Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 8 - THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/KDTM-ST

Ngày: 16-12-2025

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Chiểu.

2. Ông Phạm Viết Nguyên.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Vinh, Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thuý Hằng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 03/2025/TLST-KDTM ngày 05 tháng 8 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST-KDTM ngày 05 tháng 11 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 11/2025/QĐST-KDTM ngày 03/12/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S1 (S2).

Địa chỉ: Số B N, phường X, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Khắc T - Trưởng phòng giao dịch S2, địa chỉ: Khu F, xã L, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn:

1. Ông Lê Gia S, sinh năm: 1982.

2. Bà Lê Thị H, sinh năm: 1983.

Cùng địa chỉ: Thôn M, xã L, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt ông T và bà H, vắng mặt ông S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn khởi kiện ngày 28/7/2025, bản tự khai ngày 10/9/2025, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, phía nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng TMCP S1 (S2) cho vợ chồng ông Lê Gia S và bà Lê Thị H vay tiền theo hợp đồng tín dụng số [...]/L1 ngày 09/11/2023, các thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ký ngày 26/09/2023.

Để đảm bảo cho các khoản vay trên, ông Lê Gia S và bà Lê Thị H đã ký Hợp đồng thế chấp tài sản số 202202241896250/HĐTC ngày 03/3/2022, hợp đồng thế chấp tài sản số 202202241896283/HĐTC ngày 03/3/2022 và các thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản, thế chấp các tài sản gồm:

  • Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 33, tờ bản đồ số: 4, địa chỉ: Thôn M, xã M, tỉnh Thanh Hóa, diện tích 1.010,5 m².
  • Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 46, tờ bản đồ số: 10, địa chỉ: Thôn M, xã M, tỉnh Thanh Hóa, diện tích 537,1 m².

Sau khi ký hợp đồng tín dụng, S2 đã giải ngân cho ông S, bà H theo nhiều khế ước nhận nợ. Ông S, bà H đã nợ xong được một số khế ước nhận nợ trước. Hiện tại, ông S và bà H còn nợ tiền theo 04 khế ước nhận nợ gồm: Giấy nhận nợ số LD2424200250 ngày 29/08/2024 (vay 900.000.000 đồng, lãi suất 7,6%/năm), Giấy nhận nợ số LD2424300245 ngày 30/08/2024 (vay 900.000.000 đồng, lãi suất 7,6%/năm), Giấy nhận nợ số LD2424800261 ngày 04/09/2024 (vay 900.000.000 đồng, lãi suất 7,6%/năm); Giấy nhận nợ số LD2424900213 ngày 05/09/2024 (vay 900.000.000 đồng, lãi suất 7,6%/năm).

Đối với 04 khế ước nhận nợ này, ông S và bà H đã trả được số tiền nợ gốc là 810.000.000 đồng, nợ lãi là 105.275.616 đồng, tổng gốc và lãi là 915.275.616 đồng.

Ông Lê Gia S và bà Lê Thị H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 29/02/2025. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc với ông S, bà H để thông báo về việc quá hạn trả nợ và yêu cầu trả nợ, tuy nhiên đến nay, ông S và bà Lê H vẫn chưa thanh toán phần quá hạn cho Ngân hàng và có biểu hiện chây ỳ.

Vì vậy, S2 khởi kiện ông Lê Gia S và bà Lê Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung sau:

- Buộc ông Lê Gia S và bà Lê Thị H phải trả nợ gốc và lãi tính đến ngày 16/12/2025 là:

  • Đối với hợp đồng tín dụng ngày 09/11/2023: Nợ gốc là 2.790.000.000 đồng, nợ lãi là 266.778.155 đồng, tổng nợ gốc và lãi là 3.056.778.155 đồng.
  • Đối với thẻ tín dụng: Nợ gốc là 111.751.706 đồng; nợ lãi là 22.659.243 đồng, tổng nợ gốc và lãi là 134.287.128 đồng.

Tổng nợ của 02 khoản vay là 3.191.189.104 đồng.

- Yêu cầu ông Lê Gia S và bà Lê Thị H phải trả lãi phát sinh từ ngày 17/12/2025 cho đến khi tất toán khoản nợ theo lãi suất đã thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng.

