Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM NÔNG

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:12/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 01/8/2024

V/v:“Tranh chấp hôn nhân & gia đình”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phùng Thị Ái Nguyên.

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Minh Hoan

2. Ông Nguyễn Đức Khởi

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Hòa Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ:

Ông Vũ Anh Hoàng - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 40/2024/TLST- HNGĐ ngày 25/3/2024 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXX-ST ngày 20/5/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phan Ngọc M - sinh năm 1993;

Địa chỉ: Khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Anh Nguyễn Duy Q - sinh năm 1991;

Địa chỉ: Khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt không lý do

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án chị Phan Ngọc M trình bày: Chị và anh Nguyễn Duy Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 24/12/2013 tại trụ sở UBND xã H (Nay là xã D), huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại xã H (Nay là xã D) huyện T, tỉnh Phú Thọ. Trong quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm không có tiếng nói chung từ đó dẫn đến tình cảm rạn nứt không thể hàn gắn được. Nay chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q.

Về con chung: Chị M xác nhận chị và anh Q có một con chung là cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày12/02/2014. Khi ly hôn chị M xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Khánh L. Chị M tự nguyên không đề nghị anh Q phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp gia đình: Chị M xác định không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

Đối với anh Nguyễn Duy Q quá trình giải quyết Tòa án đã tiến hành các trình tự, thủ tục tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Tòa án đã gửi, tống đạt hợp lệ các văn bản cho anh Q để đến Tòa án làm việc nhiều lần nhưng anh Q đều không đến Tòa án.

Lời khai của bà Nguyễn Thị L1 (Mẹ đẻ anh Q) trình bày: Anh Q và chị M là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã H (Nay là xã D), huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng anh Q về chung sống cùng vợ chồng bà. Quá trình chung sống anh Q,chị M có xảy ra mâu thuẫn bất đồng quan điểm sống, nguyên nhân do chị M muốn đi làm ăn xa nhưng anh Q không đồng ý. Anh Q và chị M đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay không ai quan tâm đến ai. Hiện nay anh Q đang đi làm ăn xa thỉnh thoảng mới về nhà nên dù bà có nhận được các giấy báo, văn bản tố tụng của Tòa án và đã thông báo lại cho anh Q được biết nhưng anh Q cũng không thể đến Tòa án để làm việc được. Việc chị M khởi kiện ly hôn anh Q thì anh Q có biết và anh Q có nói lại với bà là anh Q đồng ý giải quyết ly hôn với chị M. Đối với việc chị M yêu cầu ly hôn anh Q thì bà cũng có quan điểm là đề nghị Tòa án giải quyết cho chị M và anh Q ly hôn vì hai bên cũng đã sống ly thân từ rất lâu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ có quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Áp dụng khoản 1 điều 51, khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân gia đình: Đề nghị Tòa án ND huyện T. Xử cho chị M được ly hôn anh Q.
  • - Về con chung: Căn cứ các Điều 80,81,82,83 Luật HNGĐ, căn cứ điểm a, điểm d, điểm đ, khoản 1 Điều 16, Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán tòa án N. Đề nghị xử giao cho anh Q được nuôi con chung, và chị M không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
  • - Về tài sản chung, công nợ chung chị M xác định không có, không đề nghị giải quyết.
  • - Về án phí: khoản 4 Điều 147 BLTTDS, Luật phí và lệ phí Tòa án, điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/ 2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội; chị M phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị Phan Ngọc M khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn giữa chị và anh Nguyễn Duy Q là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn cư trú tại khu A, xã D, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Tam Nông thụ lý và giải quyết là đúng theo quy định của pháp luật.

[1.3] Về tố tụng: Chị Phan Ngọc M có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Nguyễn Duy Q đã được Tòa án gửi và tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ bà L1 là mẹ đẻ anh Q trực tiếp nhận đã thông báo nội dung cho anh Q được biết nhưng anh Q đều vắng mặt không có lý do. Như vậy căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

2. Về nội dung:

[2.1] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Phan Ngọc M và anh Nguyễn Duy Q là hợp pháp. Quá trình chung sống đến năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do hai bên bất đồng quan điểm sống thường xuyên cãi nhau. Nay chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ. Theo xác minh tại địa phương và lời khai của bà Nguyễn Thị Liên m đẻ anh Q đều xác nhận anh Q và chị M có mâu thuẫn và đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay không ai quan tâm đến ai nữa. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa anh Q và chị M đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần xử cho chị M được ly hôn với anh Q là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung:

Chị M và anh Q có một con chung là cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 14/02/2014. Hiện nay cháu L đang sinh sống cùng bố, mẹ anh Q. Ly hôn chị M có nguyện vọng xin được trực tiếp nuôi con chung không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung. Quan điểm của cháu L nếu bố mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng được ở với bố và ông bà nội. Tuy nhiên. Hiện nay anh Q thường xuyên đang đi làm xa thỉnh thoảng mới về thăm nhà việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu L đều do bố, mẹ đẻ anh Q trực tiếp, cháu L là con gái cần có sự quan tâm, dạy dỗ chăm sóc từ người mẹ. Hơn nữa, việc giao con cho ai nuôi dưỡng, giáo dục cần xem xét về mọi mặt và quyền lợi của con chưa thành niên. Do vậy, cần giao cháu Nguyễn Khánh L cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.

Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị M do chị M tự nguyện không yêu cầu nên cần chấp nhận.

[2.3] Về tài sản chung, công nợ chung, công đóng góp gia đình: Chị M trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.4] Về án phí: Chị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điềm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238; Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phan Ngọc M được ly hôn với anh Nguyễn Duy Q.
  2. Về con chung: Giao cho chị Phan Ngọc M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Nguyễn Khánh L, sinh ngày 12/02/2014. Anh Nguyễn Duy Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị M tự nguyện không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, Anh Q có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở.

  1. Về tài sản chung, về nợ chung và công sức đóng góp: Chị M xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Phan Ngọc M phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số BLTU/2023/0003411 ngày 25/3/2024 của chi cục thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.
  3. Về quyền kháng cáo: Chị Phan Ngọc M và anh Nguyễn Duy Q vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND Tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Tam Nông;
  • - Chi cục THADS huyện Tam Nông ;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Dân Quyền;
  • - Lưu hồ sơ vụ án - Lưu VP .

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phùng Thị Ái Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 01/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân & gia đình

  • Số bản án: 12/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân & gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị M xin ly hôn anh Q
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger