|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc -------- |
|
Bản án số: 12/2025/HSST Ngày: 24/03/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Trinh; Ông Nguyễn Xuân Tào
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Hoài Thanh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Xuân Diệu, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2025/QĐXXHSST – HS, ngày 11 tháng 03 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Kỳ Anh, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đức T; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 07 tháng 09 năm 1987, tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hoá: Lớp 11/12; nghề nghiệp: Kinh doanh; con ông: Nguyễn Nhật T1 và bà: Trần Thị L; anh em ruột có 05 người, bị cáo là con thứ 4; có vợ: Trần Thị Út H và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh từ ngày 17/01/2025 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Nguyễn Văn S; sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; Có mặt
- - Anh Nguyễn Văn N; sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; Có mặt
- - Anh Vũ Đức H1; sinh năm 2001; nơi cư trú: Thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; Có mặt.
- - Ông Võ Xuân N1; sinh năm 1963; nơi cư trú: Thôn Đ, xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 21 giờ 00 phút ngày 20/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K phối hợp với Công an xã K, huyện K tiến hành làm việc với Nguyễn Văn S tại nhà ở của S. Quá trình làm việc S tự nguyện giao nộp hai hộp pháo hoa nổ có cùng kích thước 18cmx10cmx18cm. Nguyễn Văn S khai nhận đó là pháo hoa nổ, S mua của Nguyễn Đức T vào đầu tháng 11/2024 với giá 900.000 đồng/hộp về để sử dụng trong dịp Tết Nguyên đán năm 2025.
Đến 23 giờ 10 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K phối hợp với Công an xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh đến nhà Nguyễn Đức T làm việc với T về hành vi bán pháo hoa nổ cho Nguyễn Văn S thì T thừa nhận hành vi đã bán pháo hoa nổ cho S. Đồng thời tự nguyện giao nộp một hộp pháo hoa nổ có kích thước 14cmx13cmx20cm và khai nhận thêm ngoài hành vi bán pháo hoa nổ cho S, vào đầu tháng 11/2024 T còn bán pháo cho Vũ Đức H1, sinh năm 2001 và Nguyễn Văn N, sinh năm 1985, đều trú tại thôn P, xã K, huyện K mỗi người hai hộp pháo hoa nổ với giá mỗi hộp 900.000 đồng.
Tiếp đó vào hồi 01 giờ 30 phút và 03 giờ 45 phút ngày 21/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K phối hợp với Công an xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh tiến hành làm việc với Vũ Đức H1 và Nguyễn Văn N tại nhà ở của H1 và N. Quá trình làm việc H1 và N tự nguyện giao nộp mỗi người hai hộp pháo hoa nổ có cùng kích thước 18cmx10cmx18cm. H1 và N khai nhận đó là pháo hoa nổ, H1 và N mua của Nguyễn Đức T vào đầu tháng 11/2024 với giá 900.000 đồng/hộp về để sử dụng trong dịp Tết Nguyên đán năm 2025.
Quá trình điều tra, Nguyễn Đức T khai nhận: Nguyễn Đức T có Trạm cân và bãi tập kết thu mua cây Tràm để bán lại kiếm lời, nên nảy sinh ý định mua pháo hoa nổ về để bán lại cho những người làm thuê cho mình cũng như những người thường xuyên đến bán cây T2 cho T với mục đích để những người này tiếp tục làm thuê và hợp tác kinh doanh với T. Vào khoảng đầu tháng 4/2024, T lên mạng xã hội Facebook tìm kiếm trong hội nhóm mua bán pháo hoa nổ và đặt mua của một tài khoản Facenbook (Không rõ địa chỉ) một hộp pháo hoa nổ loại 09 quả với giá 600.000 đồng rồi về cất dấu phái sau chuồng gà nhà T. Tiếp đó vào khoảng cuối tháng 10/2024, T gặp ông Võ Xuân N1, sinh năm 1953, trú tại thôn Đ, xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh hỏi có pháo hoa nổ bán không, ông N1 trả lời có và đồng ý bán cho T sáu hộp pháo hoa nổ loại 49 quả với giá 900.000 đồng/hộp, T đồng ý mua. Sau khi gặp và hỏi ông N1 mua được pháo hoa nổ, T đi về trạm thu mua cây Tràm gặp và hỏi Nguyễn Văn S, Vũ Đức H1 làm thuê cho T và Nguyễn Văn N đến bán cây Tràm cho T có mua pháo hoa nổ về dùng tết không, giá mỗi hộp 900.000 đồng thì S, H1 và N đồng ý mua. Tiếp đó vào một buổi sáng, ngày đầu tháng 11/2024, ông N1 đưa đến cho T sáu hộp pháo hoa nổ cất dấu trong một bao tải màu xanh đến khu vực Trạm cân và bãi tập kết thu mua cây Tràm, ở thôn P, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh giao cho T, T mở ra kiểm tra thấy bên trong có 06 hộp pháo hoa nổ rồi đưa cho ông N1 5.400.000 đồng và đưa vào trong nhà lán của trạm cân lấy một hộp pháo hoa cất dấu vào ngăn kéo bàn làm việc, còn lại để trong bao tải giữa nền nhà. Chiều cùng ngày sau khi ông N1 đưa pháo cho T, T nói với S vào trong nhà lán lấy pháo, nên S đi vào mở bảo tải ra thấy năm hộp pháo hoa nổ, S lấy hai khối hộp pháo của mình, do trước đó Vũ Đức H1 có nhờ S khi nào lấy pháo thì cầm về cho H1 một hộp pháo, nên S lấy thêm một hộp pháo của H1 nữa rồi ra lấy xe mô tô biển kiểm soát 38K1-108.70 của T đưa về nhà cất dấu. Cùng thời điểm này T gặp Nguyễn Văn N tại trạm cân nên T nói với N vào lấy pháo thì N đi vào nhà lán lấy hai hộp pháo hoa nổ rồi đi bộ đưa về nhà cất dấu. Chiều cùng ngày H1 biết được S đã lấy pháo cho H1 nên H1 lấy xe mô tô biển kiểm soát 38K1-108.70 của T đến nhà S lấy một hộp pháo đưa về nhà cất dấu, sau đó quay lại trạm cân và bãi tập kết thu mua cây Tràm của T gặp T lấy thêm một hộp pháo trước đó T cất dấu trong ngăn kéo bàn làm việc của nhà lán đưa về nhà cất dấu. Sau khi nhận pháo, T và N thỏa thuận sẽ trừ 1.800.000 đồng tiền mua pháo vào tiền bán cây T2 cho T, H1 đã thanh toán cho T 1.800.000 đồng còn S chưa thanh toán tiền cho T.
Tại bản kết luận giám định số 124/KL-KTHS ngày 31/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận:
- - Hai khối hộp hình chữ nhật, bên ngoài được in nhiều hoa văn và ký tự nước ngoài, mỗi khối hộp có kích thước 18cmx10cmx18cm, bên trong mỗi khối có 49 ống hình trụ liên kết với nhau (Ký hiệu M1), thu của Nguyễn Văn S gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (Có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là: 3,48Kg.
- - Một khối hộp hình chữ nhật, bên ngoài được in nhiều hoa văn và ký tự nước ngoài, kích thước 14cmx13cmx20cm, bên trong khối có 09 ống hình trụ liên kết với nhau (Ký hiệu M2), thu của Nguyễn Đức T gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (Có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là: 1,8Kg.
- - Hai khối hộp hình chữ nhật, bên ngoài được in nhiều hoa văn và ký tự nước ngoài, mỗi khối hộp có kích thước 18cmx10cmx18cm, bên trong mỗi khối có 49 ống hình trụ liên kết với nhau (Ký hiệu M3), thu của Vũ Đức H1 gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (Có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là: 3,66Kg.
- - Hai khối hộp hình chữ nhật, bên ngoài được in nhiều hoa văn và ký tự nước ngoài, mỗi khối hộp có kích thước 18cmx10cmx18cm, bên trong mỗi khối có 49 ống hình trụ liên kết với nhau (Ký hiệu M4), thu của Nguyễn Văn N gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (Có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là: 3,6Kg.
Tổng khối lượng pháo Nguyễn Đức T bị thu giữ và đã bán, là 12,54kg.
Tổng khối lượng pháo Nguyễn Văn S bị thu giữ là 3,48Kg.
Tổng khối lượng pháo Vũ Đức H1 bị thu giữ là 3,66Kg .
Tổng khối lượng pháo Nguyễn Văn N bị thu giữ là 3,6Kg.
Về vật chứng vụ án: 06 khối hộp hình chữ nhật, bên ngoài được in nhiều hoa văn và ký tự nước ngoài, mỗi khối hộp có kích thước 18cmx10cmx18cm bên trong mỗi khối có 49 ống hình trụ liên kết với nhau và một khối hộp hình chữ nhật, bên ngoài được in nhiều hoa văn và ký tự nước ngoài, kích thước 14cmx13cmx20cm, bên trong có 09 ống hình trụ liên kết với nhau (Ký hiệu M1, M2, M3, M4), có tổng khối lượng là 12,54kg; đã lấy mẫu giám định không hoàn lại tám ống hình trụ tròn, với khối lượng 0,47; khối lượng còn lại 12,07kg, đã đóng gói niêm phong vào một thùng các tông. (Vật chứng nói trên đã chuyển đến Bộ chỉ huy quân sự tỉnh H).
Tại bản Cáo trạng số 13/CT- VKSKA ngày 13 tháng 02 năm 2025, của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự;
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm c khoản 1Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Đức T từ 15 đến 18 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn miễn hình phạt tiền cho bị cáo.
- - Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 06 khối hộp hình chữ nhật, bên ngoài được in nhiều hoa văn và ký tự nước ngoài, mỗi khối hộp có kích thước 18cmx10cmx18cm bên trong mỗi khối có 49 ống hình trụ liên kết với nhau và một khối hộp hình chữ nhật, bên ngoài được in nhiều hoa văn và ký tự nước ngoài, kích thước 14cmx13cmx20cm, bên trong có 09 ống hình trụ liên kết với nhau (Ký hiệu M1, M2, M3, M4), có tổng khối lượng là 12,54kg; đã lấy mẫu giám định không hoàn lại 08 ống hình trụ tròn, với khối lượng 0,47; khối lượng còn lại 12,07kg, đã đóng gói niêm phong vào một thùng các tông.
- - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo: Xử buộc Nguyễn Đức T phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có điều kiện trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đầy đủ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát; phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi Nguyễn Đức T cuối tháng 4/2024 mua 09 ống hình trụ liên kết với nhau trên mạng xã hội Facebook với giá 600.000 đồng và cuối tháng 10/2024 T còn mua thêm của ông Võ Xuân N1 06 khối hộp hình chữ nhật, bên ngoài được in nhiều hoa văn và ký tự nước ngoài, mỗi khối hộp có kích thước 18cmx10cmx18cm, bên trong mỗi khối có 49 ống hình trụ liên kết với nhau, tổng khối lượng 12,54kg pháo hoa nổ với tổng số tiền 5.400.000 đồng rồi đến đầu tháng 11/2024 bán lại cho Nguyễn Văn S, Vũ Đức H1 và Nguyễn Văn N mỗi người 02 hộp, còn lại 01 hộp chưa bán bị thu giữ. Hành vi của Nguyễn Đức T đủ yếu tố cấu thành tội“ Buôn bán hàng cấm”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người đúng tội, không có gì oan sai.
[3] Trong vụ án này, Nguyễn Đức T thực hiện hành vi phạm tội một mình. Hành vi phạm tội của bị cáo là vi phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự tại địa phương về phòng chống cháy nổ, làm ảnh hưởng đến tài sản, sức khoẻ, đời sống xã hội nên cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Đức T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Đức T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội thành khẩn khai báo”, quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo đã ủng hộ tiền, công sức trong cơn bảo số 10 vào năm 2017 cũng như dịch C vào năm 2021 và hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, có hoàn cảnh khó khăn, không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hại cho xã hội. Hội đồng xét xử cần căn cứ Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo hưởng án treo cũng đảm bảo nghiêm minh.
[7] Quá trình điều tra, Nguyễn Đức T khai nhận mua 06 khối pháo nổ, có khối lượng 10,74kg của ông Võ Xuân N1 về bán lại. Quá trình triệu tập lấy lời khai cũng như kết quả đối chất với Nguyễn Đức T, ông Võ Xuân N1 khẳng định không hề bán pháo hoa nổ cho T. Vì vậy, chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông Võ Xuân N1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K sẽ tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý sau.
Đối với chủ tài khoản Facebook, theo Nguyễn Đức T trình bày là người đã bán cho T một khối hộp pháo hoa nổ. Quá trình điều tra xác định chiếc điện thoại T sử dụng liên hệ mua pháo, hiện nay T đã làm mất, không lấy lại được tài khoản Facebook cá nhân. Vì vậy không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Chiếc xe mô tô Dream biển kiểm soát 38K1-108.70 mà Nguyễn Văn S và Vũ Đức H1 sử dụng để đưa pháo nổ về nhà, được xác định chủ sở hữu Nguyễn Đức T, quá trình làm việc tại Trạm cân T để xe mô tô làm phương tiện cho công nhân đi lại. Việc S, H1 lấy chở pháo về nhà, T không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ và xử lý.
Đối với Nguyễn Văn S khi vào nhà lán của trạm cân lấy ba hộp pháo hoa nổ thì phát hiện T cất dấu năm hộp pháo hoa nổ có trọng lượng 8,91kg, đối chiếu với Điều 390 Bộ luật hình sự, hành vi của S không thuộc trường hợp truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với Nguyễn Văn S đã được H1 nhờ cầm về một hộp pháo hoa nổ có trọng lượng 1,83kg. Tuy nhiên S không biết việc Nguyễn Đức T bán pháo cho H1 nên không đồng phạm về hành vi “Buôn bán hàng cấm”.
Đối với Nguyễn Văn S thực hiện hành vi mua hai hộp pháo để về sử dụng với khối lượng 3,48Kg; Vũ Đức H1 thực hiện hành vi mua hai hộp pháo để về sử dụng với khối lượng 3,66Kg; Nguyễn Văn N thực hiện hành vi mua hai hộp pháo để về sử dụng với khối lượng 3,6Kg. Quá trình điều tra xác định hành vi của S, H1 và N chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 24/01/2025 Chủ tịch UBND huyện K đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 290/QĐ-XPHC, 291/QĐ-XPHC, 292/QĐ-XPHC bằng hình thức phạt tiền đối với Nguyễn Văn S, Vũ Đức H1 và Nguyễn Văn N mỗi người 40.000.000 đồng. Hiện nay S, H1 và N đã thi hành xong.
[8] Vật chứng vụ án: Hội đồng xét xử cần căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự để tịch thu tiêu huỷ số pháo nổ thu giữ được trong vụ án. Đối với số tiền do bán pháo mà có 3.600.000 đồng cần truy thu của bị cáo Nguyễn Đức T để sung vào công quỹ nhà nước là phù hợp.
[9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương nên miễn hình phạt tiền cho bị cáo.
[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Những người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo, xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”
-
Về hình phạt chính: Xử phạt Nguyễn Đức T 16 (mười sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 32 (ba hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Đức T cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương Ủy ban nhân dân xã K trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
-
Về vật chứng vụ án:
- - Tịch thu tiêu huỷ 06 khối hộp hình chữ nhật, bên ngoài được in nhiều hoa văn và ký tự nước ngoài, mỗi khối hộp có kích thước 18cmx10cmx18cm bên trong mỗi khối có 49 ống hình trụ liên kết với nhau và một khối hộp hình chữ nhật, bên ngoài được in nhiều hoa văn và ký tự nước ngoài, kích thước 14cmx13cmx20cm, bên trong có 09 ống hình trụ liên kết với nhau (Ký hiệu M1, M2, M3, M4), có tổng khối lượng là 12,54kg, đã lấy mẫu giám định không hoàn lại 08 ống hình trụ tròn, với khối lượng 0,47, khối lượng còn lại 12,07kg, đã đóng gói niêm phong vào một thùng các tông. (Vật chứng nói trên như biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/2/2025).
- - Truy thu của bị cáo Nguyễn Đức T số tiền 3.600.000 (Ba triệu sáu trăm ngàn) đồng tiền thu lợi bất chính để sung vào công quỹ nhà nước
- Về án phí: Xử buộc Nguyễn Đức T phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn N, anh Nguyễn Văn S, anh Võ Đức H2 có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Võ Xuân N1 vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể tư ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mạnh Cường |
Bản án số 12/2025/HSST ngày 24/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về buôn bán hàng cấm (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 12/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm (Hình sự Sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức T phạm tội buôn bán hàng cấm
