TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2025/LĐ-PT Ngày: 14/4/2025 V/v: Hợp đồng lao động. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: | Ông Tống Quốc Thanh |
| Các Thẩm phán : | Bà Lê Thúy Linh |
| Ông Bùi Đức Bằng | |
| Thư ký phiên toà: | Ông Nguyễn Trung Kiên - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội. |
| Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: | Ông Trần Chí Thành - Kiểm sát viên. |
Trong các ngày 11 - 14/4/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án Lao động thụ lý số 09/2025/TLPT-LĐ ngày 14/02/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng lao động”. Do Bản án lao động sơ thẩm số 15/2024/LĐ-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 240/2025/QĐ-PT ngày 24/3/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1981 Địa chỉ: Khu phố P, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện theo ủy quyền:
- Bà Đào Thị H1, sinh năm 1982
Địa chỉ: P, xã P, huyện G, Hà Nội. - Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1974
Địa chỉ: Khu T, TDP Cơ khí xã C, huyện G, Hà Nội. - Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1978
Địa chỉ: thôn L, xã Đ, huyện G, Hà Nội.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Trần Quốc H3, luật sư Hoàng Y, luật sư Nguyễn Ngọc M – Văn phòng luật sư Trần Quốc H3 – Đoàn luật sư thành phố H.
(Có mặt: Bà H1, luật sư M)
- Bị đơn: Công ty Cổ phần T5
Trụ sở: Số A phố Đ, quận B, Hà Nội (trước ở địa chỉ: Số B H, phường H, quận H, Hà Nội).
Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị H4 – Chủ tịch HĐQT.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Ngọc T1, ông Phan Lê H5, bà Đỗ Thị Đỗ Q, bà Nguyễn Bích H6, bà Phan Thị Ngọc T2 (theo giấy ủy quyền ngày 03/3/2025).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Nguyễn Duy N, luật sư Nguyễn Thị Bích H7 - Văn phòng L - Đoàn luật sư thành phố H.
(Có mặt: Ông H5, bà Q, luật sư H7)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện và quá trình Toà án giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Bà Nguyễn Thị H là người lao động làm việc tại Nhà máy D thuộc Công ty cổ phần T5 (Trước đây là Công ty TNHH MTV T5) (gọi tắt là Công ty T5) từ ngày 8/8/2008 đến nay với vị trí chuyên viên thống kê phân xưởng. Trong quá trình làm việc, bà H đã lần lượt ký các hợp đồng lao động xác định thời hạn 01 năm, hợp đồng lao động xác định thời hạn 03 năm và hợp đồng lao động không xác định thời hạn với Công ty T5. Theo đó mức lương cố định được hưởng thực tế của bà H từ tháng 5/2016 cố định là 4.900.000 đồng/tháng. Tuy nhiên, sau khi ký hợp đồng, công ty T5 đã giữ lại tất cả các hợp đồng lao động mà không trả cho bà H một bản nào để làm căn cứ thực hiện. Do những người lao động làm việc ở nhà máy khi đó đều không giữ được hợp đồng lao động nhưng thấy công ty T5 vẫn đóng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho bà H đầy đủ nên bà H không có ý kiến gì.
Ngày 01/9/2016 U ban hành Quyết định số 4798/QĐ- UBND về việc phê duyệt phương án tái cơ cấu chuyển đổi Công ty TNHH T5 thành Công ty Cổ phần T5. Nội dung quyết định như sau: Công ty TNHH MTV T5 có trách nhiệm thanh toán các khoản nợ lương, bảo hiểm xã hội và các khoản đóng góp khác cho người lao động cho đến thời điểm chuyển sang Công ty cổ phần. Nếu Công ty TNHH MTV T5 chưa thanh toán, bàn giao thì Công ty cổ phần T5 có trách nhiệm kế thừa để thực hiện chi trả lương, đóng bảo hiểm xã hội và các khoản đóng góp khác cho người lao động. Về phương án sử dụng người lao động: số lao động có nhu cầu dự kiến chuyển sang làm việc tại Công ty cổ phần là 109 người, số lao động chấm dứt không bố trí được việc làm là 30 người.
Bà H thuộc nhóm công nhân viên được nhà máy giữ lại sau khi Công ty T5 chuyển đổi sang Công ty cổ phần.
Ngày 10/10/2016, Công ty T5 có Thông báo số 28/TB-NM về việc tạm nghỉ việc do chưa có hợp đồng về may. Theo nội dung Thông báo số 28, kể từ ngày 11/10/2016, toàn bộ phân xưởng may tạm nghỉ chờ việc cho đến khi có hợp đồng mới, tiền lương, các chế độ đi kèm vẫn được hưởng theo quy định hiện hành của Nhà nước.
Ngày 01/11/2016, Giám đốc Nhà máy D1 tổ chức buổi đối thoại với công nhân lao động phân xưởng. Tại buổi đối thoại, ông Nguyễn Cự T3 – Giám đốc nhà máy trả lời người lao động rằng: Do nhà máy chưa có đơn hàng nên lao động vẫn phải nghỉ chờ việc. Ông T3 cam kết sẽ tìm kiếm đơn hàng và thông báo lại cho người lao động trở lại làm việc sớm nhất. Vì hiện chưa có tiền nên nhà máy cam kết sẽ thanh toán lương cho người lao động đến ngày 5/11/2016. Tuy nhiên, sau buổi họp đối thoại, Công ty T5 vẫn không thực hiện trả lương theo cam kết, cũng không thông báo cho người lao động trở lại làm việc.
Từ tháng 12/2017 đến tháng 01/2018, Công ty T5 mời lần lượt từng người đến Công ty để rà soát, lên phương án sử dụng và giải quyết chế độ cho người lao động, trong số đó có bà H. Theo đó, bà H vẫn đề nghị được tiếp tục làm việc và yêu cầu Công ty T5 thanh toán toàn bộ tiền lương và các chế độ cho bà theo quy định. Tuy nhiên, Công ty T5 vẫn không thực hiện bất cứ nghĩa vụ nào như đã cam kết với người lao động.
Sau nhiều lần yêu cầu Công ty T5 giải quyết việc làm và chế độ tiền lương, thì ngày 9/3/2023, Công ty T5 mới tổ chức cuộc đối thoại giữa Ban lãnh đạo Công ty với tập thể người lao động, có sự tham gia của đại diện Công đoàn dệt may Hà Nội. Tại biên bản cuộc họp, ông Trần Trọng P (Ủy viên Hội đồng quản trị Công ty T5) cho biết: Công ty đã bán máy móc của nhà máy D1 đi lấy tiền chi trả bảo hiểm cho công nhân nhưng cũng không chi trả tiền cho bà H. Công ty còn cam kết sẽ giải quyết chế độ BHXH trong quý 3/2023 và trả lương của cán bộ công nhân viên trong năm 2023 nhưng cũng không thực hiện. (Theo ông P cam kết thì chỉ thu xếp 1,678 tỷ đồng trả lương hết quý 3/2023, còn hợp đồng lao động thì chưa có khả năng giải quyết được). Sau cuộc họp và khi tìm hiểu tại cơ quan Bảo hiểm xã hội quận H và Bảo hiểm xã hội huyện G thì bà H và các lao động khác mới được biết Công ty T5 đã tự ý đóng, chốt sổ Bảo hiểm xã hội của bà và của các lao động khác vào tháng 7/2017 mà không thông báo cho người lao động biết. Vì vậy, ngày 21/8/2023, bà H và tập thể người lao động đã làm đơn đề nghị hoà giải lao động gửi đến Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội quận H để giải quyết việc nợ lương.
Từ khi có thông báo tạm nghỉ việc đến nay, bà H vẫn đang chờ Công ty T5 thông báo đi làm trở lại nên vẫn chưa làm việc hay tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc ở nơi nào khác.
2. Về yêu cầu đòi tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội và các chế độ khác:
Công ty T5 đã ban hành thông báo số 28 từ ngày 10/10/2016 cho bà H và các lao động khác tạm thời nghỉ chờ việc, trong thời gian tạm nghỉ, bà H vẫn được hưởng lương và các chế độ bảo hiểm theo quy định của nhà nước. Sau đó công ty T5 cũng nhiều lần có cam kết thanh toán lương và bố trí công việc sớm tại các biên bản họp với người lao động, gần đây nhất là tại biên bản cuộc họp vào ngày 09/3/2023, công ty T5 vẫn cam kết thanh toán lương cho người lao động nhưng vẫn tiếp tục không thực hiện nghĩa vụ bố trí công việc và thanh toán lương đầy đủ cho người lao động. Đến nay, công ty T5 mới chỉ thanh toán cho bà H 50% tiền lương trước giai đoạn cổ phần hóa, thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội cho bà H đến hết tháng 7/2017 còn lại vẫn chưa thanh toán các khoản tiền lương, BHXH và tiền trợ cấp như đã cam kết với người lao động trong các buổi làm việc, đối thoại giữa người lao động và Ban lãnh đạo công ty T5.
Theo đó, tiền nợ lương sau cổ phần bà H yêu cầu tính dựa trên mức lương thực tế được hưởng là 4.900.000 đồng/tháng nhân với số tháng không được đi làm. Theo sổ bảo hiểm xã hội của bà H thì công ty T5 đã đóng cho bà H tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp được tính dựa trên 21% mức lương tối thiểu vùng, nên bà H chỉ yêu cầu công ty T5 phải thanh toán các khoản tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp còn nợ đến nay theo mức lương tối thiểu vùng là 4.012.500 đồng/tháng trong năm 2017; 4.258.600 đồng/tháng trong năm 2018; 4.472.600 đồng/tháng trong năm 2019; 4.729.400 đồng/tháng trong năm 2020, 2021, 2022, 2023.
Nguyên đơn đề nghị Toà án giải quyết theo yêu cầu khởi kiện:
- Yêu cầu Công ty cổ phần T5 thanh toán tiền lương trong thời gian không được làm việc từ tháng 10/2016; tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp từ tháng 8/2017 cho bà H đến khi hoàn tất việc thanh toán. Tổng số tiền tạm tính đến tháng 9/2023 là: 454,364,050 (Bốn trăm năm mươi bốn triệu, ba trăm sáu mươi bốn nghìn, không trăm năm mươi) đồng bao gồm:
- - Tiền nợ lương trước thời điểm chuyển đổi cổ phần là: 19,167,171 (Mười chín triệu, một trăm sáu mươi bảy nghìn, một trăm bảy mươi mốt) đồng.
- - Tiền nợ lương sau khi chuyển đổi cổ phần là: 362,000,000 (Ba trăm sáu mươi hai triệu) đồng.
- - Tiền đóng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là: 72,596,879 (Bảy mươi hai triệu, năm trăm chín mươi sáu nghìn, tám trăm bảy mươi chín) đồng.
