|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN Bản án số: 12/2025/HSST Ngày: 27/02/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Hồng Thái
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thanh Hải
- 2. Ông Vũ Văn Hoàn
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Thái – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Chinh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại nhà Văn hóa xóm C, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 63/2024/TLST - HS ngày 27 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST - HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với:
1. Bị cáo: Trần Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày:14/7/1960 tại T: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Nơi Đăng ký thường trú: xóm T, xã K, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Chỗ ở hiện nay: xóm Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Con ông: Trần Văn T1, sinh năm 1931; Con bà: Lê Thị Đ, sinh năm 1938; Vợ: Bàn Thị H, sinh năm 1968; Con: có 01 con sinh năm 1990; Gia đình có 06 anh, chị em, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/10/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ của Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt tại phiên tòa).
2. Bị cáo: Dương Quý T2; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 01/01/1968 tại Thái Nguyên. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không Trình độ học vấn: 01/12, Nghề nghiệp: Làm ruộng.
Nơi Đăng ký thường trú và chỗ ở: xóm Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Con ông: Dương Phúc H1 (đã chết) Con bà: Triệu Thị T3, sinh năm 1951; Vợ: Nguyễn Thị P (đã chết); Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1986, con nhỏ sinh năm 1987. Gia đình có 11 anh em, bị cáo là con thứ 01 trong gia đình.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/10/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ của Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(Có mặt tại phiên tòa).
3. Người chứng kiến:
3.1 Ông Đào Tuấn A, sinh năm 1991;
Nơi cư trú: Xóm B, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
3.2 Ông Bàn Phúc T4, sinh năm 1987;
Nơi cư trú: Xóm Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(Đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 08/10/2024, tổ công tác Công an huyện Đ phối hợp cùng Công an xã H tiến hành tuần tra, kiểm soát tại khu vực xóm Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện một người đàn ông đang đi bộ trên đường có biểu hiện liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã tiếp cận và yêu cầu kiểm tra. Người này chấp hành và khai nhận tên là Dương Quý T2 (sinh năm 1968, nơi thường trú: xóm Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên) rồi tự giác lấy từ trong túi quần phía trước bên phải của mình đang mặc ra 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác (T2 khai là H2). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T2 và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của T2, kết quả: không phát hiện, thu giữ gì .
Tại Cơ quan điều tra, Dương Quý T2 khai nhận:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 08/10/2024, T2 một mình đi bộ từ nhà đến nhà Trần Văn T (sinh năm 1960, trú tại: Xóm Đ, xã H, huyện Đ) để mua Heroine cho bản thân sử dụng. Đến nơi, T2 gặp và hỏi mua của T được 01 gói Heroine được gói bằng giấy bạc màu vàng, với giá 200.000 đồng. Mua được H2, T2 cất dấu vào trong túi quần phía trước bên phải mình đang mặc rồi đi bộ về nhà. Khi đến khu vực thuộc xóm Đ, xã H, huyện Đ thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Cùng ngày, tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Văn T, kết quả: Phát hiện thu giữ tại túi quần phía trước bên trái Thà đang mặc có 06 (sáu) gói nhỏ được gói bằng giấy bạc màu vàng bên trong đều chứa chất bột màu trắng; 06 (sáu) gói nhỏ được gói bằng giấy bạc màu trắng bên trong đều chứa chất bột màu trắng và số tiền 400.000đ tiền ngân hàng N.
Tại cơ quan điều tra, Trần Văn T khai:
Khoảng 20 giờ ngày 07/10/2024 T đến khu vực đầu cầu G, phường Đ, thành phố T với mục đích tìm mua ma túy loại Heroine về bán lại cho người nghiện kiếm lời. Tại khu vực trên Thà đã mua của một người đàn ông khoảng 50 tuổi ( không biết tên và địa chỉ) với số tiền 1.000.000 đồng( một triệu đồng) được 06 gói giấy bạc màu trắng và 07 gói giấy bạc màu vàng bên trong đều có chứa Heroine. Sau khi mua được ma túy, T mang về nhà cất giấu. Đến khoảng 10 giờ sáng ngày 08/10/2024 T bán cho Dương Quý T2 01 gói ma túy Heroine với giá 200.000 đồng( Hai trăm nghìn đồng). Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày T đang ở nhà thì bị tổ công tác của Công an huyện Đ đến nhà thi hành Lệnh khám xét và thu giữ tại túi quần phía trước bên phải T đang mặc có số tiền 400.000 đồng( Bốn trăm nghìn đồng) 06( sáu) gói nhỏ gói bằng giấy bạc màu vàng bên trong chứa ma túy Heroine và 06( sáu) gói nhỏ gói bằng giấy bạc màu trắng bên trong có đều có chứa ma túy Heroine. Ngoài ra không thu giữ gì khác, Tổ công tác lập biên bản thu giữ và niêm phong số ma túy Heroine của Thà theo quy định.
Tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của T2 là: 0,151 gam (Lấy toàn bộ cho vào phong bì niêm phong, kí hiệu Al để gửi đi giám định); Số chất bột màu trắng thu giữ của Thà là: 1,175 gam (Lấy toàn bộ cho vào phong bì niêm phong, kí hiệu A2 để gửi đi giám định).
Tại Kết luận giám định số 1087/KL-KTHS ngày 14/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong Al gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,151gam; Chất bột màu trắng trong bì niêm phong A2 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 1,175gam..
Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án như Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, biên bản khám xét khẩn cấp, Kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKSĐH, ngày 26/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Trần Văn T, về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; và Dương Quý T2 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân của các bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” Áp dụng: khoản 1, Điều 251; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 106; 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 4 đến 5 năm tù.
Về Hình phạt bổ sung:Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tuyên bố bị cáo Dương Quý T2 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 106; 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Xử phạt bị cáo Dương Quý T2 từ 24 đến 30 tháng tï.
Về Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 04 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu: A1, A2, LK; LK1; Sung vào Ngân sách nhà nước Số tiền 200.000 đồng tiền Ngân hàng N là tiền Thà bán ma túy mà có.
Tạm giữ của Trần Văn T 200.000 đồng tiền Ngân hàng N để đảm bảo Thi hành án.
Về án phí: Bị cáo Trần Văn T là người cao tuổi, đề nghị miễn án phí cho bị cáo. Bị cáo Dương Quý T2 phải chịu 200.000đ đồng án phí Hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách nhà nước. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của vị đại diện Viện Kiểm sát đề nghị.
Trong lời nói sau cùng các bị cáo Trần Văn T và Dương Quý T2 đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, 02 bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Trần Văn T và Dương Quý T2 không yêu cầu được nhờ người bào chữa cho các bị cáo và cũng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2].Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T và Dương Quý T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ mô tả, lời khai nhận của Dương Quý T2 phù hợp với lời khai nhận của Trần Văn T, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên toà là khách quan, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Lệnh khám xét khẩn cấp, Biên bản khám xét, Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp, Biên bản bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 08/10/2024, tại nhà ở của Trần Văn T thuộc xóm Đ, xã H, huyện Đ, T đã bán cho Dương Quý T2 01 gói Heroine có khối lượng 0,151 gam với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được H2, T2 cất gói Heroine vào túi quần phía trước bên phải T2 mặc rồi đi về để sử dụng. Khi đi đến đoạn đường dân sinh thuộc xóm Đ, xã H, huyện Đ thì Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Khám xét người, chỗ ở của Trần Văn T thu giữ 1,175 gam Heroine và 400.000đ( Bốn trăm nghìn đồng).
Bản cáo trạng số 04/CT-VKSĐ, ngày 26/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Trần Văn T, về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; và Dương Quý T2 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung Khoản 1, khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng....”
Nội dung Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển ..., thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”
c) Heroine, C, Methamphetamine.... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
[3]. Về tính chất, mức độ hành vi, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn T là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy mà còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, làm gia tăng người nghiện ma túy trong xã hội, gây mất trật tự trị an. Bị cáo hoàn toàn có đủ nhận thức biết ma túy là chất cấm, được nhà nước quản lý nhưng vẫn cố tình mua bán với mục đích để bán kiếm lời với khối lượng 1,175 gam Heroine. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì ham lợi nên bị cáo đã coi thường pháp luật cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Tại phiên tòa bị cáo khai bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và kinh tế xã hội nhưng do bản thân muốn kiếm tiền bất chính nên bị cáo đã đi mua ma túy về để bán lại cho người nghiện khác để kiếm lời, dẫn bị cáo tới con đường phạm tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo Dương Quý T2 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương.
Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo Trần Văn T và bị cáo Dương Quý T2 không có tiền án, tiền sự là đối tượng nghiện chất ma túy.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội cuả các bị cáo Hội đồng xét xử thấy khi lượng hình cần lên một mức án nghiêm khắc, áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, buộc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[4]. Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự, bị cáo Trần Văn T mua ma túy để bán lại cho người nghiện kiếm lời nên bị cáo T phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền nộp vào Ngân sách nhà nước.
Bị cáo Dương Quý T2 tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân, không có mục đích bán để kiếm lời, mặt khác bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có công việc ổn định, không có thu nhập gì nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp, tuy nhiên việc bị cáo Trần Văn T mua ma túy để bán lại cho người nghiện kiếm lời phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền để cải tạo giáo dục và răn đe đối với bị cáo.
[5]. Vật chứng của vụ án:
+ Đối với 04 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu: A1, A2, LK; LK1 là vật chứng của vụ án không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
+ Đối với số tiền 400.000 đồng thu của bị cáo Trần Văn T Trong đó có 200.000 đồng( Hai trăm nghìn đồng) là tiền bị cáo bán ma túy cho T2 mà có nên Tịch thu sung nộp vào Ngân sách nhà nước; Số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) là tiền do bị cáo lao động mà có nên tạm giữ để đảm bảo thi hành án;
[6]. Về án phí: Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Văn T là người cao tuổi, có đơn đề nghị miễn án phí nên HĐXX miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo Dương Quý T2 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách Nhà nước;
[7]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[8]. Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy là H2 bị thu giữ của bị cáo Trần Văn T, bị cáo khai mua của một người đàn ông khoảng 50 tuổi, ở cầu G thuộc phường Đ, thành phố T, do không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể người đàn ông đó nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không có cơ sở điều tra, làm rõ để xử lý là đúng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 251 ; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự;
- điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
- Các Điều 106, 136, 329, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015
- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh:
1.1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” Xử phạt bị cáo Trần Văn T 05 năm tù................................................
Thời hạn tù tính từ ngày 08/10/2024.
- Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo Trần Văn T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
* Về Hình phạt bổ sung: Phạt tiền đối với bị cáo Trần Văn T 5.000.000 đồng( Năm triệu đồng) nộp vào Ngân sách nhà nước.
1.2. Tuyên bố: Bị cáo Dương Quý T2 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Dương Quý T2 24 ( Hai mươi bốn) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 08/10/2024.
- Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo Dương Quý T2 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
* Về Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Xử lý vật chứng:
* Tịch thu tiêu hủy:
- + 01(Một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu: A1;
- + 01(Một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu: A2;
- + 01(Một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu: LK;
- + 01(Một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu: LK1;
* Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng(Hai trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng N là tiền do bị cáo Trần Văn T phạm tội mà có;
* Tạm giữ số tiền 200.000 đồng(Hai trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng N là tiền bị cáo Trần Văn T lao động mà có để đảm bảo Thi hành án.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/01/2025 giữa Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và Ủy nhiệm chi chuyển khoản ngày 13/01/2025 giữa Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ và Kho bạc nhà nước huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.).
3. Án phí: Bị cáo Trần Văn T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Buộc bị cáo Dương Quý T2 phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách Nhà nước.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn T và bị cáo Dương Quý T2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Mai Thị Hồng Thái |
Bản án số 12/2025/HSST ngày 27/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN về vụ án hình sự: mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 12/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 08/10/2024, tại nhà ở của Trần Văn T thuộc xóm Đ, xã H, huyện Đ, T đã bán cho Dương Quý T2 01 gói Heroine có khối lượng 0,151 gam với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được H2, T2 cất gói Heroine vào túi quần phía trước bên phải T2 mặc rồi đi về để sử dụng. Khi đi đến đoạn đường dân sinh thuộc xóm Đ, xã H, huyện Đ thì Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Khám xét người, chỗ ở của Trần Văn T thu giữ 1,175 gam Heroine và 400.000đ( Bốn trăm nghìn đồng).
