, có Imeil 353341935821951, Imeil 2: 353341835936619; Một ĐTDĐ Iphone 12 Promax màu đen xám, có Imeil 357104917607755, Imeil 2: 35704917688540. Anh T nhận lại tài sản không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Áp dụng điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng sau vì không có giá trị sử dụng: 01 áo mưa (dạng áo mưa hai tà), màu xanh, đã qua sử dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Không ai có yêu cầu, đề nghị không xem xét.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo L phải chịu 200.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố, thống nhất với kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá, tội danh, hình phạt mà Viện kiểm sát đã đề nghị và có ý kiến mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
4
[1]. Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.
[2]. Đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ 00 ngày 08 tháng 3 năm 2024, tại thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế, Nguyễn Đình L có hành vi lén lút, đột nhập vào nhà anh D1 Bác T lấy trộm một điện thoại di động Iphone 13 màu đỏ và một điện thoại di động Iphone 12 Promax màu đen xám với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt theo kết luận định giá tài sản số 07/KL-HĐĐG ngày 11 tháng 3 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản là 15.700.000đ (mười lăm triệu bảy trăm nghìn đồng).
Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của công dân mà pháp luật bảo vệ và đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản ”. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền truy tố bị cáo Nguyễn Đình L về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Bị cáo là người có đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức và điều khiển được hành vi của mình theo quy định của pháp luật. Bị cáo biết rõ hành vi chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân, bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác tại địa phương. Do đó cần phải áp dụng mức hình phạt thích đáng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[4]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Ngày 24/5/2012, bị Công an huyện Q xử phạt hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 51. Ngày 13/4/2015, bị Công an phường H, thị xã H xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 2353. Ngày 31/5/2016, bị TAND huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị xử phạt 03 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” theo Bản án số 09/2016/HSST. Ngày 18/6/2017, bị TAND thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 09 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” theo Bản án số 18/2017/HSST. Ngày 30/6/2018, bị TAND thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 10 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản” theo Bản án số 27/2018/HSST.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định của Bộ luật hình sự.
5
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tại phiên toà bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5]. Về biện pháp chấp hành hình phạt:
Xét thấy bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính cũng như bị xử phạt tù về tội “trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục phạm tội. Do đó, cần áp dụng Điều 38 Bộ luật hình sự với một mức án thích hợp, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[6]. Về xử lý vật chứng: 01 áo mưa (dạng áo mưa hai tà), màu xanh, đã qua sử dụng do không có giá trị sử dụng nên cần áp dụng điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu huỷ.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay, bị hại không có yêu cầu, Hội đồng xét xử không xem xét.
[8]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Đình L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình L phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
-
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình L 12 (mười hai) tháng tù.
Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ 08/3/2024.
-
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 01 áo mưa (dạng áo mưa hai tà), màu xanh, đã qua sử dụng.
(Vật chứng trên có chủng loại, đặc điểm, tình trạng theo bên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Điền ngày 07/5/2024).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Đình L phải chịu 200.000₫ (hai trăm ngàn đồng) theo quy định pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được sửa đổi bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Quốc Công |
Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản (criminal case)
- Số bản án: 12/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình Long 12 tháng tù