- Yêu cầu Công ty cổ phần T5 tiếp tục bố trí việc làm theo Hợp đồng lao động không xác định thời hạn đã ký. Trường hợp Công ty cổ phần T5 không thể tiếp tục bố trí việc làm cho bà H theo hợp đồng lao động, thì buộc Công ty cổ phần T5 phải bồi thường cho bà H ít nhất 04 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
2. Đại diện theo uỷ quyền của bị đơn Công ty cổ phần T5 trình bày:
Tiền thân của bị đơn trước đây là công ty TNHH MTV T5 là DN 100% vốn nhà nước. Hiện nay, công ty đã cổ phần hóa, trước đây cơ quan điều tra đã thu giữ toàn bộ tài liệu của nhà máy D1 đặt tại Gia Lâm nên khi chuyển sang công ty cổ phần như hiện nay không lưu giữ hồ sơ và hợp đồng lao động của những người lao động.
Công ty được cổ phần hóa theo giấy chứng nhận doanh nghiệp và có con dấu ngày 01/8/2017. Tuy nhiên, phải đến tháng 10/2018 thì mới có việc bàn giao từ Doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần T5 trước đó còn phải hoàn thiện các thủ tục. Công ty cổ phầT5 cũng chính thức hoạt động từ tháng 11/2018 còn thời gian từ ngày 01/8/2017 đến tháng 10/2018 thì tập trung rà soát, thực hiện quy trình cổ phần hóa, do đó các biên bản làm việc thời gian này đều sử dụng con dấu của Công ty T5 vì dấu cũ đã bị thu hồi.
Khi chuyển sang công ty cổ phần T5 không có danh sách, không có tên bà Nguyễn Thị H trong danh sách lao động được chuyển sang công ty cổ phần. Mà chỉ có danh sách 16 người khác.
Tháng 3/2018 bị đơn vẫn đang trong giai đoạn rà soát thủ tục, chưa hoạt động chính thức nên không biết giai đoạn này có trả lương cho bà H hay không.
Trước đó doanh nghiệp cổ phần hoá Công ty TNHH MTV T5 chỉ xác nhận đóng BHXH cho người lao động đến hết thời điểm 31/7/2017 nhưng vẫn nợ BHXH. Công ty đóng các loại tiền bảo hiểm BHXH, BHYT, BHTN cho bà H vì công ty TNHH MTV T5 đã được xác nhận công nợ với bảo hiểm xã hội huyện G đến 31/7/2017. Khi tiếp nhận cổ phần hóa, công ty cổ phầT5 cũng dừng việc đóng bảo hiểm tại đó, không tiếp tục đóng bảo hiểm nữa mà chỉ trả những khoản đã đối chiếu công nợ trước ngày 31/7/2017.
Quá trình công ty TNHH MTV T5 làm việc với bà H chỉ ghi nhận, xác định quá trình lao động, làm việc của bà H và thời điểm 2016 là tạm nghỉ việc, chờ việc, chế độ bảo hiểm, tiền lương tại Công ty TNHH MTV T5 và mong muốn, nguyện vọng của bà H.
Với Biên bản làm việc ngày 06/01/2018, tại thời điểm này chỉ tồn tại con dấu của công ty cổ phần T5 mọi thủ tục bàn giao chưa xong nên trong biên bản đóng dấu của Công ty cổ phần.
Đối với biên bản đối thoại của bà H với ông Nguyễn Cự T3 – Giám đốc Công ty TNHH MTV T5 (Doanh nghiệp cổ phần hoá) ngày 01/11/2016 là trước khi chuyển sang công ty cổ phần nên bị đơn không biết và cũng không được bàn giao lại. Nội dung biên bản thể hiện xác nhận người lao động làm việc tại công ty N1 trước khi bàn giao cho công ty cổ phầT5, nợ lương của người lao động, quá trình làm việc thực tế và một số nội dung khác như đã nêu trong biên bản.
Đề nghị áp dụng thời hiệu: Người khởi kiện làm đơn ngày 19/3/2024, nguyên đơn biết được quyền lợi của mình bị vi phạm từ ngày 10/10/2016, tức là thời điểm công ty thông báo tạm ngừng việc (Thông báo số 28 ngày 10/10/2016). Từ ngày 10/10/2016 đến ngày 20/3/2024 là đã quá 01 năm, hết thời hiệu.
Đối với khoản đòi nợ lương trước khi cổ phần hóa thì không xác định thời hiệu. Đề nghị áp dụng thời hiệu đối với yêu cầu thứ 2,3 của nguyên đơn. Thời hiệu sẽ được tính vào thời điểm 10/2016, thời điểm người lao động biết được bị Công ty vi phạm nghĩa vụ.
Đề nghị bổ sung thêm người tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đối với các cơ quan sau:
- - Công ty TNHH M1 (D2) địa chỉ 51 Q. Vì doanh nghiệp này được cổ phần hóa khi đang âm vốn chủ sở hữu là Công ty TNHH một thành viên T5 (Công ty sở hữu 100% vốn Nhà nước), DATC có vai trò đánh giá tái cơ cấu, họ tiếp tục quản lý phương án trách nhiệm của DATC được quy định rõ trong Quyết định số 4798/QĐ- UBND ngày 01/9/2016 của UBND Thành phố U.
- - BHXH huyện Gia Lâm, BHXH quận H tham gia tố tụng. Vì liên quan đến chi trả tiền trợ cấp mất việc làm cho người lao động. Hai cơ quan này phải chi trả từ thời điểm người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp Theo điều 14 nghị định 05/2015, Điều 49 BLLĐ 2012, Theo điều 16 nghị định 59/2011 CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ thì doanh nghiệp C1 phải có trách nhiệm xác nhận các khoản nợ trước khi cổ phần hóa. Nhưng nguyên đơn không có xác nhận đó nên không có căn cứ yêu cầu đòi tiền lương.
Biên bản cuộc họp ngày 09/3/2023 bị đơn có nắm được nội dung: Ông Trần Trọng P có văn bản giải trình chỉ là uỷ viên hội đồng quản trị Công ty T5, chỉ nắm giữ 0,025% cổ phần, ngày 09/3/2023, ông P tự phát tổ chức cuộc gặp với một số công nhân trước đây đã làm việc với Công ty TNHH MTV T5 nhưng không báo cáo và không được uỷ quyền, không được điều hành bất kì hoạt động nào hay ký kết bất cứ tài liệu nào của Công ty T5.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bị đơn có ý kiến như sau:
- Đối với số tiền nợ trước cổ phần hóa: Bị đơn không đồng ý. Vì: Theo Thông tư 127/2014/TTBTC ngày 05/9/2014. Điểm e khoản 4 Điều 9, Khoản 8 điều 4 thông tư 33/2012/TT- BLLĐTBXH ngày 20/12/2012. Nghị định 59/2011/CP ngày 18/7/2011; Văn bản số 7027/STC- BCĐ ngày 10/10/2018 của Ban chỉ đạo cổ phần hóa của Sở T6; Theo Quyết định số 4798/QĐ – UBND ngày 01/9/2016 cả UBND Thành phố U về phê duyệt phương án tái cơ cấu chuyển đổi Công ty TNHH một thành viên T5 thành Công ty cổ phần: Khoản nợ lương của người lao động trước 01/8/2017 thuộc trách nhiệm của công ty TNHH M1.
- Đối với khoản tiền lương sau cổ phần hóa và tiền bảo hiểm: Bị đơn không đồng ý vì: Trên thực tế, nguyên đơn đã bị Doanh nghiệp C2 chấm dứt hợp đồng lao động từ ngày 31/7/2017. Căn cứ chứng minh là:
- - Việc dừng đóng các loại tiền bảo hiểm cho người lao động từ ngày 31/7/2017 mặc dù công ty không ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động. Thực tế, bà H cũng không có trong danh sách 16 người chuyển từ công ty TNHH MTV T5 sang Công ty CP T5.
- - Do thay đổi cơ cấu: Sau khi cổ phần hoá thì Công ty đã trả lại đất cho Nhà nước vì là đất thuê trả tiền hàng năm, đã thanh lý hợp đồng thuê đất, nhà xưởng, máy móc đã thanh lý để trả nợ. Nhà máy không hoạt động nên không có bất cứ hoạt động nào gia công, may mặc, không có doanh thu, không sử dụng lao động về may mặc.
- - Do đại dịch C.
Cụ thể áp dụng: Theo Điểm c khoản 1 Điều 38 BLLĐ 2012 thì bị đơn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; Điểm b khoản 2 Điều 13 nghị định 05/2015/NĐ- CP ngày 12/01/2015 hướng dẫn thi hành BLLĐ 2012 (Có bản khai ngày 20/5/2024 và các tài liệu kèm theo).
Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với lý do quan hệ lao động đang tiếp tục, đang ngừng việc là không đúng, không chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Vì trong luật lao động chỉ quy định tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động (Theo Điều 32 Luật Lao động). Trong việc đơn phương chấm dứt hợp đồng này, Doanh nghiệp nhà nước có một số lỗi về thủ tục đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Vi phạm về thời hạn báo trước quy định tại điểm a khoản 2 điều 38 BLLĐ 2012. Vi phạm điều 44, 46, 49 BLLĐ 2012. Đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về tiền lương.
- Đối với việc bố trí việc làm, bị đơn cũng không đồng ý vì đã chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật thì không nhận lại làm việc.
Tại Bản án Lao động sơ thẩm số 15/2024/LĐ-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, Hà Nội quyết định:
- - Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 74 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ khoản 3 Điều 36; Điều 48; Điều 190 - Bộ luật lao động năm 2012;
- - Căn cứ Điều 2, Điều 21, Điều 88, Điều 89 của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014;
- - Căn cứ Điều 44, Điều 57 của Luật việc làm năm 2013;
- - Căn cứ khoản 4 Điều 196 Luật Doanh nghiệp 2014;
- - Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 12 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H. Buộc Công ty Cổ phần T5 phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị H các khoản tiền sau: Tiền nợ lương trước thời điểm chuyển đổi cổ phần từ tháng 11/2016 đến hết tháng 7/2017: 33.250.000 đồng; T4 trợ cấp thôi việc: 5.625.000 đồng. Tổng số tiền: 38.875.000 đồng. Đối trừ với số tiền 19.167.000 đồng hỗ trợ tiền lương trước cổ phần mà bà H đã được thanh toán và số tiền lương được ứng trước tháng 11/2016 là 2.000.000 đồng. Buộc Công ty Cổ phần T5 còn phải thanh toán cho bà H: 17.708.000 (Mười bảy triệu, bảy trăm linh tám nghìn) đồng.
- Không chấp nhận các yêu cầu khác của nguyên đơn.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu người phải thi hành án không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền theo quyết định của bản án này thì người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành tại thời điểm thi hành án.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, quyền thi hành án và kháng cáo theo quy định của pháp luật.
3. Sau khi xét xử sơ thẩm
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H, bị đơn Công ty cổ phần T5 có đơn kháng cáo Bản án Lao động sơ thẩm số 15/2024/LĐ-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm.
Bà Nguyễn Thị H kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội sửa bản án lao động sơ thẩm số 08/2024/LÐ-ST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, với lý do: Bản án sơ thẩm tuyên chưa phù hợp với sự thật khách quan, tình tiết của vụ án, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của bà. Đề nghị sửa theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của bà.
Công ty Cổ phần T5 kháng cáo yêu cầu Tòa án phúc thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Tòa án buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn phần nợ lương trước cổ phần hóa là không có cơ sở bởi nguyên đơn đã thỏa thuận không yêu cầu gì đối với khoản nợ này, mặt khác trách nhiệm trả nợ lương trước cổ phần hóa không phải của bị đơn.
Ngoài đơn kháng cáo, người kháng cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ gì.
5. Tại Tòa án cấp phúc thẩm:
Tại cấp phúc thẩm và tại phiên tòa hôm nay, Bà Nguyễn Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo và Công ty Cổ phần T5 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thống nhất trình bày và nêu quan điểm (có bản luận cứ nộp cho HĐXX): Đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của bà H cụ thể:
- + Có căn cứ xác định bà là người lao động của Công ty CP T5 đến thời điểm hiện tại.
- + Công ty phải có trách nhiệm trả nợ lương và các chế độ gồm: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho bà. Cụ thể: Tiền lương trước cổ phần (trước ngày 01/8/2017) tương ứng 50% lương trước cổ phần là 19.167.171 đồng; Tiền nợ lương sau cổ phần là 483.750.000 đồng; Tiền đóng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là 84.916.508 đồng.
- Bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp thống nhất trình bày và nêu quan điểm (có bản luận cứ nộp cho HĐXX): Đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Người lao động không có việc làm, không hình thành nên tài sản và quyền sở hữu tài sản nên khởi kiện về đòi tài sản là không có căn cứ. Đề nghị cấp phúc thẩm áp dụng thời hiệu khởi kiện theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự năm 2015 để bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đối với khoản nợ lương trước cổ phần hóa thì không thuộc trách nhiệm của bị đơn. Tuy nhiên, bị đơn đã hỗ trợ1 phần lương trước cổ phần cho nguyên đơn.
Đối với khoản lương sau cổ phần hóa, tiền đóng các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Đều không thuộc trách nhiệm của công ty. Kể từ ngày 01/8/2017 đến nay thì bà H2 không còn là người lao động của công ty do Công ty đã đơn phương chấm dứt hợp đồng nên Công ty không có trách nhiểm chi trả lương sau cổ phần cũng như các chế độ khác.
Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải bố trí việc làm cho nguyên đơn trường hợp không bố trí được thì phải bồi thường cho nguyên đơn 04 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt HĐ trái pháp luật. Yêu cầu này của nguyên đơn không có căn cứ để chấp nhận.
Các đương sự thống nhất xác nhận ngoài các tài liệu chứng cứ đã nộp cho Tòa án ra thì không còn tài liệu chứng cứ nào khác để nộp cho Tòa án và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
6. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội trình bày quan điểm và đề xuất hướng giải quyết vụ án:
- - Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án từ thủ tục thụ lý vụ án, mở phiên tòa và tại phiên tòa xét xử phúc thẩm. Tại phiên tòa, đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung:
Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của Công ty TNHH MTV T5 không vi phạm Quyết định số 4798/QĐ-UBND ngày 01/9/2016 của UBND thành phố U đã ban hành, do trong quyết định “Về phương án sử dụng người lao động: số lao động có nhu cầu dự kiến chuyển sang làm việc tại Công ty cổ phần là 109 người”.
Mặt khác theo Điều 5 của Hợp đồng chuyển nhượng lô cổ phần kèm nợ phải thu số: 38/2021/HĐCN ngày 28/12/2021 được kí kết giữa Bên A: Công ty TNHH M1 (DATC) và Bên B: Bà Nguyễn Thị H4, quy định về quyền và nghĩa vụ của Bên B: “5.1 Bên B kế thừa toàn bộ quyền chủ nợ từ DATC, toàn bộ quyền lợi và nghĩa vụ của DATC tại Công ty cổ phần T5 trong đó có nghĩa vụ thực hiện cam kết xử lý tài chính, tái cơ cấu doanh nghiệp, các cam kết của DATC với UBND thành phố U theo các Quyết định số 4798/QĐ- UBND ngày 01/09/2016, Quyết định số 2290/QĐ-UBND ngày 17/4/2017 về việc phê duyệt và điều chỉnh, bổ sung phương án tái cơ cấu chuyển đổi Công ty TNHH MTV T5 thành Công ty cổ phần T5”.
Quyết định số 4798/QĐ-UBND quy định về trách nhiệm trả các khoản nợ lương, chế độ bảo hiểm xã hội và các khoản đóng góp khác cho người lao động như sau: “Công ty TNHH MTV T5 có trách nhiệm bố trí nguồn thanh toán đối với khoản nợ lương, bảo hiểm xã hội và các khoản đóng góp khác cho người lao động theo chế độ quy định đến thời điểm chuyển sang Công ty cổ phần. Nếu Công ty TNHH MTV T5 chưa thanh toán, bàn giao thì Công ty T5 có trách nhiệm kế thừa để thực hiện chi trả lương, đóng bảo hiểm xã hội và các khoản đóng góp khác cho người lao động theo quy định.”
Việc này phù hợp với văn bản 466/MBN – MBN1 ngày 06/8/2024 Công ty TNHH M1 (D2) xác nhận “Sau khi chính thức chuyển thành Công ty cổ phần, Công ty cổ phần T5 rà soát và Quyết định chi trả lương và nộp BHXH với số lao động thực có tại doanh nghiệp (gồm cán bộ công nhân viên văn phòng và một số cán bộ công nhân viên tại nhà máy D1 đang làm việc thực tế)”.
Từ các phân tích trên có căn cứ khẳng định Hợp đồng lao động giữa bà H và Công ty T5 đã chấm dứt vào ngày 31/7/2017. Vì vậy, Toà án sơ thẩm không chấp nhận y/c trở lại làm việc của bà H là có căn cứ.
c) Về các yêu cầu của nguyên đơn kể từ khi cổ phần hoá đến nay:
Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu từ sở hữu nhà nước sang công ty cổ phầT5, trong đó nhà nước có thể giữ cổ phần chi phối hoặc không còn nắm giữ cổ phần. Theo P1, cổ phần hóa thuộc trường hợp “thay đổi cơ cấu tổ chức, tổ chức lại lao động”, bao gồm:
- + Chuyển đổi loại hình doanh nghiệp (như: từ công ty TNHH sang công ty cổ phầT5).
- + Sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp.
- + Chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản.
(i) Về trợ cấp mất việc làm
- Theo khoản 1 Điều 44 quy định về: Nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế.
“1. Trường hợp thay đổi cơ cấu, công nghệ mà ảnh hưởng đến việc làm của nhiều người lao động, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này; trường hợp có chỗ làm việc mới thì ưu tiên đào tạo lại người lao động để tiếp tục sử dụng.
Trong trường hợp người sử dụng lao động không thể giải quyết được việc làm mới mà phải cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật này.”. (nay là Điều 43 BLLĐ 2019).”.
- Khoản 1 Điều 49 (Trợ cấp mất việc làm) quy định:
“1. Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật này, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương”.
Như vậy, bị đơn phải trả trợ cấp mất việc làm cho nguyên đơn là 02 tháng tiền lương: 3.750.000 đồng x 02 tháng = 7.500.000 đồng.
(ii) Về vi phạm thời hạn báo trước.
- Theo quy định tại khoản 5 Điều 42 Bộ luật lao động năm 2012 thì “Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.”.
- Căn cứ vào mức lương đóng bảo hiểm xã hội thì người sử dụng lao động (bị đơn) còn phải bồi thường một khoản tiền là:
3.750.000 đồng x 1,5 tháng (45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn) = 5.625.000 đồng.
Như vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn.
Số tiền Công ty T5 phải trả cho nguyên đơn gồm:
- - Tiền nợ lương trước cổ phần từ tháng 11/2016 đến hết tháng 7/2017 là: 33.250.000 đồng; (giữ nguyên án sơ thẩm)
- - Tiền trợ cấp mất việc làm cho nguyên đơn là 02 tháng tiền lương: 3.750.000 đồng x 02 tháng = 7.500.000 đồng (sửa án sơ thẩm)
- - Bồi thường do vi phạm thời hạn báo trước: 5.625.000 đồng (sửa án sơ thẩm).
Tổng số tiền: 46.375.000 đồng.
Nguyên đơn xác nhận đã nhận được tiền lương ứng trước là 2.000.000 đồng và 19.167.000 đồng tiền lương trước cổ phần, nên cần khấu trừ các khoản tiền này.
Như vậy, H8 còn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền là: 25.208.000 đồng.
KSV đề xuất, căn cứ vào Điều 293, Điều 308 BLTTDS 2015:
- - Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn;
- - Chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn. Sửa Bản án sơ thẩm:
- + Bị đơn phải trả cho nguyên đơn lương trước cổ phần hóa: 33.250.000 đồng - (2.000.000 đồng + 19.167.000 đồng) = 12.083.000 đồng.
- + Trợ cấp mất việc làm: 7.500.000 đ;
- + Vi phạm thời hạn báo trước: 5.625.000 đ
Tổng là 25.208.000 đồng.
Về án phí: các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1.1. Về thủ tục kháng cáo: Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xét xử sơ thẩm và tuyên án ngày 19/09/2024. Ngày 27/09/2024 Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm nhận Đơn kháng cáo của nguyên đơn và ngày 26/09/2024 nhận đơn kháng cáo của bị đơn là đơn trong thời hạn kháng cáo. Đơn kháng cáo phù hợp với Điều 272 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn xin miễn tiền nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, bị đơn đã nộp tạm ứng án phí nên đơn kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn được chấp nhận đưa ra giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
1.2. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị H khởi kiện Công ty cổ phần T5 đòi tiền nợ lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp. Công ty cổ phần T5 có trụ sở tại số B phố H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm giải quyết là đúng thẩm quyền. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp lao động cá nhân về đòi tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp là xác định đúng quan hệ pháp luật.
1.3. Về thời hiệu khởi kiện:
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 202. Bộ luật lao động năm 2012 “Thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp lao động cá nhân là 01 năm, kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm.”. Xét thấy, đối tượng tranh chấp trong vụ án này là tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp là tranh chấp lao động, ngày 09/03/2023 giữa nguyên đơn và bị đơn có lập biên bản làm việc và thỏa thuận đến quý 3/2023 thì trả tiền lương, như vậy cần tính lại thời hiệu, tính đến ngày 20/3/2024 nguyên đơn nộp đơn khởi kiện là trong thời hiệu. Mặt khác các yêu cầu về tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội liên quan đến quyền sơ hữu nên tòa án cấp sơ thẩm áp dụng Khoản 1 Điều 105, Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015 xác định thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện là có căn cứ đúng quy định pháp luật. Bị đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện là không có căn cứ để chấp nhận.
1.4. Về điều kiện khởi kiện: Xét đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo thấy tranh chấp lao động giữa nguyên đơn và bị đơn đã được Phòng Lao động và thương binh xã hội quận H tiến hành hoà giải và lập biên bản hòa giải lần 1 vào ngày 29/8/2023 và lần 2 ngày 13/9/2023 nên đơn khởi kiện của nguyên đơn đủ điều kiện theo quy định tại Điều 201 Bộ luật Lao động năm 2012 và Điều 32 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
1.5. Về việc bị đơn yêu cầu Tòa án đưa thêm người tham gia tố tụng: Xét thấy, tại khoản 1 Điều 10, Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần T5 về nguyên tắc kế thừa quyền và nghĩa vụ của công ty cổ phần T5 chuyển đổi từ doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, Công ty CP T5 đã kế thừa mọi quyền lợi trách nhiệm đối với người lao động từ doanh nghiệp trước khi cổ phần hóa chuyển sang. Do vậy, việc đưa Ban chỉ đạo cổ phần hóa, Công ty TNHH MTV T5, Công ty TNHH M1 (DATC) và cơ quan có thẩm quyền quyết định cổ phần hóa vào tham gia tố tụng là không cần thiết. Tòa án cấp sơ thẩm xác định Công ty Cổ phần T5 đã kế thừa toàn bộ tư cách pháp lý, kế thừa quyền và nghĩa vụ của Công ty TNHH MTV T5 là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
1.6. Về phạm vi giải quyết phúc thẩm: Theo quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX phúc thẩm chỉ xem xét lại phần bản án sơ thẩm có kháng cáo, các phần còn lại của bản án có hiệu lực pháp luật khi hết thời hạn kháng cáo kháng nghị. Các đương sự kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm nên Tòa án cấp phúc thẩm xem xét tòa bộ nội dung của bản án sơ thẩm.
2.1. Yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn về việc chấm dứt hợp đồng lao động giữa Công ty Cổ phần T5 và bà Nguyễn Thị H vào ngày 25/11/2022:
Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện, Nguyên đơn và Công ty cổ phần T5 có quan hệ lao động. Tuy bà H và bị đơn đều không xuất trình được Hợp đồng lao động, nhưng căn cứ sổ bảo hiểm xã hội, mã số 5107001098 của bà Nguyễn Thị H thì có căn cứ xác định bà H ký hợp đồng lao động với Công ty TNHH MTV T5 từ tháng 5/2008. Xét thấy Hợp đồng lao động được ký kết bởi người có thẩm quyền, hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định là hợp pháp nên giữa bà H và Nhà máy D1 đã phát sinh quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
Xét thấy Hợp đồng lao động được ký kết bởi người có thẩm quyền, hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật. Nên giữa nguyên đơn và Nhà máy D1 đã phát sinh quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
Hội đồng xét xử nhận thấy:
Từ năm 2011, do kinh doanh thua lỗ, tài chính khó khăn, Công ty TNHH MTV T5 đã nợ lương, nợ bảo hiểm, nợ nhà cung cấp, nợ ngân hàng.
Ngày 01/9/2016, UBND thành phố U ban hành quyết định số 4798/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án tái cơ cầu chuyển đổi Công ty TNHH một thành viên T5 thành công ty cổ phần.
Ngày 01/08/2017, Công ty TNHH MTV T5 chính thức hoạt động theo mô hình Công ty cổ phần, đổi tên thành Công ty cổ phần T5, do Công ty TNHH M1 (DATC) đại diện phần vốn góp 99.79%. Sau đó công ty T5 cho 16 người lao động, trong đó không có bà Nguyễn Thị H.
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thể hiện từ ngày 01/8/2017, Công ty TNHH MTV T5 đã ngừng đóng báo hiểm xã hội và trả thẻ cho 77 người lao động, trong số lao động này có bà Nguyễn Thị H. Lý do trả thẻ “Giải thể nhà máy D1”.
Việc Công ty TNHH MTV T5 đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là phù hợp với qui định tại điểm c khoản 1 Điều 38 Bộ luật Lao động năm 2012 và phù hợp với Thông tư 33/2012/TT-BLĐTBXH ngày 20/12/2012 của Bộ L1 hướng dẫn thực hiện chính sách đối với người lao động theo Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 của Chính phủ.
Tuy nhiên, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng của Công ty TNHH một thành viên T5 vi phạm về mặt hình thức là không ban hành quyết định, không báo trước cho người lao động biết là vi phạm thời hạn báo trước theo khoản 2 Điều 38 Bộ luật lao động năm 2012. Công ty cũng chưa hoàn thành các nghĩa vụ đối với người lao động.
Từ các phân tích trên có căn cứ khẳng định Hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị H và Công ty TNHH MTV T5 đã chấm dứt vào ngày 31/07/2017 và không thông báo cho nguyên đơn. Vì vậy, toà án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu trở lại làm việc của bà Nguyễn Thị H là có cơ sở.
Nên HĐXX phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà H về việc buộc Bị đơn có nghĩa vụ nhận lại làm việc và thanh toán 04 tháng tiền lương đối với bà H.
2.2. Về quyền lợi của bà Nguyễn Thị H khi Công ty TNHH MTV T5 đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bà Nguyễn Thị H.
Toà án cấp sơ thẩm đã căn cứ khoản 1 Điều 98 BLLĐ 2012, để buộc bị đơn có nghĩa vụ trả nốt số tiền lương còn lại cho nguyên đơn trong khoảng thời gian ngừng việc đến trước thời điểm cổ phần hóa. Cụ thể như sau:
- - Tiền nợ lương: Theo sổ Bảo hiểm xã hội, mã số: 5107001098, mức lương căn cứ đóng bảo hiểm của bà H từ tháng 07/2016 đến tháng 12/2016 là 3.500.000 đồng/tháng, từ 01/2017 đến hết tháng 7/2017 là: 3.750.000 đồng/tháng.
Bà H nghỉ việc ngày 10/10/2016 đến ngày 31/07/2017 là 02 tháng của năm 2016 và 07 tháng của năm 2017 thành tiền: (3.500.000 đồng/tháng x 2) + (3.750.000 đồng/tháng x 7) = 33.250.000 đồng.
Đối trừ với số tiền 19.167.000 đồng hỗ trợ tiền lương trước cổ phần mà bà H đã được thanh toán và số tiền lương ứng trước tháng 11/2016 là 2.000.000 đồng. Công ty Cổ phần T5 còn phải thanh toán cho bà H số tiền là: 12.083.000 đồng là có căn cứ đúng pháp luật.
- - Tiền trợ cấp mất việc làm: Theo quy định tại Điều 45, Điều 49 Bộ luật lao động năm 2012. Trợ cấp mất việc làm: “ 1. Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật này, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương. 2. Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.3. Tiền lương để tính trợ cấp mất việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm”.
Căn cứ vào Sổ Bảo hiểm xã hội, mã số: 5107001098, bà H đã tham gia BHXH liên tục từ tháng 5/2008 và BHTN liên tục từ tháng 01/2009 đến tháng 07/2017 tổng thời gian tham gia Bảo hiểm xã hội là 09 năm 02 tháng, thời gian tham gia Bảo hiểm thất nghiệp là: 8 năm 07 tháng.
Số tiền mà Công ty phải trả trợ cấp mất việc làm cho bà H là: 3.750.000 đồng x 2 = 7.500.000 đồng
2.2.3. Về vi phạm thời hạn báo trước.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 42 Bộ luật lao đông năm 2012 thì “. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.”.
Bản án sơ thẩm đã nhận định và tính tiền vi phạm thời hạn báo trước là: 3.750.000 đồng x 1,5 tháng = 5.625.000 đồng là chưa chính xác về thời gian cần sửa lại như sau:
Theo qui định tại điều 104 Bộ luật lao động năm 2012, người lao động làm việc không quá 48 giờ/tuần, bình quân làm việc 26 ngày/tháng. Do vậy số tiền vi phạm thời hạn báo trước của Công ty phải trả cho nguyên đơn như sau:
3.750.000 đồng : 26 ngày x 45 ngày = 6.490.384 đồng.
Tổng công bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền là:
12.083.000 đồng + 7.500.000 đồng + 6.490.384 đồng = 26.073.384 đồng.
Từ các phân tích trên, cần áp dụng khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự, Bác kháng cáo của bị đơn, Sửa bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm.
Bà H (Sổ bảo hiểm có mã số: 5107001098) có quyền đến C3 có thẩm quyền để làm thủ tục thanh toán tiền trợ cấp thất nghiệp tương ứng với thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp của bà H.
Về án phí: do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 32; điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Điều 74; khoản 2 Điều 308, khoản 2 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ khoản 3 Điều 36; Điều 38; Điều 48; Điều 104; Điều 190 của Bộ luật lao động năm 2012;
- - Căn cứ Điều 2, Điều 21, Điều 88, Điều 89 của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014;
- - Căn cứ Điều 44, Điều 57 của Luật việc làm năm 2013;
- - Căn cứ khoản 4 Điều 202 Luật Doanh nghiệp 2020;
- - Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 12 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị H. Không chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần T5; sửa một phần bản án sơ thẩm. Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị H đối với Công ty cổ phần T5 về tranh chấp: Đòi tiền lương, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm thất nghiệp.
Buộc Công ty cổ phần T5 phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị H các khoản tiền sau:
- - Tiền nợ lương trước thời điểm chuyển đổi cổ phần hóa: 12.083.000 đồng;
- - Tiền trợ cấp mất việc làm: 7.500.000 đồng
- - Tiền vi phạm thời hạn báo trước: 6.490.384 đồng;
Tổng số tiền Công ty Cổ phần T5 còn phải thanh toán cho bà H là : 26.073.384 đồng.
Không chấp nhận các yêu cầu đòi tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế và nhận trở lại làm việc sau khi công ty cổ phần hóa của bà H.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu người phải thi hành án không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền theo quyết định của bản án này thì người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chưa thi hành tại thời điểm thi hành án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Bà H (Sổ bảo hiểm có mã số: 5107001098) có quyền đến C3 có thẩm quyền để làm thủ tục thanh toán tiền trợ cấp thất nghiệp tương ứng với thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp của bà H.
- Về án phí: Công ty cổ phần T5 phải chịu 782.000 (Bẩy trăm tám mươi hai nghìn) đồng án phí lao động sơ thẩm và 300.000 đồng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0069022 ngày 09/10/2024 của Chi cục THA dân sự quận H.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN Tống Quốc Thanh |
17
Bản án số 12/2025/LĐ-PT ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng lao động
- Số bản án: 12/2025/LĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng lao động
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/04/2025
- Loại vụ/việc: Lao động
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng lao động
