TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 12/2025/HS-ST Ngày: 21/3/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Phước
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Thanh Hoàng
- Bà Võ Thị Bạch Tuyết
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Vũ Thủy Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/HSST-QĐ ngày 18 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Họ tên: Huỳnh Văn M, tên gọi khác: Dư; sinh ngày: 18/12/2004 tại Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ thường trú: I ấp H, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn P (chết) và bà Lê Thị Ú; chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: Ngày 04/8/2023, bị Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 340/QĐ-XPVPHC ngày 04/8/2023 (chưa đóng tiền phạt); bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/10/2024 đến nay; bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Họ tên: Huỳnh Văn T, tên gọi khác: không có; sinh ngày: 13/4/2007 tại Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ thường trú: I ấp H, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn P (chết) và bà Lê Thị Ú; chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: Ngày 04/8/2023, bị Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính 1.250.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 341/QĐ-XPVPHC ngày 04/8/2023 (chưa đóng tiền phạt); Ngày 12/4/2023, bị Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày 12/4/2023 về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định số 157/QĐ-XPTT ngày 12/4/2023; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/11/2024 đến nay; bị cáo tại ngoại (có mặt).
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Huỳnh Văn T:
Bà Lê Thị Ú, sinh năm 1976, là mẹ ruột của bị cáo
Địa chỉ: I ấp H, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Văn T:
Ông Huỳnh Khắc T1, sinh năm 1976, là luật sư của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố H.
Địa chỉ: D N, phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Bị hại:
Ông Đinh Hoàng H, sinh năm 1985
Địa chỉ: 1 ấp Đ, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Nguyễn Hoàng T2, sinh năm 1973
Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 27/9/2024, Huỳnh Văn M và Huỳnh Văn T sau khi chơi game hết tiền thì rủ nhau đi tìm kiếm tài sản để trộm cắp. M điều khiển xe máy biển số 51F1-8836 chở T đến khu vực ấp L, xã L, huyện C, khi chạy ngang qua Dinh Ông P1 thì T nhìn thấy có 01 cái máy xăng nên nói với M. Sau khi quan sát xung quanh thấy không có người, M xuống xe đi vào trộm cắp 01 cái máy xăng 6.5HP, màu đỏ của ông Đinh Hoàng H đang để ở trong Dinh mang ra để lên yên xe cho T ngồi sau ôm, còn M ngồi trước điều khiển xe chạy đi đến ấp H, xã L cất giấu vào bụi cây. Đến chiều cùng ngày, M, T đem máy xăng 6.5HP trộm được đến bán cho ông Nguyễn Hoàng T2 tại ấp H, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh được 400.000 đồng rồi cùng nhau tiêu xài hết.
Tại Kết luận định giá số 16/KL-HĐĐGTS ngày 18/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 01 máy xăng 6.5HP, màu đỏ, đã qua sử dụng, có trị giá 112.000₫ (một trăm mười hai ngàn đồng). Cơ quan điều tra đã thu hồi tài sản trả lại cho bị hại là ông Đinh Hoàng H.
Tại bản cáo trạng số 06/CT-VKSHCG ngày 11 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Huỳnh Văn M, Huỳnh Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, các bị cáo Huỳnh Văn M, Huỳnh Văn T đã trình bày lại toàn bộ nội dung vụ án và thừa nhận cùng nhau thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 cái máy xăng 6.5HP, màu đỏ của ông Đinh Hoàng H vào ngày 27/9/2024 tại D Ông P1 thuộc ấp L, xã L, huyện C như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố đối với các bị cáo. Đồng thời, các bị cáo đã nhìn nhận trách nhiệm của mình và tỏ thái độ ăn năn hối hận, xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến đánh giá nội dung vụ án, xác định hành vi phạm tội và giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Huỳnh Văn M, Huỳnh Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017) như nội dung bản cáo trạng. Đồng thời, Đại diện Viện kiểm sát cũng đã đánh giá tính chất hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Huỳnh Văn M mức án từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách đến 01 năm 06 tháng; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T mức án từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ; tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe máy, nhãn hiệu Dream, không có số khung, số máy C100ME-0369799; tịch thu tiêu hủy 01 biển số xe 51F1-8836.
Tại bài bào chữa đề ngày 21/3/2025, Luật sư bào chữa cho bị cáo Huỳnh Văn T thống nhất về tội danh và điều khoản mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ đã truy tố đối với bị cáo. Đồng thời, luật sư trình bày các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo T gồm: bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; hoàn cảnh gia đình khó khăn, thiếu sự quan tâm, giáo dục của gia đình; phạm tội khi ở độ tuổi từ 16 đến dưới 18 tuổi; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xử phạt bị cáo với mức án thấp nhất mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ, Kiểm sát viên đã tiến hành thu thập chứng cứ, tài liệu đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đã giao nộp chứng cứ, tài liệu đúng trình tự, thủ tục quy định. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác thể hiện nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp; các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với nhau, phù hợp với lời trình bày của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với kết luận định giá tài sản và các chứng cứ, tang vật khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ cơ sở để xác định, các bị cáo Huỳnh Văn M, Huỳnh Văn T đã cùng nhau thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 cái máy xăng 6.5HP, màu đỏ, có trị giá 112.000đ (một trăm mười hai ngàn đồng) của ông Đinh Hoàng H vào ngày 27/9/2024 tại D Ông P1 thuộc ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Các bị cáo đã chiếm đoạt được tài sản, sau đó mang tài sản bán cho ông Nguyễn Hoàng T2 được 400.000 đồng và cùng nhau tiêu xài hết. Mặc dù, tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt có trị giá dưới 2.000.000 đồng, nhưng bản thân các bị cáo Huỳnh Văn M, Huỳnh Văn T đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm. Do đó, hành vi của các bị cáo Huỳnh Văn M, Huỳnh Văn T thực hiện đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Ông Nguyễn Hoàng T2 đã thực hiện hành vi mua 01 cái máy xăng 6.5HP, màu đỏ do các bị cáo chiếm đoạt mang đến bán. Tuy nhiên, khi mua bán, ông T2 không biết cái máy xăng 6.5HP, màu đỏ là tài sản do các bị cáo phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý vi phạm đối với ông T2 là có căn cứ.
[4] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giờ đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[5] Xét lời trình bày của luật sư bào chữa cho bị cáo Huỳnh Văn T về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo là có căn cứ nên chấp nhận.
[6] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác nên cần phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo, áp dụng hình phạt tù có thời hạn để nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[7] Tuy nhiên, xét các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên cần xem xét áp dụng các quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt. Riêng bị cáo Huỳnh Văn T khi thực hiện hành vi phạm tội là người chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng thêm các Điều 90, 91, 98, 101 để quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[8] Xét thấy, các bị cáo Huỳnh Văn M, Huỳnh Văn T bản thân đã có tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản nhưng tiền sự này là tình tiết định tội của lần phạm tội này; có 3 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; có nơi cư trú rõ ràng; phạm tội mang tính nhất thời nên không cần thiết phải buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù, cách ly khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo, giao về cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát và giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe, cải tạo đối với các bị cáo.
[9] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại là ông Đinh Hoàng H đã nhận lại tài sản và nay không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì khác nên Tòa án không xét giải quyết.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Hoàng T2 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền 400.000 đồng nên Tòa án không xét giải quyết.
[10] Về tang vật chứng của vụ án:
- - 01 (một) xe máy, nhãn hiệu Dream, không có số khung, số máy C100ME-0369799, là xe của bị cáo M mua của người khác không có giấy tờ, không xác định được chủ sở hữu, bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- - 01 biển số xe 51F1-8836 là biển số không có trong hệ thống đăng ký nên tịch thu tiêu hủy.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Xử phạt: Huỳnh Văn M 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án;
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65; Điều 90, Điều 91, Điều 98, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Xử phạt: Huỳnh Văn T 03 (ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án;
Giao các bị cáo Huỳnh Văn M, Huỳnh Văn T cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự;
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
3. Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- 3.1.Tịch thu tiêu hủy: 01 biển số xe 51F1-8836;
- 3.2. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) xe máy, nhãn hiệu Dream, không có số khung, số máy C100ME-0369799.
(Tang vật thể hiện tại Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 13 tháng 02 năm 2025 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh).
4. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Mỗi bị cáo Huỳnh Văn M, Huỳnh Văn T phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo bản án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
(Đã giải thích quy định về án treo cho người được hưởng án treo)
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Minh Phước |
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ - TP. HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIỜ - TP. HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trị giá tài sản trộm cắp dưới 5 triệu đồng
