Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM BÌNH

TỈNH TUYÊN QUANG

Bản án số: 12/2024/HNGĐ - ST

Ngày 02/8/2024

“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM BÌNH, TỈNH TUYÊN QUANG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Văn Tiến

Các hội thẩm nhân dân: Bà Dương Thị Hà và Ông Nguyễn Ngọc Tú

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Việt Anh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lâm Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hưng – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 36/2024/TLST - HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2024 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2024/QÐST - HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đặng Thị C, sinh năm 2000; Địa chỉ: Thôn K, xã P, huyện L, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Đặng Hữu H, sinh năm 1990; Địa chỉ: Thôn K, xã P, huyện L, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt không có lý do, đã được triệu tập hợp lệ).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/5/2024, nội dung bản tự khai, biên bản ghi lời khai, nguyên đơn chị Đặng Thị C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị C và anh Đặng Hữu H qua tự nguyện tìm hiểu đã kết hôn năm 2017 và đến năm 2018 thì đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện L (trước là huyện C), tỉnh Tuyên Quang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 33 ngày 14/5/2018. Anh Chị sống chung tại thôn K, xã P, huyện L, tỉnh Tuyên Quang. Vợ chồng chung sống hoà thuận hạnh phúc cho đến năm 2021 thì có mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, tính cách không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát, anh H nghi ngờ, ghen tuông, nhiều lần uống rượu về chửi mắng, đánh đập chị C. Anh chị đã ly thân từ tháng 01 năm 2024 đến nay, kể từ khi ly thân vợ chồng không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay tình cảm vợ chồng không còn chị C đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn với anh Đặng Hữu H.

- Về con chung: Có 2 con là Đặng Phúc T, sinh ngày 22/3/2018 và Đặng Thị P, sinh ngày 24/6/2020. Do 02 con đang ở cùng anh H và anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con từ khi vợ chồng ly thân (tháng 01/2024) đến nay nên khi ly hôn chị C nhất trí để anh H là người được quyền trực tiếp nuôi dưỡng 02 con và chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.

- Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Từ khi Tòa án thụ lý vụ án, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, phiên họp hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn anh Đặng Hữu H đều vắng mặt không có lý do và không có quan điểm, ý kiến gửi đến Tòa án (anh H đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng). Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đặng Thị C vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến, quan điểm như đã trình bày trong quá trình giải quyết tại Tòa án và không thay đổi, bổ sung gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Bình phát biểu quan điểm tại phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với đương sự: Nguyên đơn thực hiện đúng quy định, bị đơn không thực hiện về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Về nội dung vụ án: Căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; các Điều 143, 144, 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

+ Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị C, cho chị Đặng Thị C được ly hôn anh Đặng Hữu H;

+ Về con chung: Giao các con Đặng Phúc T, sinh ngày 22/3/2018 và Đặng Thị P, sinh ngày 24/6/2020 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị C không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.

+ Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết, không đề cập xem xét.

+ Về nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết, không đề cập xem xét.

+ Về án phí: Chị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định; anh H không phải chịu án phí.

+ Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

+ Về khắc phục kiến nghị vi phạm trong tố tụng: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Đặng Thị C khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lâm Bình giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn đối với anh Đặng Hữu H; Anh Đặng Hữu H có hộ khẩu thường trú tại thôn K, xã P, huyện L, tỉnh Tuyên Quang. Căn cứ theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lâm Bình.

Theo cung cấp của Công an xã P, đại diện thôn K thì anh Đặng Hữu H có hộ khẩu thường trú tại thôn K, xã P, huyện L, tỉnh Tuyên Quang nhưng nay đi làm ăn xa tại tỉnh khác và không thông báo địa chỉ cụ thể, lần gần nhất anh H có mặt tại địa phương là giữa tháng 6 năm 2024. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với anh H đến Tòa án để làm việc nhưng anh H vắng mặt không có lý do, anh H đã được thông báo nhưng vẫn không đến, đây được xác định là trường hợp bị đơn cố tình che giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ nên Tòa án vẫn giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đặng Thị C vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Đặng Hữu H vắng mặt không có lý do (đã được Tòa án triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng), Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Đặng Thị C và anh Đặng Hữu H là hợp pháp, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện L (trước là huyện C), tỉnh Tuyên Quang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 33 ngày 14/5/2018. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại thôn K, xã P, huyện L, tỉnh Tuyên Quang. Quá trình chung sống, do có nhiều mâu thuẫn và xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị C yêu cầu được ly hôn với anh H.

Qua điều tra xác minh xác định thực tế mâu thuẫn vợ chồng giữa chị C và anh H đã rất trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; thể hiện tại các Biên bản xác minh ngày 27/6/2024 anh chị mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có sự quan tâm chia sẻ, thiếu sự tin tưởng, nghi ngờ ghen tuông, xô xát, đánh chửi nhau, dẫn tới vợ chồng đã ly thân từ tháng 01 năm 2024 đến nay; giữa anh chị không còn quan tâm, yêu thương, chăm sóc nhau, do vậy không thể tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ. Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 53, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Đặng Thị C, cho chị C được ly hôn anh Đặng Hữu H.

[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống giữa chị C và anh H có 02 cháu là Đặng Phúc T, sinh ngày 22/3/2018 và Đặng Thị P, sinh ngày 24/6/2020. Khi ly hôn chị C yêu cầu giao cháu T và cháu P cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chị C không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.

Qua nội dung bản tự khai, biên bản lấy lời khai đối với chị C, biên bản xác minh đối với đại diện thôn K và anh Đặng Hữu T1 (anh trai anh H) cho thấy: 02 cháu T và cháu P ở cùng anh H kể từ khi chị C và anh H ly thân (tháng 01 năm 2024), hiện nay anh H bận công việc đi làm nên đã gửi lại các con cho anh trai là Đặng Hữu T1 trông nom, nuôi dưỡng giúp và hàng tháng anh H gửi tiền hoặc trực tiếp về chi trả các chi phí nuôi dạy các con. Anh H mỗi tháng về thăm con từ 01-02 lần, còn chị C cũng đi làm xa, ít về thăm nom các con, lần gần nhất chị C về thăm nom con là dịp tết âm lịch 2024. Xét đề nghị của chị C về việc giao con chung cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế và đảm bảo về quyền lợi của 02 con; Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình, xử giao các cháu Đặng Phúc T và Đặng Thị P cho anh Đặng Hữu H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị C không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn và có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau ly hôn mà không ai được cản trở.

[2.3] Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết; Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết; Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Căn cứ các Điều 143, 144, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chị Đặng Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định; anh Đặng Hữu H không phải chịu án phí.

[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 143, 144, 147, các Điều 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 53, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị C.

1. Về Hôn nhân: Cho chị Đặng Thị C được ly hôn anh Đặng Hữu H (Giấy chứng nhận kết hôn số 33 ngày 14/5/2018 tại UBND xã P, huyện L, tỉnh Tuyên Quang).

2. Về con chung: Giao các cháu Đặng Phúc T, sinh ngày 22/3/2018 và Đặng Thị P, sinh ngày 24/6/2020 cho anh Đặng Hữu H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Chị Đặng Thị C không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn và có quyền và nghĩa vụ đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau ly hôn mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Chị Đặng Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000750 ngày 22/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lâm Bình (chị C đã nộp đủ tiền án phí). Anh Đặng Hữu H không phải chịu án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh, huyện;
  • - Chi cục THA Dân sự huyện;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã P (Nơi ĐKKH);
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Dương Văn Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HNGĐ - ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM BÌNH, TỈNH TUYÊN QUANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 12/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM BÌNH, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Đặng Thị C đề nghị ly hôn anh Đặng Hữu H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger