Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÒA BÌNH

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/DS-ST

Ngày 26/5/2025.

(V/v Kiện đòi tài sản)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH TỈNH HÒA HOÀ BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Ngọc Hà
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tuấn Cường.
  • Bà Phạm Thị Nga.
  • - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình.
  • - Đại diện VKSND thành phố Hòa Bình tỉnh Hoà Bình tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình. Mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 05/2025/TLST-DS, ngày 10 tháng 01 năm 2025, về việc “Kiện đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXX - ST ngày 28 tháng 4 năm 2025 giữa:

Nguyên đơn: Lê Thị Ngh, sinh năm 1952;

Nơi cư trú: Phố Bãi Nai, xã Mông Hoá, TP Hoà Bình.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1979;

Nơi cư trú: Tổ 6, phường Kỳ Sơn, TP Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình.

Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các bản tự khai cũng như qua quá trình tố tụng của vụ án và tại phiên tòa, phía nguyên đơn trình bày: Tôi và chị Nguyễn Thị Thanh H không có anh em họ hàng thân thích gì, chỉ là cô cháu quen biết nhau, chị H làm kế toán tại UBND xã Dân hạ, huyện Kỳ sơn, tỉnh Hòa Bình ( nay là phường Kỳ sơn, Thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình).

Khoảng cuối năm 2018 đầu năm 2019, chị H có xuống nhà tôi hỏi vay tôi số tiền 300.000.000đ ( ba trăm triệu đồng) để sửa nhà và tăng gia sản xuất, lúc này tôi chưa có đủ tiền nên chưa cho vay, một thời gian sau tôi gom đủ 300.000.000đ, tôi có điện cho chị H xuống nhà tôi để cho chị H vay tiền. Ngày 02/01/2019 tôi cho chị H vay số tiền 300.000.000đ ( ba trăm triệu đồng), thời hạn vay là 36 tháng, lãi xuất tính theo Ngân hàng và pH trả lãi hàng tháng. Khi vay hai bên có viết giấy vay tiền, chị H là người viết giấy vay tiền, tôi đã giao tiền đầy đủ cho chị H, chị H cũng đã nhận đủ số tiền 300.000.000đ ( ba trăm triệu đồng) của tôi. Trong giấy vay tiền thì chị H cũng ghi nội dung là nếu chị H không trả được tôi tiền thì tôi có quyền lấy tiền lương của chị tại UBND xã Dân Hạ, nhưng tôi chưa lấy được một đồng tiền lãi nào của chị H thì chị H bị đi tù về tội Tham ô.

Sau khi chị H đi chấp hành án về, tôi đã để cho chị H một khoảng thời gian dài để chị H thu xếp gặp tôi nhưng chị H không gặp, tôi gọi điện thoại hay lên nhà chị H thì chị H đều tránh mặt. Do đó tôi làm đơn khởi kiện chị H đến Tòa án.

Nay tôi đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình buộc chị H pH trả cho tôi số tiền vay là 300.000.000đ( ba trăm triệu đồng) và tiền nợ lãi tính từ ngày vay (ngày 02/01/2019) cho đến hôm nay theo mức lãi xuất của Ngân hàng Agribank quy định.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H trình bày:

năm 2014 tôi có vay của bà N số tiền là 105.000.000đ (Một trăm linh năm triệu đồng). Có thỏa thuận lãi xuất tháng, 10 ngày thì pH trả lãi cho bà N 01 lần, lâu tôi cũng không nhớ thời hạn vay và mục đích vay tiền để làm gì. Sau khi vay tiền của bà N hàng tháng tôi trả cho bà N 8.000.000đ ( Tám triệu đồng), khi trả tiền không viết giấy tờ gì, không có ai chứng kiến. Trả lãi được khoảng 09 tháng thì tôi không trả nữa, bà N xuống UBND xã Dân Hạ nơi tôi làm việc ép tôi pH viết giấy vay tiền ngày 02/01/2019, bà N đọc cho tôi viết, sau đó tôi mang Giấy vay tiền trên mang cho ông Nguyễn Mạnh Sáu là Chủ tịch UBND ký xác nhận, giấy viết vay 300.000.000đ nhưng thực tế là tiền vay 105.000.000đ (Một trăm linh năm triệu đồng) vay năm 2014, và tiền lãi cộng dồn thành 300.000.000đ. Tôi là người cầm giấy vay tiền sang phòng ông Sáu để ông ký xác nhận, nhưng thực tế ông Sáu không biết việc tôi vay tiền của bà N.

Tôi công nhận chữ viết và chữ ký viết trong Giấy vay tiền ngày 02/01/2019 bà N giao nộp cho Tòa án là do tôi viết, tôi ký, nhưng thực tế tôi không được vay bà N 300.000.000đ. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 21/03/2025, bà H thừa nhận có được vay tiền của bà N số tiền là 105.000.000₫ ( Một trăm linh năm triệu đồng), chứ không được vay 300.000.000đ. bà N cung cấp bản chính Giấy vay tiền ngày 02/01/2019 có xác nhận của ông Nguyễn Mạnh Sáu ( chủ tịch UBND xã Dân Hạ) bà Nguyễn Thị Thanh H không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì.

Tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay :

  • Phía nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
  • Phía bị đơn vẫn giữ nguyên quan điểm: không được vay số tiền 300.000.000₫ (ba trăm triệu đồng) mà bị ép buộc viết giấy vay tiền.

Đại diện VKSND Thành phố Hòa Bình phát biểu ý kiến về việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý đến trước khi HĐXX nghị án đều tuân theo pháp luật không có vi phạm gì.

Đề nghị HĐXX căn cứ quy định tại các điều 26, điều 35, điều 39, điều 463, điều 465, điều 466, 468 Bộ luật dân sự; Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Lê Thị N, buộc bà Nguyễn Thị Thanh H phải trả cho bà N số tiền nợ gốc và lãi theo quy định của pháp luật tại Giấy vay tiền ngày 02/01/2019..

Về án phí : bị đơn H chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

{1} Vè thẩm quyền : Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H có hộ khẩu thường trú tại Tổ 06, phường Kỳ sơn, thành phố Hòa Bình. Căn cứ theo các Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình.

[2]. Về quan hệ pháp luật: Trên cơ sở yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H trả khoản tiền vay 300.000.000 ₫ (Ba trăm triệu đồng) và tiền lãi xuất. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật vụ án là “ Kiện đòi tài sản” theo điều 463 Bộ luật dân sự.

[3] Về nội dung vụ án: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Ngày 02/01/2019, bà N có cho bà H vay số tiền 300.000.000 đ (Ba trăm triệu đồng), chứng cứ chứng minh là Giấy vay tiền do bà H là người viết.

Phía bà H thừa nhận : bà có được vay tiền của bà N nhưng số tiền là 105.000.000₫ chứ không pH là 300.000.000đ như bà N khởi kiện.

Ngày 24/4/2025 Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình ra Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ đối với bà Nguyễn Thị Thanh H, yêu cầu bà H cung cấp giấy tờ tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc vay tiền, trả tiền cho bà N, nhưng đến nay bà H không cung cấp chứng cứ gì cho Tòa án.

Phía bà N công nhận ngày 6/11/2014 ông Trần Văn Hậu ( chồng bà N) có cho vợ chồng bà H vay số tiền là 105.000.000đ, khoản tiền vay này đã được ông Nguyễn Mạnh Dần (là bố chồng bà H) trả cho ông Hậu ngày 8/5/2020. Hiện nay khoản nợ này đã trả nợ xong. Bà N cũng giao nộp cho Tòa án : Giấy vay tiền ngày 6/11/2014, giấy xác nhận, mức lương của ông Nguyễn Mạnh Dũng ( chồng là H đã chết), biên bản bàn giao ngày 8/5/2020.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay bà Nguyễn Thị Thanh H không xuất trình được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh cho việc mình bị bà N ép buộc viết giấy vay số tiền 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng ). Lời khai của bà H mâu thuẫn với nhau cụ thể bà H khai năm 2014 vay tiền bà N 105.000.000₫ đã trả lãi 09 tháng sau đó không trả tiền lãi nữa thì bị bà N ép viết Giấy vay tiền ngày 02/01/2019, tuy nhiên ngày vay tiền 105.000.000₫ là 06/11/2014 – 09 tháng sau pH là tháng 8/2015, chứ không pH bà N ép viết giấy vay tiền sau 05 năm. Do đó việc bà N khởi kiện bà H là có căn cứ.

Đối với yêu cầu trả tiền lãi xuất HĐXX xét thấy việc bà N, bà H vay tiền của nhau có thỏa thuận mức lãi xuất, Bà H không có chứng cứ gì chứng minh việc đã trả tiền lãi cho bà N, tại phiên tòa hôm nay bà N yêu cầu tính lãi xuất theo mức lãi xuất của Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam là 11%/ năm, kể từ ngày 02/01/2019, mức lãi xuất bà N yêu cầu phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự nên HĐXX chấp nhận.( 300.000.000₫ x 11%/năm x 2336 ngày = 211.200.000đ tiền lãi ).

Từ các quy định của pháp luật đã phân tích trên, HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị N buộc bà Nguyễn Thị Thanh H pH thanh toán cho bà N số tiền nợ là: 511. 200.000đ. Trong đó tiền gốc 300.000.000₫ ( Ba trăm triệu đồng) tiền lãi tính đến ngày 26/5/2025 là: 211.200.000đ. (Hai trăm mười một triệu hai trăm nghìn đồng).

Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh H pH nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điều 26; khoản 1 điều 35, điều 39, điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội

1-Tuyên xử:

  • Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện ngày 01/10/2024 của nguyên đơn bà Lê Thị N.
  • Buộc bà Nguyễn Thị Thanh H pH trả cho bà Lê Thị N số tiền nợ là 511. 200.000đ. Trong đó tiền gốc 300.000.000₫ ( Ba trăm triệu đồng); tiền lãi (tính đến ngày 26/5/2025) là: 211.200.000đ. (Hai trăm mười một triệu hai trăm nghìn đồng).
  • Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên pH thi hành án còn pH chịu khoản tiền lãi của số tiền còn pH thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015

2-Về án phí :

Bà H pH nộp án phí dân sự sơ thẩm là: 25.560.000đ.

Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

NƠI NHẬN

  • -TAND tỉnh Hòa Bình
  • -VKSNDTP Hòa Bình
  • -VKSND tỉnh Hòa Bình
  • -Chi cục THADS TP Hòa Bình
  • -Các đương sự
  • -Lưu hồ sơ

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa

ĐINH THỊ NGỌC HÀ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/DS-ST ngày 26/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH TỈNH HÒA BÌNH về kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 12/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger