TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2025/HS-ST Ngày: 06-02-2025 | ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Quốc Xuân
- Ông Phạm Minh Tâm – Cán bộ Đoàn Thanh niên
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoài – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hữu Quang - Kiểm sát viên
Trong ngày 06 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 99/2024/HSST ngày 18 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 719/2024/QĐXXST - HS ngày 20 tháng 12 năm 2024; Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 01/2025/TB -TA ngày 06 tháng 01 năm 2025 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 25/2025/TB -TA ngày 13 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
Đặng Thành Đ, sinh ngày 16/01/2007, tại tỉnh An Giang; Hộ khẩu thường trú: Tổ G, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
Chỗ ở trước khi bị bắt: Không có nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: Không; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 3/12; Tôn giáo: Không; Con ông Đặng Văn T và bà Huỳnh Thị T1.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/10/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam C - T, Công an Thành phố H.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người đại diện hợp pháp của bị cáo:
- Ông Đặng Văn T, sinh năm 1982 - Cha của bị cáo. (Vắng mặt)
- Bà Huỳnh Thị T1, sinh năm: Không rõ – Mẹ của bị cáo. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ G, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Kim L - Luật sư thực hiện trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H. (Có mặt)
Địa chỉ: D N, phường I, Quận A, Tp ..
* Người bị hại: Ông Trần Trung D, sinh năm 1984 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số A, Ấp A, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Em Nhan Tô Trí T2, sinh ngày 18/10/2011 (Người đại diện hợp pháp: Ông Nhan Trần Tịnh Đ1, sinh năm 1990 (Cha); Bà Tô Thị Ngọc H, sinh năm 1993 (Mẹ); Địa chỉ: Số A đường P, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh). (Vắng mặt)
- Em Phạm Tấn T3, sinh ngày 28/3/2011 (Người đại diện hợp pháp: Ông Phạm Văn T4, sinh năm 1964 (Cha); Bà Thạch Thị P, sinh năm 1982 (Mẹ); Địa chỉ: Lô A đường H, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh). (Vắng mặt)
- Bà Võ Thị Đ2 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số C đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. - Ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1967 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện P, tỉnh An Giang. - Bà Tô Thị Ngọc H, sinh năm 1993 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số A đường B, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 14/10/2024, ông Trần Trung D điều khiển xe biển số 51Z9-3011 đến trước nhà số A, Ấp A, xã L, huyện N đậu để lấy xe ô tô đi chạy G.
Khoảng 22 giờ ngày 14/10/2024, Đặng Thành Đ đến nhà của Nhan Tô Trí T2 chơi và gặp Phạm Tấn T3 cũng đang ở nhà T2. Đ rủ T2 và T3 đi trộm cắp tài sản thì T2 và T3 đồng ý; Theo đó, Đ điều khiển xe mô tô biển số 52T2-9517 còn Tuệ điều khiển xe gắn máy biển số 67AK-020.86 chở T3 ngồi phía sau đi từ Quận H đến huyện N.
Khoảng 02 giờ ngày 15/10/2024, khi đến trước hẻm F, Ấp A, xã L, huyện N, Đ nói T2 và T3 đứng ngoài cảnh giới còn Đ và T3 cùng đi vào trong hẻm. Khi Đ và T3 đi đến trước nhà số A thì thấy có chiếc xe mô tô biển số 51Z9-3011 đang để tại trước cửa nhà không có người trông coi. Đ vào đẩy chiếc xe mô tô ra phía ngoài; dùng tay giựt dây điện (dây mát) của xe rồi khởi động xe ra phía đầu hẻm chỗ T2 đang đứng.
Tại đây, Đ kêu T3 điều khiển xe biển số 52T2-9517 (xe của Đ), còn T2 điều khiển xe biển số 67AK-020.86 (xe của T2) còn Đ điều khiển xe biển số 51Z9-3011 vừa lấy trộm để cùng nhau chạy ra đường N hướng từ xã L đi xã N. Khi đến trước trụ đèn số 7 đường N, Ấp A, xã N thì xe mô tô do Đ điều khiển bị tắt máy do hết xăng. Vì vậy Đ kêu Tuệ qua điều khiển xe biển số 51Z9-3011 thay Đ để Đ qua điều khiển xe biển số 67AK-020.86 và dùng chân đẩy xe do T2 điều khiển cùng lưu thông trên đường N.
Khi lưu thông đến trước nhà số E, đường D, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thì Đ, T2 và T3 bị Tổ tuần tra 363 Công an Quận 7 kiểm tra hành chính và đưa về trụ sở Công an phường T, Quận G để làm việc. Quá trình làm việc, Đ, T2 và T3 khai nhận đã trộm cắp chiếc xe mô tô biển số 51Z9-3011 tại xã L, huyện N nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã chuyển hồ sơ vụ việc và Đ, T3 và T2 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 130/KL-HĐĐGTS ngày 21/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N, kết luận chiếc xe mô tô hiệu Stream, biển số 51Z9-3011 mà Đ đã chiếm đoạt của người bị hại trị giá là 4.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đặng Thành Đ về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng số 03/CT-VKS-NB ngày 13 tháng 12 năm 2024 và sau khi phân tích, luận tội đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Thành Đ từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Trung D là người bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì.
Về việc xử lý vật chứng:
- Chiếc xe mô tô biển số 51Z9-3011, nhãn hiệu Stream, số máy FMH02132668, số khung 11002131893, màu xanh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại ông Trần Trung D là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
- Chiếc xe mô tô biển số 52T2-9517, nhãn hiệu Savi, số máy VNT1P53FMH00001513, số khung VNTWCH012NT001513, màu đỏ (thu giữ của bị cáo Đ), qua điều tra xác định do bà Võ Thị Đ2 là chủ sở hữu nhưng bà Đ2 không còn cư trú tại địa phương; Đặng Thành Đ khai mua lại chiếc xe này từ một người không rõ nhân thân lai lịch, không có giấy chứng nhận đăng ký xe. Đề nghị Hội đồng xét xử giao Cơ quan Thi hành án dân sự huyện N đăng báo tìm chủ sở hữu, hết hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- Chiếc xe gắn máy biển số 67AK-020.86, nhãn hiệu Maxkawa, số máy RL8NB139FMB001119, số khung RNBKCBBYPB1001119, màu vàng trắng (Thu giữ của Nhan Tô Trí T2). Qua điều tra xác định do ông Nguyễn Văn Ú là chủ sở hữu nhưng đã bán năm 2016 cho một người không rõ nhân thân lai lịch; và Tô Thị Ngọc H mẹ của T2 khai mua xe trôi nổi, không làm giấy tờ mua bán. Ngày 14/10/2024 bà H để xe ở nhà, T2 lấy sử dụng bà H không biết. Đề nghị Hội đồng xét xử giao Cơ quan Thi hành án dân sự huyện N đăng báo tìm chủ sở hữu, hết hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
Các vấn đề khác: Đối với Nhan Tô Trí T2, sinh ngày 18/11/2011 và Phạm Tấn T3, sinh ngày 28/3/2011 là đồng phạm cùng với Đ đi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi này, T2 và T3 chưa đủ 14 tuổi nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không xử lý hình sự là có căn cứ.
Bà Nguyễn Thị Kim L – là người bào chữa cho bị cáo trình bày: Thống nhất với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo Đ, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo không có điều kiện để học hành đầy đủ, bị cáo không có tiền án, tiền sự, khi phạm tội bị cáo là người chưa thành niên, tài sản mà bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi và trả lại cho người bị hại. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đồng thời đề nghị hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Bị cáo Đặng Thành Đ thống nhất với lời bào chữa của người bào chữa, bị cáo không bào chữa bổ sung.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo Đặng Thành Đ đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trong bản Cáo trạng; nội dung phân tích, luận tội của kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, bị cáo cho rằng mình không bị oan và trong lời nói sau cùng bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo sớm hòa nhập với cộng đồng và làm người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án; Căn cứ vào các tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, thẩm quyền tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra công an huyện N, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố; bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa chỉ định của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cũng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Đặng Thành Đ đã thừa nhận: Vào ngày 14 và ngày 15 tháng 10 năm 2024, chính bị cáo đã rủ Nhan Tô Trí T2 và Phạm Tấn T3 đi trộm cắp tài sản và cũng chính bị cáo là người trực tiếp chiếm đoạt xe mô tô biển số 51Z9-3011 của ông Trần Trung D có giá trị là 4.000.000 đồng.
Sự thừa nhận của bị cáo Đặng Thành Đ tại phiên tòa là phù hợp với toàn bộ lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo rủ rê T2 và T3 cùng trộm cắp tài sản là thuộc trường hợp xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận, hành vi của bị cáo Đặng Thành Đ đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết tăng nặng quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè truy tố bị cáo Đặng Thành Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173, điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo Đặng Thành Đ là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an chung.
Bị cáo Đặng Thành Đ biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động, muốn hưởng thụ và đặc biệt là xem thường pháp luật nên bị cáo đã lén lút, lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của người quản lý tài sản để chiếm đoạt.
Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét cần xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc, tương xứng mới có khả năng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và để phòng ngừa chung.
Tuy nhiên: Xét tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và tài sản đã được thu hồi trả lại cho người bị hại nên Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm i, s, h khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Do bị cáo không có nơi cư trú rõ ràng, ổn định nên đề nghị của người bào chữa xét cho bị cáo được hưởng án treo là không phù hợp.
[4] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người chưa thành niên nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.
[6] Về việc xử lý vật chứng:
- Chiếc xe mô tô biển số 51Z9-3011, nhãn hiệu Stream, số máy FMH02132668, số khung 11002131893, màu xanh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại ông Trần Trung D là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
- Chiếc xe mô tô biển số 52T2-9517, nhãn hiệu Savi, số máy VNT1P53FMH00001513, số khung VNTWCH012NT001513, màu đỏ (thu giữ của bị cáo Đ), qua điều tra xác định do bà Võ Thị Đ2 là chủ sở hữu nhưng bà Đ2 không còn cư trú tại địa phương; Đặng Thành Đ khai mua lại chiếc xe này từ một người không rõ nhân thân lai lịch, không có giấy chứng nhận đăng ký xe, xét giao Cơ quan Thi hành án dân sự huyện N đăng báo tìm chủ sở hữu, hết hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- Chiếc xe gắn máy biển số 67AK-020.86, nhãn hiệu Maxkawa, số máy RL8NB139FMB001119, số khung RNBKCBBYPB1001119, màu vàng trắng (Thu giữ của Nhan Tô Trí T2). Qua điều tra xác định do ông Nguyễn Văn Ú là chủ sở hữu nhưng đã bán năm 2016 cho một người không rõ nhân thân lai lịch; và Tô Thị Ngọc H mẹ của T2 khai mua xe trôi nổi, không làm giấy tờ mua bán. Ngày 14/10/2024 bà H để xe ở nhà, T2 lấy sử dụng bà H không biết, xét giao Cơ quan Thi hành án dân sự huyện N đăng báo tìm chủ sở hữu, hết hạn 01 năm kể từ ngày đăng báo mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
[7] Về các vấn đề khác: Đối với Nhan Tô Trí T2, sinh ngày 18/11/2011 và Phạm Tấn T3, sinh ngày 28/3/2011 là đồng phạm cùng với Đ trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi phạm tội, T2 và T3 chưa đủ 14 tuổi nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N cho gia đình bảo lãnh về địa phương quản lý giáo dục là có căn cứ.
[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Đặng Thành Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Đặng Thành Đ 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/10/2024.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu đối với chiếc xe mô tô biển số 52T2-9517, nhãn hiệu Savi, số máy: VNT1P53FMH00001513, số khung VNTWCH012NT001513, màu đỏ, đã qua sử dụng và chiếc xe gắn máy biển số 67AK-020.86, nhãn hiệu Maxkawa, số máy: RL8NB139FMB001119, số khung RNBKCBBYPB1001119, màu vàng trắng, đã qua sử dụng. Hết hạn 01 năm kể từ ngày Chi cục thi hành án dân sự huyện Nhà Bè đăng báo mà không tìm được chủ sở hữu thì tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
(Theo phiếu nhập kho số 2025-NK030 ngày 20/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè).
3. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016.
Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dưới 18 tuổi vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Long |
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 06/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: XX