- Trường hợp ông Lê Gia S và bà Lê Thị H không thanh toán nợ cho Ngân hàng, thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 33, tờ bản đồ số: 4, địa chỉ: Thôn M, xã M, tỉnh Thanh Hóa, diện tích 1.010,5 m²; Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 46, tờ bản đồ số: 10, địa chỉ: Thôn M, xã M, tỉnh Thanh Hóa, diện tích 537,1 m². Trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ trả nợ, thì ông S và bà H tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ cho S2 cho đến khi trả hết nợ.

*Tại bản tự khai ngày 10/9/2025, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn là bà Lê Thị H trình bày:

Chồng bà là ông Lê Gia S bận đi làm nên không đến Tòa án làm việc được, bà thay mặt cho ông S trình bày quan điểm của vợ chồng bà như sau:

Vào năm 2023, vợ chồng bà (Lê Gia S và Lê Thị H) có ký hợp đồng tín dụng vay tiền của Ngân hàng TMCP S1 (S2) hạn mức tín dụng là 9.300.000.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng, ông bà đã nhận nợ nhiều lần và đã trả được một phần khoản nợ. Hiện tại còn nợ Ngân hàng số tiền nợ gốc là 2.790.000.000 đồng, nhưng do kinh tế khó khăn nên đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Ngoài ra ông bà còn mở thẻ tín dụng vào ngày 26/9/2023, dư nợ đến nay là 134.287.128 đồng.

Để đảm bảo cho các khoản vay trên, vợ chồng bà đã ký hợp đồng thế chấp các tài sản là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 33, tờ bản đồ số: 4, địa chỉ: Thôn M, xã M, tỉnh Thanh Hóa, diện tích 1.010,5 m² và thửa đất số: 46, tờ bản đồ số: 10, địa chỉ: Thôn M, xã M, tỉnh Thanh Hóa, diện tích 537,1 m².

Nay Ngân hàng khởi kiện, bà thừa nhận vợ chồng bà còn nợ Ngân hàng số tiền như Ngân hàng đã yêu cầu tính đến ngày 16/12/2025 là:

  • Đối với hợp đồng tín dụng ngày 09/11/2023: Nợ gốc là 2.790.000.000 đồng, nợ lãi là 266.778.155 đồng, tổng nợ gốc và lãi là 3.056.778.155 đồng.
  • Đối với thẻ tín dụng: Nợ gốc là 111.751.706 đồng; nợ lãi là 22.659.243 đồng, tổng nợ gốc và lãi là 134.287.128 đồng.

Tổng nợ của 02 khoản vay là 3.191.189.104 đồng.

Hiện tại vợ chồng bà không có khả năng trả nợ. Bà xin được miễn tiền lãi, đối với tiền nợ gốc vợ chồng bà sẽ thu xếp bán tài sản để trả nợ. Trường hợp không trả được nợ thì bà chấp nhận xử lý tài sản thế chấp theo quy định.

*Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 05/9/2025 đối với 02 tài sản thế chấp như sau:

  • Thửa đất số: 33, tờ bản đồ số: 4, địa chỉ: Thôn M, xã M, tỉnh Thanh Hóa có diện tích 1.010,5 m², trên đất không có tài sản gì.
  • Thửa đất số: 46, tờ bản đồ số: 10, địa chỉ: Thôn M, xã M, tỉnh Thanh Hóa có diện tích 537,1 m², trên đất có cổng, tường rào và một số cây cối, không có nhà ở.

* Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, HĐXX: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, HĐXX đã xác định đúng quan hệ tranh chấp và thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong việc giải quyết vụ án.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Các điều 280, 293, 295, 298, 299, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 398, 401, 463 và 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 100, Điều 103, Điều 107 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông Lê Gia S và bà Lê Thị H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP S1 (S2) số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 16/12/2025 cụ thể như sau:

  • Đối với hợp đồng tín dụng ngày 09/11/2023: Nợ gốc là 2.790.000.000 đồng, nợ lãi là 266.778.155 đồng, tổng nợ gốc và lãi là 3.056.778.155 đồng.
  • Đối với thẻ tín dụng: Nợ gốc là 111.751.706 đồng; nợ lãi là 22.659.243 đồng, tổng nợ gốc và lãi là 134.287.128 đồng.

Tổng nợ của 02 khoản vay là 3.191.189.104 đồng.

Ông S, bà H phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 17/12/2025 theo lãi suất quá hạn mà các bên đã thoả thuận trong các hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ cho S2. Trường hợp ông S và bà H không trả nợ thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản đã thế chấp để thu hồi nợ.

- Về án phí: Đề nghị HĐXX thực hiện theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ nội dung yêu cầu khởi kiện, Tòa án nhân dân khu vực 8 - Thanh Hóa thụ lý và giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng là đúng quy định về thẩm quyền xét xử, theo quy định tại khoản 1 Điều 30, Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025). Ông Lê Gia S và bà Lê Thị H vay tiền nhằm mục đích kinh doanh và hai bên tham gia hợp đồng tín dụng đều có đăng ký kinh doanh, nên xác định là vụ án kinh doanh thương mại.

[2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Bị đơn là ông Lê Gia S đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông S.

[3] Xét yêu cầu trả nợ gốc và lãi:

Căn cứ lời khai của các đương sự và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định: Ngân hàng TMCP S1 cho ông Lê Gia S, bà Lê Thị H vay tiền theo 02 hợp đồng tín dụng, gồm:

  • Hợp đồng tín dụng hạn mức số [...]/L1 ngày 09/11/2023 và thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng ngày 19/4/2024: Hạn mức tín dụng là 9.300.000.000 đồng (Chín tỷ ba trăm triệu đồng).

Sau khi ký hợp đồng tín dụng, S2 đã giải ngân cho ông S, bà H theo nhiều khế ước nhận nợ. Ông S, bà H đã trả được các khế ước nhận nợ trước. Hiện tại, ông S và bà H còn nợ tiền theo 04 khế ước nhận nợ gồm: Giấy nhận nợ số LD2424200250 ngày 29/08/2024, Giấy nhận nợ số LD2424300245 ngày 30/08/2024, Giấy nhận nợ số LD2424800261 ngày 04/09/2024; Giấy nhận nợ số LD2424900213 ngày 05/09/2024 (mỗi khế ước nhận nợ là 900.000.000 đồng).

  • Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp thẻ tín dụng cá nhân ký ngày 26/09/2023.

Các hợp đồng nêu trên có đầy đủ chữ ký của các bên, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật (bao gồm cả thỏa thuận về lãi suất), các bên tự nguyện giao kết, nên các hợp đồng đều hợp pháp.

Đối với 04 khế ước nhận nợ nêu trên, ông S và bà H đã trả được số tiền là 810.000.000 đồng, nợ lãi là 105.275.616 đồng, tổng gốc và lãi là 915.275.616 đồng; vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 29/02/2025.

S2 khởi kiện yêu cầu ông S và bà H phải trả nợ số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày mở phiên tòa 16/12/2025, cụ thể như sau:

  • Đối với hợp đồng tín dụng ngày 09/11/2023: Nợ gốc là 2.790.000.000 đồng, nợ lãi là 266.778.155 đồng, tổng nợ gốc và lãi là 3.056.778.155 đồng.
  • Đối với thẻ tín dụng: Nợ gốc là 111.751.706 đồng; nợ lãi là 22.659.243 đồng, tổng nợ gốc và lãi là 134.287.128 đồng.

Tổng nợ của 02 khoản vay là 3.191.189.104 đồng.

Bà H đã thừa nhận khoản nợ, thừa nhận có vi phạm nghĩa vụ trả nợ, chấp nhận trả nợ gốc, nhưng xin miễn tiền lãi.

Đối với yêu cầu xin miễn lãi của bị đơn: Xét thấy trong các hợp đồng tín dụng các bên thỏa thuận vay có lãi và phía nguyên đơn không chấp nhận miễn lãi, nên buộc bị đơn phải trả toàn bộ gốc và lãi.

HĐXX đã kiểm tra thấy rằng việc tính lãi của nguyên đơn là chính xác, đúng với mức lãi suất các bên đã thỏa thuận.

Vì vậy, HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của S2, buộc ông S và bà H phải có nghĩa vụ trả toàn bộ số nợ gốc và lãi cho S2 tính đến ngày 16/12/2025 là 3.191.189.104 đồng. Ông S, bà H còn phải chịu lãi phát sinh từ ngày 17/12/2025 theo lãi suất quá hạn mà các bên đã thoả thuận trong các hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết nợ cho S2.

[4] Về xử lý tài sản thế chấp:

Để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ cho các khoản vay tại S2, ông Lê Gia S và bà Lê Thị H đã ký hợp đồng thế chấp tài sản số 202202241896250/HĐTC ngày 03/3/2022, hợp đồng thế chấp tài sản số 202202241896283/HĐTC ngày 03/03/2022 và các thỏa thuận sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp tài sản, thế chấp các tài sản gồm: Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 33, tờ bản đồ số: 4, diện tích 1.010,5 m²; Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 46, tờ bản đồ số: 10, diện tích 537,1 m², cùng địa chỉ: Thôn M, xã M, tỉnh Thanh Hóa.

Xét thấy các tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu hợp pháp của ông S và bà H, các hợp đồng thế chấp đã được công chứng, chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm nên có hiệu lực. Vì vậy, yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.

[5] Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã nộp tạm ứng và thanh toán với Tòa án chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 4.000.000 đồng. Nguyên đơn trình bày sẽ tự thỏa thuận với bị đơn để xử lý số tiền này. Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Vì vậy, HĐXX không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 95.824.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025); Các điều 280, 293, 295, 298, 299, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 398, 401, 463 và 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 100, Điều 103, Điều 107 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Buộc ông Lê Gia S và bà Lê Thị H phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 (S2) tổng số tiền là 3.191.189.104 đồng (Ba tỷ một trăm chín mươi mốt triệu một trăm tám mươi chín nghìn một trăm lẻ tư đồng), trong đó:

  • Đối với hợp đồng tín dụng ngày 09/11/2023: Nợ gốc là 2.790.000.000 đồng, nợ lãi là 266.778.155 đồng, tổng nợ gốc và lãi là 3.056.778.155 đồng (Ba tỷ không trăm năm mươi sáu triệu bảy trăm bảy mươi tám nghìn một trăm năm mươi lăm đồng).
  • Đối với thẻ tín dụng: Nợ gốc là 111.751.706 đồng; nợ lãi là 22.659.243 đồng, tổng nợ gốc và lãi là 134.287.128 đồng (Một trăm ba mươi tư triệu hai trăm tám mươi bảy nghìn một trăm hai mươi tám đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông S và bà H phải tiếp tục chịu lãi quá hạn theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ và giấy đề nghị mở thẻ tín dụng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật mà ông S và bà H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi toàn bộ khoản nợ, bao gồm:

  • Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 33, tờ bản đồ số: 4, địa chỉ: Thôn M, xã M, tỉnh Thanh Hóa, diện tích 1.010,5 m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 759225, số vào sổ cấp GCN: CH 02289, do UBND huyện N (cũ) cấp ngày 26/11/2019 mang tên ông Lê Gia S và bà Lê Thị H.
  • Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 46, tờ bản đồ số: 10, địa chỉ: Thôn M, xã M, tỉnh Thanh Hóa, diện tích 537,1 m²; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CP 071043 số vào sổ cấp GCN: CH 01957, do UBND huyện N (cũ) cấp ngày 15/01/2019 mang tên ông Lê Gia S và bà Lê Thị H.

Trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ trả nợ, thì ông S và bà H tiếp tục có nghĩa vụ trả nợ cho S2 cho đến khi trả hết nợ.

2. Về án phí:

  • Ông Lê Gia S và bà Lê Thị H phải chịu toàn bộ tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 95.824.000 đồng (Chín mươi lăm triệu tám trăm hai mươi tư nghìn đồng).
  • Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.179.000 đồng (Năm mươi sáu triệu một trăm bảy mươi chín nghìn đồng), theo biên lai thu số 0004045 ngày 05/8/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 - Thanh Hóa.

3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7ª và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 và bà Lê Thị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Lê Gia S vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • VKSND khu vực 8 - Thanh Hoá;
  • Thi hành án DS tỉnh Thanh Hoá;
  • Đương sự;
  • Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/KDTM-ST ngày 16/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THANH HÓA về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 12/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử buộc ông S, bà H trả nợ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger