|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM TỈNH BẮC KẠN Bản án số: 12/2024/HSST Ngày: 06/6/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM – TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tiến Đại.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Dương Thanh Trầm.
- Bà Hoàng Thị Hạnh.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Triệu Giang – Thư ký Toà án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Vi Văn Luận, bà Hứa Thị Hồng T - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại Nhà văn hóa thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Tòa án nhân dân huyện Pác Nặm, tỉnh Bắc Kạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2024/HSST, ngày 28/3/2024 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bàn Hữu T1 (Tên gọi khác: M), sinh ngày 21/6/1989; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do, Trình độ học vấn: Lớp 04/12; đảng, đoàn: Không; dân tộc: Dao; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Bàn Nguyên K, đã chết và bà Hoàng Thị L, đã chết; vợ: Đặng Thị L1, sinh năm 1995; con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
- Anh Mùng Văn T2, sinh năm 1993.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Mùng Văn T2: Bà Nông Thị L2, sinh năm 1965 (mẹ đẻ anh T2). Có đơn đề nghị xét xử mặt.
Đều có địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
- Anh Triệu Dào P, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Thôn K, xã T, huyện B, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt.
* Người làm chứng:
Anh Nguyễn Đình T3, sinh năm 1988. Vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn N, xã B, huyện P, tỉnh Bắc Kạn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 21/7/2023, tổ công tác của Đội điều tra tổng hợp Công an huyện P và Công an xã N đang thực hiện nhiệm vụ tại xã N, huyện P thì nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại nhà của Mùng Văn T2 ở thôn B có đối tượng tàng trữ trái phép chất ma túy; tiến hành kiểm tra nguồn tin tại nhà Mùng Văn T2 có 01 nam thanh niên là Bàn Hữu T1 sinh năm 1989, trú tại thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Bắc Kạn và T2 đang ở nhà. Quá trình kiểm tra, Bàn Hữu T1 tự chỉ vị trí giấu ma túy tại dưới đệm giường ngủ trong buồng ngủ của nhà Mùng Văn T2, kiểm tra theo vị trí Bàn Hữu T1 chỉ, phát hiện và thu giữ 01 túi ni lon dạng túi có khóa zip, bên trong có 10 gói nhỏ gồm 04 gói nhỏ được gói bằng giấy một mặt màu bạc, một mặt màu trắng và 06 gói nhỏ được gói bằng giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, bên trong 10 gói nhỏ này đều chứa chất màu trắng dạng bột và dạng cục nghi là chất ma túy, đã niêm phong vào phong bì ký hiện T1 và thu giữ của Bàn Hữu T1 số tiền 2.120.000 đồng; Bàn Hữu T1 khai nhận, số ma túy thu được trong nhà ở của Mùng Văn Thế là của Bàn Hữu T1, mục đích cất giấu là để bán cho người khác kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt quả tang đối với T1 và T2.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tiến hành khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của Mùng Văn T2 tại thôn Bản Nà, xã N, huyện P phát hiện và thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi (là điện thoại của Bàn Hữu T1) và 01 điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu VIVO, 01 xi lanh nhựa đã qua sử dụng và số tiền 600.000 đồng của Mùng Văn T2. Khám xét khẩn cấp người và chỗ ở của Bàn Hữu T1 tại thôn N, xã Q, huyện B không phát hiện và thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tiến hành mở, đóng niêm phong và cân xác định khối lượng vật chứng là ma túy trong phong bì ký hiệu T1, kết quả: Trong phong bì ký hiệu T1 có 01 túi nilon dạng túi có khóa zip, bên trong có 10 gói nhỏ, trong đó có 04 gói nhỏ được gói bằng giấy một mặt màu bạc, một mặt màu trắng và 06 gói nhỏ được gói bằng giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng đều chứa chất màu trắng dạng cục và bột, có tổng khối lượng là 0,25g (không phẩy hai năm gam). Sau khi cân khối lượng, toàn bộ chất màu trắng nghi là ma túy được niêm phong vào phong bì ký hiệu T5 để gửi giám định.
Ngày 22/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 20/QĐ-CSĐT để xác định khối lượng, loại ma túy. Tại Kết luận giám định số 246/KL-KTHS ngày 27/7/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu T5 gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu T5 có khối lượng là 0,25g (không phẩy hai năm gam). Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu T5 còn lại 0,21g (không phẩy hai một gam) cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T142 hoàn trả lại cho cơ quan trưng cầu giám định.
Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Bàn Hữu T1 đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân: Bàn Hữu T1 và Mùng Văn T2 (Sinh năm 1993. Trú tại: thôn B, xã N, huyện P) đều là người nghiện quen biết nhau và T1 đã được đến nhà T2 chơi mấy lần. Ngày 20/7/2023, T1 đến khu vực Đ, xã K, huyện B, tỉnh Bắc Kạn gặp và mua với 02 người đàn ông không quen biết được 01 gói ma túy với giá 1.000.000 đồng, sau đó Tiền chia số ma túy này thành 12 gói nhỏ, dùng loại giấy trong vỏ bao thuốc lá có màu trắng, bạc, vàng để gói và để vào trong một túi nilon loại túi có khóa zip, sau đó đi về nhà thì gặp Triệu Phúc P1 là người quen đang điều khiển xe mô tô, nên nhờ Triệu Phúc P1 chở đến nhà Mùng Văn T2 ở xã N, huyện P rồi trả Phẩm 30.000 đồng tiền xăng xe và dặn Phẩm trưa ngày hôm sau (tức ngày 21/7/2023) đến đón T1 đi về nhà. Mục đích T1 đến nhà Mùng Văn T2 để bán ma túy cho những người nghiện có nhu cầu, nhưng khi đến nhà T2 thì T1 nói với Thế là do cãi nhau với vợ nên đến chơi với T2 vài hôm nên T2 không biết mục đích bán ma túy của T1. Buổi tối ngày 20/7/2023, do thấy nhà T2 có khách nên T1 ngủ ở nhà anh Mùng Văn M1 (Sinh năm 1988. Trú tại: Bản N, xã N, huyện P) ở gần nhà Mùng Văn T2, đến buổi sáng ngày 21/7/2023, T1 đi xuống nhà Mùng Văn T2 và giấu túi zíp có chứa 12 gói ma túy vào dưới đệm trong giường ngủ của Mùng Văn T2. Khoảng 09 giờ ngày 21/7/2023, khi đang nằm ở trong buồng ngủ thì T1 nghe thấy có người hỏi Mùng Văn T2 để mua ma túy nhưng Mùng Văn T2 nói không có, thấy vậy T1 cầm 02 gói ma túy rồi đi ra chỗ đất trống tiếp giáp nhà bếp của Mùng Văn T2, người thanh niên này (sau này mới biết là Nguyễn Đình T3) đi theo và hỏi T1 là có hàng không (ý là có ma túy không), T1 nói “Có, con 200.000 đồng" rồi T3 đưa cho T1 200.000 đồng, T1 đưa cho T3 01 gói ma túy loại heroine. Sau khi bán ma túy xong, T1 đi vào trong nhà thì Mùng Văn T2 hỏi T1 là "có ma túy không, cho một con, cho nợ trước", thấy T2 đang có biểu hiện vật ma túy nên T1 đồng ý và nói “còn một con, 200.000 đồng, nợ nhé” rồi đưa cho Mùng Văn T2 01 gói ma túy heroine. Mùng Văn T2 cầm lấy gói ma túy và đi vào trong bếp để sử dụng, Tiền định đi vào buồng ngủ lấy ma túy cất giấu dưới đệm thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ được 10 gói Tiền chưa kịp bán hết, có trọng lượng 0,25g (không phẩy hai năm gam). Lời khai nhận của bị can Bàn Hữu T1 hoàn toàn phù hợp với lời khai của những người làm chứng Mùng Văn T2, Nguyễn Đình T3 về thời gian, địa điểm, số lượng, loại ma túy đã mua bán và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
* Vật chứng, tài sản tạm giữ của vụ án:
- 01 phong bì niêm phong ký hiệu T142, mặt trước phong bì có dòng chữ "Mẫu hoàn trả sau giám định, mặt sau phong bì có 02 chữ ký không đọc được và 02 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B, là toàn bộ số ma túy tạm giữ trong vụ án sau giám định.
- 01 phong bì niêm phong ký hiệu T4, mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, bên trong chứa giấy gói, túi nilon và vỏ phong bì niêm phong ký hiệu T1.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen đã qua sử dụng, loại máy màn hình cảm ứng, máy có 06 số cuối imei 1 là 711923, 06 số cuối imei 2 là 711931, bên trong lắp 01 thẻ sim nhà mạng V có 06 số cuối seri là 175267 và 01 sim nhà mạng Vinaphone có 06 số cuối seri là 643214.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo đã qua sử dụng, mặt trước màu trắng, mặt sau màu vàng đồng, loại máy màn hình cảm ứng, máy có 06 số cuối imei 1 là 004757 và 06 số cuối imei 2 là 004740, bên trong lắp 01 sim nhà mạng Viettel có 06 số cuối seri là 571380.
- 01 xi lanh nhựa 3ml đã qua sử dụng, trên thân xi lanh có bám dính đất.
- Số tiền 2.120.000 đồng tạm giữ của Bàn Hữu T1 và số tiền 600.000 đồng tạm giữ của Mùng Văn T2.
Các tài sản, vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản theo quy định.
Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra thu giữ của Triệu Dào P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia vỏ nhựa màu đen, đã qua sử dụng loại máy bàn phím cơ học, máy có số seri 359751043705636 và 01 căn cước công dân số [...] mang tên Triệu Dào P, đều là tài sản của Triệu Dào P, không liên quan đến vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội và không có ý kiến gì về kết quả cân trọng lượng; kết quả giám định và việc xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra.
T'i b¶n co tr¹ng sè 08/CT-VKSPN ngµy 28 th¸ng 3 n¨m 2024 cña ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyện P®· truy tè ®èi víi Bàn Hữu T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. §iÒu luËt cã néi dung:
"1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
...
b) Phạm tội 02 lần trở lên
...
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản".
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm trong phần luận tội đã giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, xử phạt đối với bị cáo Bàn Hữu T1 từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về vật chứng:
01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen đã qua sử dụng, loại máy màn hình cảm ứng, máy có 06 số cuối imei 1 là 711923, 06 số cuối imei 2 là 711931, bên trong lắp 01 thẻ sim nhà mạng V có 06 số cuối seri là 175267 và 01 sim nhà mạng Vinaphone có 06 số cuối seri là 643214 là tài sản của bị cáo, bị cáo không dụng vào thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị trả lại cho bị cáo.
01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo đã qua sử dụng, mặt trước màu trắng, mặt sau màu vàng đồng, loại máy màn hình cảm ứng, máy có 06 số cuối imei 1 là 004757 và 06 số cuối imei 2 là 004740, bên trong lắp 01 sim nhà mạng Viettel có 06 số cuối seri là 571380 và số tiền 600.000₫ ( Sáu trăm nghìn đồng) là tài sản của Mùng Văn T2, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho Mùng Văn T2.
Tịch thu của bị cáo số tiền 200.000đ do bán ma túy mà có để sung công quỹ nhà nước.
Trả lại cho bị cáo số tiền 1.920.000 đồng.
Số vật chứng còn lại không có giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật gồm: 01 phong bì niêm phong ký hiệu T142, mặt trước phong bì có dòng chữ "Mẫu hoàn trả sau giám định, mặt sau phong bì có 02 chữ ký không đọc được và 02 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B, là toàn bộ số ma túy tạm giữ trong vụ án sau giám định; 01 phong bì niêm phong ký hiệu T4, mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, bên trong chứa giấy gói, túi nilon và vỏ phong bì niêm phong ký hiệu T1; 01 xi lanh nhựa 3ml đã qua sử dụng, trên thân xi lanh có bám dính đất.
- Về án án phí: Miễn án phí cho bị cáo.
* Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Mùng Văn T2: Bà Nông Thị L2, sinh năm 1965 (mẹ đẻ anh T2) có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và yêu cầu được nhận lại tài sản là 01 chiếc điện thoại di động và số tiền 600.000đ thu giữ của T2.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Triệu Dào P có đơn xin xét xử vắng mặt và không có yêu cầu gì thêm.
* Bị cáo thành khẩn, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến gì với quyết định truy tố và không có tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thấy mình đã vi phạm pháp luật và mong muốn Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, tỉnh Bắc Kạn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố, tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 21/7/2023, tại nhà của Mùng Văn T2, Bàn Hữu T1 đã bán cho Nguyễn Đình T3 01 gói ma túy giá 200.000 đồng; bán cho Mùng Văn T2 01 gói ma túy giá 200.000 đồng nhưng T2 nợ chưa trả tiền, khi bắt quả tang đã thu giữ được của bị cáo 10 gói ma túy loại heroine có khối lượng 0,25g (Không phẩy hai năm gam), T1 chưa kịp bán. Hành vi bị cáo thực hiện thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
XĐt tÝnh chÊt hµnh vi bÞ c¸o thùc hiÖn lµ nguy hiểm cho xã hội, ®· x©m ph¹m chÝnh s¸ch ®éc quyÒn qu¶n lý cña Nhµ níc vÒ c¸c chÊt ma tóy. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý, trong khi bị cáo có đầy đủ năng lực về trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bé luËt h×nh sù là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Vì vậy cần xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[3] Về nhân thân: Bị cáo Bàn Hữu T1 sinh ra tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn, được gia đình nuôi ăn học hết lớp 4/12 rồi nghỉ học ở nhà lao động tự do. Với bản tính lười lao động, thích ăn chơi đua đòi, có lối sống buông thả và coi thường pháp luật nên bị cáo đã mắc nghiện ma túy. Để có tiền thỏa mãn cơn nghiện bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán chất ma túy để kiếm lời. Ngày 26/7/2023 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P khởi tố bị can về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo bị bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/7/2023 đến nay. Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhưng đã bị Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 06 ( sáu) tháng cải tạo không giam giữ về tội trộm cắp tài sản tại bản án số 04/2006/HSST ngày 15/3/2006.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra vụ án bị cáo thành khẩn khai báo và đã tự khai ra hành vi bán chất ma túy cho Nguyễn Đình T3 và Mùng Văn T2. Do vậy bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là người phạm tội tự thú, người phạm tội thành khẩn khai báo, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[5] Hội đồng xét xử xét thấy bản Cáo trạng sè 08/CT-VKSPN Ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Pác Nặm đã truy tố đối với Bàn Hữu T1 theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có căn cứ.
[6] Về các nội dung đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX tại phiên tòa gồm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50, điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS, xử phạt đối với bị cáo từ 07 đến 07 năm 06 tháng tù; về hình phạt bổ sung không áp dụng; về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật; miễn án phí cho bị cáo. Xét thấy các nội dung đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và các vấn đề khác là phù hợp với quy định của pháp luật.
[7] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo người nghiện chất ma túy, không có thu nhập ổn định, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
[8] Về vật chứng:
01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen đã qua sử dụng, loại máy màn hình cảm ứng, máy có 06 số cuối imei 1 là 711923, 06 số cuối imei 2 là 711931, bên trong lắp 01 thẻ sim nhà mạng V có 06 số cuối seri là 175267 và 01 sim nhà mạng Vinaphone có 06 số cuối seri là 643214 là tài sản của bị cáo, bị cáo không sử dụng vào thực hiện hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo đã qua sử dụng, mặt trước màu trắng, mặt sau màu vàng đồng, loại máy màn hình cảm ứng, máy có 06 số cuối imei 1 là 004757 và 06 số cuối imei 2 là 004740, bên trong lắp 01 sim nhà mạng Viettel có 06 số cuối seri là 571380 và số tiền 600.000₫ ( Sáu trăm nghìn đồng) là tài sản của Mùng Văn T2, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần trả lại cho Mùng Văn T2.
Tịch thu của bị cáo số tiền 200.000đ do bán ma túy mà có để sung công quỹ nhà nước.
Đối với số tiền 1.920.000 đồng là tiền của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.
Số vật chứng còn lại không có giá trị sử dụng gồm: 01 phong bì niêm phong ký hiệu T142, mặt trước phong bì có dòng chữ "Mẫu hoàn trả sau giám định, mặt sau phong bì có 02 chữ ký không đọc được và 02 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B, là toàn bộ số ma túy tạm giữ trong vụ án sau giám định; 01 phong bì niêm phong ký hiệu T4, mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, bên trong chứa giấy gói, túi nilon và vỏ phong bì niêm phong ký hiệu T1; 01 xi lanh nhựa 3ml đã qua sử dụng, trên thân xi lanh có bám dính đất. Xét số vật chứng trên không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
Việc thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 357 Bộ luật dân sự.
Việc xử lý vật chứng như trên là phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS.
Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không có căn cứ xác định tên tuổi, địa chỉ cụ thể, vì vậy không có căn cứ để xử lý.
Đối với Nguyễn Đình T3 (Sinh năm 1988. Trú tại: thôn N, xã B, huyện P) và Mùng Văn Thế 1 những người nghiện đã mua ma túy với T1 về để sử dụng nhưng hành vi không cấu thành tội phạm nên không xem xét xử lý.
[9] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, không có thu nhập, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, có đơn xin miễn án phí. Do đó miễn án phí đối với bị cáo là phù hợp với quy định tại Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016 của UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Bàn Hữu T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm b kho¶n 2 §iÒu 251, Điều 38, Điều 50, điểm r, s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Xử phạt bị cáo Bàn Hữu T1 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 21/7/2023.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS
- Trả lại cho bị cáo Bàn Hữu T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen đã qua sử dụng, loại máy màn hình cảm ứng, máy có 06 số cuối imei 1 là 711923, 06 số cuối imei 2 là 711931, bên trong lắp 01 thẻ sim nhà mạng V có 06 số cuối seri là 175267 và 01 sim nhà mạng Vinaphone có 06 số cuối seri là 643214.
- Trả lại cho bị cáo số tiền 1.920.000₫ ( Một triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng).
- Trả lại cho Mùng Văn T2 sinh năm 1993. (Người đại diện theo ủy quyền của anh Mùng Văn T2): Bà Nông Thị L2, sinh năm 1965 (mẹ đẻ anh T2). Đều có địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện P, tỉnh Bắc Kạn 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo đã qua sử dụng, mặt trước màu trắng, mặt sau màu vàng đồng, loại máy màn hình cảm ứng, máy có 06 số cuối imei 1 là 004757 và 06 số cuối imei 2 là 004740, bên trong lắp 01 sim nhà mạng Viettel có 06 số cuối seri là 571380 và số tiền 600.000₫ ( Sáu trăm nghìn đồng).
- Tịch thu của bị cáo số tiền 200.000đ do bán ma túy mà có để sung công quỹ nhà nước.
- Tịch thu tiêu hủy số vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: 01 phong bì niêm phong ký hiệu T142, mặt trước phong bì có dòng chữ "Mẫu hoàn trả sau giám định, mặt sau phong bì có 02 chữ ký không đọc được và 02 hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B, là toàn bộ số ma túy tạm giữ trong vụ án sau giám định; 01 phong bì niêm phong ký hiệu T4, mặt sau phong bì có 02 hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, bên trong chứa giấy gói, túi nilon và vỏ phong bì niêm phong ký hiệu T1; 01 xi lanh nhựa 3ml đã qua sử dụng, trên thân xi lanh có bám dính đất.
Việc thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 357 Bộ luật dân sự
Số lượng và tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/3/2024 giữa Công an huyện P và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Pác Nặm.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016 của UBTVQH quy ®Þnh vÒ ¸n phÝ, lÖ phÝ Tẞa ¸n. Miễn án toàn bộ án phí cho bị cáo.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự."
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi liên quan anh Triệu Dào P, anh Mùng Văn T2, người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi liên quan Mùng Văn Thế là bà Nông Thị L2, vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phạm Tiến Đại |
Bản án số 12/2024/HSST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 12/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PÁC NẶM, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bàn Hữu T mua bán trái phép chất ma túy
