Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KB

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 06/5/2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Huế

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Minh và ông R Mah In ( Ama Ka)

Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Mạnh – Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Bông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện KB tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Anh – Kiểm sát viên

Vào ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 09/2024/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/ QÐST-HNGĐ ngày 25 tháng 03 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 16 /2024/QĐHPT – HNGĐ ngày 12/4/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1981 ( có mặt)
  • - Bị đơn: Anh Hoàng Văn H1, sinh năm 1978 (vắng mặt)

Đồng trú tại: Thôn A, HL, huyện KB, Đăk Lăk

NỘI DUNG VỤ ÁN

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn H1 chung sống với nhau từ năm 2000 nhưng đến năm 2003 mới đi đăng ký kết hôn tại UBND xã HL, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk.

Trong thời gian chung sống với nhau, vợ chồng không có hạnh phúc, không có sự tôn trọng, quan tâm, chăm sóc và chia sẻ trách nhiệm gia đình với nhau.

Từ năm 2021 đến nay, chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn H1 không còn chung sống cùng nhau, không có sự quan tâm, chăm sóc nhau.

Nhận thấy không thể đoàn tụ, níu kéo hạnh phúc gia đình được nên chị Nguyễn Thị H đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn H1

Về con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn H1 có ba người con chung là: Hoàng Thị Khánh H2, sinh ngày 30/11/2000 ; Hoàng Thị Khánh V, sinh ngày 26/01/2003 và Hoàng Văn Q, sinh ngày 01/01/2010.

Đối với con chung là Hoàng Thị Khánh H2 và Hoàng Thị Khánh V đã thành niên và khoẻ mạnh nên chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết

Đối với con chung chưa thành niên là Hoàng Văn Q, sinh ngày 01/01/2010. Khi ly hôn, chị Nguyễn Thị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc.

Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H tự nguyện chịu trách nhiệm nộp toàn bộ án phí Hôn nhân và gia định sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Quá trình giải quyết vụ án: Mặc dù Toà án đã triệu tập hợp lệ. Chị Nguyễn Thị H cũng đã cung cấp số điện thoại của anh Hoàng Văn H1 cho Toà án và chúng tôi cũng đã liên lạc với anh Hoàng Văn H1, đồng thời nhờ người nhà anh Hoàng Văn H1 thông báo việc chị Nguyễn Thị H khởi kiện ly hôn với anh và yêu cầu anh Hoàng Văn H1 về Toà án huyện Krông Bông, Đắk Lắk để làm việc nhưng anh Hoàng Văn H1 lấy lý do bận việc nên không thể về Toà án huyện Krông Bông, Đắk Lắk để làm việc được.

Tại bản tự khai ngày 23/01/2024, cháu Hoàng Văn Q trình bày: Kh cha mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với mẹ vì mẹ cháu chăm sóc cháu nhiều hơn, từ khi bố mẹ không ở với nhau thì cháu ở với mẹ và được mẹ chăm sóc.

Khi nhận được các văn bản của Toà án cháu cũng đã chụp rồi gửi qua meesinger cho bố, bố cháu cũng đã đọc nhưng không trả lời và cháu gọi điện thoại cho bố qua số điện thoại 0944.837.xxx

Qua xác minh tại Công an xã HL, KB, Đắk Lắk cho biết: Anh Hoàng Văn H1 có đăng ký hộ khẩu thường trú ở địa phương, thôn A, HL, KB, Đắk Lắk nhưng hiện nay anh Hoàng Văn H1 không làm ăn sinh sống tại địa phương mà tạm trú tại số nhà 50/16 Nguyễn Tri P, Khu phố Bình đường B, phường AB, DA, Bình Dương . Thời hạn đăng ký tạm trú là 01 năm kể từ ngày đăng ký .

Tại biên bản không tống đạt được văn bản ngày 22/02/2024 của văn phòng thừa phát lại DA, Bình Dương thể hiện: Việc tống đạt giấy triệu tập và Thông báo thụ lý vụ án cho đương sự Hoàng Văn H1 không được, lý do anh Hoàng Văn H1 thường xuyên vắng mặt tại địa chỉ và không có người thân nhận thay văn bản tố tụng.

Tại biên bản xác minh ngày 23/3/2024, thôn trưởng thôn A, HL, KB, Đắk Lắk cho biết : Anh Hoàng Văn H1 và chị Nguyễn Thị H không chung sống với nhau từ năm 2021. Mỗi khi anh Hoàng Văn H1 về thôn 10, Hoà Lễ thì anh Hoàng Văn H1 chỉ về một mình, anh Hoàng Văn H1 không về nhà chung của 02 vợ chồng để ở mà nếu về thì ở nhà bạn chứ không về nhà, Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn H1 như thế nào thì tôi không biết . Tại thôn A, HL, anh Nguyễn Thị H có 01 ngưới bác tên là Đỗ Xuân T, hiện ông Tính là Bí thư thôn A, HL, KB, Đắk Lắk. Mỗi khi về anh Hoàng Văn H1 cũng hay về nhà người bác này .

Tại biên bản xác minh ngày 20/3/2024, ông Đỗ Xuân T cho biết: Tôi là bác họ của anh Hoàng Văn H1, anh Hoàng Văn H1 chỉ có mình tôi là người thân duy nhất tại địa phương, tôi cũng đã liên lạc với anh Hoàng Văn H1 qua zalo thông báo cho anh Hoàng Văn H1 biết về việc hiện nay Toà án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk đang giải quyết vụ án xin ly hôn theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị H đối với anh Hoàng Văn H1 . Anh Hoàng Văn H1 cũng cho tôi biết, anh Hoàng Văn H1 đã biết sự việc và cũng đã nhận được một số văn bản mà Toà án gửi cho anh nhưng anh Hoàng Văn H1 không về Toà án để làm việc được. Anh Hoàng Văn H1 cũng cho biết anh và chị Nguyễn Thị H cũng đã thoả thuận với nhau về việc ly hôn, con chung và phân chia tài sản chung nên Toà án giải quyết thế nào thì tuỳ Toà án. Mỗi khi anh Hoàng Văn H1 có dịp về thì ở lại nhà tôi vài ba hôm rồi đi, anh Hoàng Văn H1 có về nhà riêng nhưng không ở lại. Trước tết, khoảng tháng 9/2023, anh Hoàng Văn H1 có về chơi, từ đó đến nay thì anh Hoàng Văn H1 chưa về.

Tại phiên toà :

  • Nguyên đơn (Nguyễn Thị H ) giữ nguyên quan điểm và mong muốn được ly hôn với anh Hoàng Văn H1. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên là Hoàng Văn Q, sinh ngày 01/01/2010
  • Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết.
  • Về án phí: Chị Nguyễn Thị H tự nguyện chịu trách nhiệm nộp toàn bộ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với đương sự:

Nguyên đơn đã được đảm bảo đầy đủ các quyền và lời ích hợp pháp theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Bị đơn cố tình vắng mặt là tự từ bỏ quyền được tham gia tố tụng tại Toà án.

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 51; Điều 56, Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H .

Về con chung: Các đương sự có 03 người con chung là: Hoàng Thị Khánh H2, sinh ngày 30/11/2000 ; Hoàng Thị Khánh V, sinh ngày 26/01/2003 và Hoàng Văn Q, sinh ngày 01/01/2010.

Đối với con chung là Hoàng Thị Khánh H và Hoàng Thị Khánh V đã thành niên và khoẻ mạnh nên chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, không đặt ra để giải quyết.

Đối với con chung chưa thành niên là Hoàng Văn Q, sinh ngày 01/01/2010. Khi ly hôn, chị Nguyễn Thị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên là Hoàng Văn Q, sinh ngày 01/01/2010. Cháu Hoàng Văn Q cũng có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn.

Để đảm bảo quyền lợi cho người con chưa thành niên. Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung là Hoàng Văn Q, sinh ngày 01/01/2010 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, không đặt ra để giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H tự nguyện chịu trách nhiệm nộp toàn bộ án phí Hôn nhân và gia định sơ thẩm theo quy định của pháp luật nên cần chấp nhận

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết “ly hôn và tranh chấp về con chung”, các đương sự đều có hộ khẩu thường trú tại xã HL, huyện KB, Đăk Lăk. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, Đắk Lắk theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa ngày hôm nay, anh Hoàng Văn H1 vắng mặt tại phiên toà không lý do nhưng đây là lần thứ hai phiên toà được mở. Do vậy, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, Đăk Lăk vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về nội dung: Căn cứ vào lời trình bày của đương sự và các tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:

[3.1] Chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn H1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã HL, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk vào năm 2003. Do vậy, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Tuy nhiên, cuộc sống của hai vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nên từ năm 2021 đến nay, chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn H1 không còn chung sống với nhau, không có sự quan tâm, chăm sóc nhau.

Mặc dù vậy, nhiều lần Toà án triệu tập anh Hoàng Văn H1 lên để làm việc nhưng anh Hoàng Văn H1 không đến Toà án để làm việc, không có thiện chí hoà giải để hàn gắn hạnh phúc gia đình.

Nhận thấy, trong một thời gian dài mà chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn H1 không thể tự hoà giải để hàn gắn gia đình được. Do vậy, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H .

[3.2] Về con chung: Các đương sự có 03 người con chung là: Hoàng Thị Khánh H2, sinh ngày 30/11/2000 ; Hoàng Thị Khánh V, sinh ngày 26/01/2003 và Hoàng Văn Q, sinh ngày 01/01/2010.

Đối với con chung là Hoàng Thị Khánh H và Hoàng Thị Khánh V đã thành niên và khoẻ mạnh nên chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, không đặt ra để giải quyết.

Đối với con chung chưa thành niên là Hoàng Văn Q, sinh ngày 01/01/2010. Khi ly hôn, chị Nguyễn Thị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa thành niên là Hoàng Văn Q, sinh ngày 01/01/2010. Cháu Hoàng Văn Q cũng có nguyện vọng được ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn.

Để đảm bảo quyền lợi cho người con chưa thành niên. Cần giao con chung là Hoàng Văn Q, sinh ngày 01/01/2010 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, không đặt ra để giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H tự nguyện chịu trách nhiệm nộp toàn bộ án phí Hôn nhân và gia định sơ thẩm theo quy định của pháp luật nên cần chấp nhận

Xét đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm c khoản 1 Điều 217; Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 51; Điều 55, Điều 56, Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình

Áp dụng: khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Thị H

  1. Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn H1 chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

    Giấy chứng nhận kết hôn số 06 ngày 16/5/2003 không cón hiệu lực pháp luật kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

  2. Về con chung:

    Giao con chung là Hoàng Văn Q, sinh ngày 01/01/2010 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.

    Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở bên không trực tiếp nuôi con thực hiện các quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

  3. Về án phí: Chấp nhận việc chị Nguyễn Thị H tự nguyện chịu trách nhiệm nộp toàn bộ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng . Được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai số 4695 ngày 15/01/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Krông Bông, Đắk Lắk
  4. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -TANDTC;
  • -TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • -VKSND huyện ;
  • -Các ĐS;
  • -THADS huyện ;
  • -UBND xã HL;
  • -Lưu Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Trương Thị Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 12/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn H1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã HL, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk vào năm 2003. Do vậy, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, cuộc sống của hai vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nên từ năm 2021 đến nay, chị Nguyễn Thị H và anh Hoàng Văn H1 không còn chung sống với nhau, không có sự quan tâm, chăm sóc nhau. Mặc dù vậy, nhiều lần Toà án triệu tập anh Hoàng Văn H1 lên để làm việc nhưng anh Hoàng Văn H1 không đến Toà án để làm việc, không có thiện chí hoà giải để hàn gắn hạnh phúc gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger