|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC Bản án số: 12/2025/HSST Ngày 19 - 02 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy Mai
Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Bích Liên và bà Đỗ Thị Kim Thuý
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hoàng Đức - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa:
Ông Đào Quang Soạn - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 121/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Thị Kim C, sinh ngày 23 tháng 7 năm 1997; nơi thường trú: TDP 3 T, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Trần Văn L và bà Đỗ Thị H; chồng là Phạm Xuân Q, sinh năm 1991 đã bị khởi tố về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản", hiện đang bỏ trốn và bị truy nã; bị cáo có 02 con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 14/5/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh V (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo: Chị Văn Thị Thanh H1, sinh năm 1997; Công ty L1 (có mặt).
- Bị hại:
- + Anh Phạm Ngọc B, sinh năm: 1992; địa chỉ: Phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội (có mặt);
- + Anh Nguyễn Hữu K, sinh năm: 1985 trú tại phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Chị Hà Thị N (là vợ của anh Phạm Ngọc B); địa chỉ: Phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội (có mặt);
- + Anh Kiều Đức V, sinh năm 1988; địa chỉ: Thị trấn P, huyện P, Thành phố Hà Nội (vắng mặt);
- + Anh Nguyễn Trung H2, sinh năm 1987; địa chỉ: Phường Đ, quận N, Thành phố Hà Nội (vắng mặt);
- + Anh Nguyễn Trung K1, sinh năm 1996; địa chỉ: Xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);
- + Anh Nguyễn Trung H3, sinh năm 1990; địa chỉ: Xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trong thời gian từ tháng 5/2023 đến tháng 9/2023 Trần Thị Kim C và Phạm Xuân Q, sinh năm 1991 (chồng của bị cáo C) đã thực hiện hành vi như sau:
1. Hành vi chiếm đoạt xe ô tô nhãn hiệu Toyota Raize, BKS: 30K - 014.67 của anh Phạm Ngọc B, SN: 1992 trú tại phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội:
Ngày 27/4/2023, qua tài khoản Facebook, Phạm Xuân Q nhắn tin cho anh Phạm Ngọc B hỏi thuê xe ô tô nhãn hiệu Toyota Raize, BKS: 30K - 014.67, thời hạn thuê xe là 07 ngày kể từ ngày 29/4/2023 đến ngày 05/5/2023, giá thuê xe là 1.000.000đ/01 ngày. Hai bên thỏa thuận giao xe tại nhà hàng D Không Sắc của vợ chồng Q ở thị trấn Y, huyện Y. Đến khoảng 19h00' cùng ngày, anh Phạm Ngọc B giao cho anh Phạm Văn T, SN: 2000 trú tại xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (là nhân viên làm thuê cho anh B) đem xe đến giao cho Q tại nhà hàng D Không Sắc, đồng thời anh B đưa cho anh T 01 bản sao giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Hà Thị N, 01 bản gốc giấy chứng nhận kiểm định xe, 01 bảo hiểm tự nguyện, 02 hợp đồng thuê xe ô tô, 02 biên bản bàn giao xe để anh T đưa cho Q ký. Ngày 28/4/2023, tại nhà hàng D Không Sắc, Q ký hợp đồng thuê xe, biên bản bàn giao xe và đưa số tiền 10.000.000đ đưa cho anh T để trả trước tiền thuê xe. Sau đó anh T bàn giao xe cho Q. Đến ngày 06/5/2023, Q gọi điện cho anh B đặt vấn đề thuê xe thêm 7 ngày, anh B đồng ý. Ngày 07/5/2023, Q chuyển số tiền 5.000.000đ vào số tài khoản 106882338866 thuộc ngân hàng V1 của anh B để trả tiền thuê xe. Hết thời hạn thuê xe nêu trên, Q đã liên lạc với anh B đặt vấn đề tiếp tục thuê xe. Đến ngày 17/5/2023, Q rủ C đi cùng Q đến thị trấn P, huyện P, thành phố Hà Nội, C đồng ý. Sau đó Q điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Raize, BKS: 30K - 014.67 chở C đi cùng. Đến khoảng 10h00' cùng ngày, Q và C đến thị trấn P. Tại đây Q nói với C là Q sẽ bán chiếc xe trên thì C đồng ý (Mặc dù biết chiếc xe trên do Q thuê nhưng C vẫn đồng ý bán xe). Q và C thống nhất C sẽ mạo danh là Hà Thị N ở phường V, quận Đ, thành phố Hà Nội, (là người đứng tên đăng ký xe ô tô BKS: 30K - 014.67) để bán xe. Sau đó Q gọi điện hỏi anh Kiều Đức V, SN: 1988 trú tại thị trấn P, huyện P, thành phố Hà Nội là có mua xe ô tô không, thì anh V trả lời là có và bảo Q đem xe đến để anh V xem xe. Sau đó, Q và C đến nhà anh V. Tại nhà anh V, Q giới thiệu với anh V tên là Q ở thị trấn Y, huyện Y còn C giới thiệu với anh V là Hà Thị N (vợ Q). Q, C và anh V thỏa thuận giá bán xe là 200.000.000đ, anh V bảo bớt cho anh V 10 triệu đồng thì C đồng ý (Khi thỏa thuận mua bán xe thì C nói với anh V là xe đang thế chấp tại Ngân hàng). Khi C viết giấy bán xe và đọc lại toàn bộ nội dung đã viết trong giấy bán xe thì anh V đã dùng điện thoại để quay lại. Sau đó C đưa cho anh V giấy bán xe cùng 01 bản sao giấy chứng nhận đăng ký xe, giấy chứng nhận kiểm định xe, giấy xác nhận thế chấp xe tại ngân hàng, giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện. Sau đó, anh V sử dụng số tài khoản 45110000967564 thuộc ngân hàng B3 của anh V chuyển số tiền 190.000.000đ vào số tài khoản 10769789999 thuộc ngân hàng V2 của Q. Sau khi nhận được tiền thì C và Q ra về.
Mặc dù đã bán xe ô tô BKS: 30K – 014.67 cho anh Kiều Đức V nhưng để che dấu việc đã bán xe, từ sau ngày 17/5/2023, Phạm Xuân Q vẫn liên lạc với anh B đặt vấn đề tiếp tục thuê xe đến ngày 26/9/2023. Căn cứ kết quả sao kê tài khoản xác định tổng số tiền mà Phạm Xuân Q đã chuyển cho anh B để trả tiền thuê xe từ thời điểm bắt đầu thuê xe đến ngày 26/9/2023 là 143.500.000 đồng.
Đến ngày 27/9/2023, hết thời hạn gia hạn thuê xe, Phạm Xuân Q không trả xe mà cũng không đặt vấn đề tiếp tục thuê xe, anh B nhiều lần yêu cầu Q trả xe nhưng Q không trả nên ngày 25/10/2023, anh B đã có đơn tố cáo Q về hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Đối với xe ô tô BKS: 30K - 014.67: Ngày 02/11/2023, anh V đã thỏa thuận bán cho anh Nguyễn Trung H2, SN: 1987 trú tại phường Đ, quận N, thành phố Hà Nội với giá 500.000.000đ, anh H2 đặt cọc tiền mua xe cho anh V là 179.000.000đ, khi nào có giấy tờ gốc thì trả nốt tiền. Sau khi nhận xe từ anh V, anh H2 đã cho anh Đinh Quang T1, SN: 1979 trú tại phường T, quận B, thành phố Hà Nội mượn để sử dụng. Ngày 08/3/2024, khi anh Đinh Quang T1 đang sử dụng chiếc xe trên thì bị Công an phường T tạm giữ.
Ngày 05/11/2023, anh Phạm Ngọc B giao nộp 01 đăng ký xe bản phô tô, 01 biên bản giao nhận xe cho Q bản phô tô, 01 hợp đồng thuê xe bản phô tô.
Ngày 08/3/2024, anh Nguyễn Trung H2 Giao nộp 01 giấy bán xe, bên bán là Hà Thị N (Kết quả giám định: giấy bán xe trên do Chi giả mạo chị N viết); 01 Hợp đồng đặt cọc mua xe giữa anh Nguyễn Trung H2 và Kiều Đức V (bản chính); 01 giấy biên nhận đăng ký thế chấp (phô tô), 01 đăng ký xe (phô tô).
Ngày 18/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y có Yêu cầu định giá tài sản số 542 yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y định giá đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Raize, BKS: 30K - 014.67. Tại Kết luận định giá tài sản số: 07/KL-HĐĐGTS ngày 22/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y kết luận trị giá chiếc xe trên là 400.000.000 đồng, thời điểm định giá là năm 2023.
Ngày 28/3/2024, anh Kiều Đức V giao nộp 01 USB trong đó chứa video thể hiện việc Trần Thị Kim C giả danh chị Hà Thị N viết giấy bán xe ô tô Toyota Raize màu trắng đen, BKS: 30K - 014.67 cho anh V.
Ngày 17/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y có Quyết định số: 514 trưng cầu V3 Bộ C5 giám định tài liệu đối với 01 đĩa DVD lưu giữ 01 video do anh Kiều Đức V, SN: 1988 trú tại thị trấn P, huyện P, thành phố Hà Nội giao nộp. Tại Kết luận giám định số: 2921/KL-KTHS ngày 24/4/2024 của V3 Bộ C5 kết luận:
- - Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong tệp video mẫu cần giám định.
- - Nội dung hội thoại trong tệp video mẫu cần giám định đã được chuyển thành văn bản.
- - Đã sao lưu tệp video mẫu cần giám định ra đĩa DVD.
Đối với anh Kiều Đức V, khi mua xe ô tô BKS: 30K - 014.67 do C giả danh là Hà Thị N – người đứng tên đăng ký xe ô tô, nên anh V không biết chiếc xe trên là do C và Q thực hiện hành vi phạm tội mà có, nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh V.
Đối với Nguyễn Trung H2 là người mua lại chiếc xe ô tô BKS: 30K - 014.67 từ anh V, H2 không biết chiếc xe trên là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Ngày 02/5/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại 01 USB cho anh Kiều Đức V.
Quá trình điều tra xác định chiếc xe ô tô biển kiểm soát 30K-014.67 là tài sản hợp pháp của chị Hà Thị N (vợ anh Phạm Ngọc B) nên ngày 28/5/2024, Cơ quan điều tra đã trả xe cho chị N.
Quá trình điều tra anh Nguyễn Trung H2 yêu cầu anh Kiều Đức V phải trả cho anh H4 số tiền 179.000.000 đồng (là tiền anh H2 đã chuyển cho anh V để đặt cọc mua xe ô tô BKS: 30K – 014.67, nên cần buộc anh V phải trả anh H2 số tiền trên. Anh Kiều Đức V yêu cầu Trần Thị Kim C phải trả anh V số tiền 190.000.000 đồng nên cần buộc C phải trả anh V số tiền trên.
2. Hành vi chiếm đoạt xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Triton, BKS: 88C - 188.28 của anh Nguyễn Hữu K, SN: 1985 trú tại phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc:
Do có mối quan hệ quen biết với anh Nguyễn Trung K1, SN: 1996 trú tại xã Đ, huyện L, nên Phạm Xuân Q biết anh K1 kinh doanh mua bán xe ô tô cũ đồng thời có tiền cho vay nên ngày 30/8/2023, Q gọi điện hỏi vay anh K1 số tiền 120 triệu đồng, Q sẽ để lại xe ô tô để bảo đảm việc trả nợ, anh K1 đồng ý và bảo Q đem xe lên nhà để anh K1 xem xe. Sau đó anh K1 gọi điện bảo anh Nguyễn Trung H3, SN: 1990 trú tại xã Đ, huyện L là anh K1 có ông anh đang cần 120 triệu, anh H3 có tiền cho vay thì họ để lại xe ô tô, anh H3 bảo tài khoản của anh H3 chỉ còn 117.000.000đ, hiện anh H3 không có ở nhà, có gì thì anh K1 cứ làm việc rồi anh H3 chuyển tiền. Sau đó anh H3 chuyển khoản số tiền 117.000.000₫ cho anh K1.
Đến khoảng 16h00' cùng ngày, Q điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Avanza màu trắng (Hiện Q đang bỏ trốn và anh K1 không nhớ BKS của chiếc xe này nên chưa xác định được BKS của xe) đến gặp anh K1. Hai bên thỏa thuận Q vay số tiền 120.000.000đ, thời hạn là 01 tháng. Anh K1 bảo với Q là anh K1 không có tiền nhưng do anh em quen biết nên anh K1 đi hỏi chỗ khác vay giúp Q được 117.000.000đ, tiền lãi không tính nhưng lúc lấy xe thì Q gửi cho họ ít tiền phí và Q phải viết giấy bán xe để bảo đảm việc Q sẽ trả tiền, thì Q đồng ý. Sau đó, anh K1 đưa 01 giấy bán xe được đánh máy sẵn cho Q viết các thông tin cá nhân của Q và thông tin của xe ô tô Toyota Avanza rồi đưa lại cho anh K1 cùng giấy tờ xe, gồm: 01 bản phô tô công chứng đăng ký xe, 01 giấy đăng kiểm xe. Sau khi kiểm tra, anh K1 thấy đăng ký xe không đứng tên Q nên anh K1 hỏi xe có phải của Q không thì Q bảo xe này Q mua lại nhưng chưa sang tên. Anh K1 tin tưởng Q nói thật nên đã đưa 117.000.000đ tiền mặt cho Q, còn Q để lại xe cho anh K1. Ngày hôm sau, anh K1 đưa xe ô tô Toyota Avanza cho anh H3 quản lý, sử dụng.
Đến ngày 10/9/2023 tại nhà hàng D Không Sắc của vợ chồng Q ở thị trấn Y, huyện Y, Q đã ký hợp đồng thuê xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Triton, BKS: 88C - 188.28 của anh Nguyễn Hữu K, thời hạn thuê là 02 tháng kể từ ngày 10/9/2023 đến ngày 10/11/2023, giá thuê xe là 17.000.000đ/01 tháng. Cùng ngày, Q đã chuyển 34.000.000 đồng từ tài khoản 107697899999 Ngân hàng V2 đến tài khoản 42510000463548 Ngân hàng B3 của anh Nguyễn Hữu K để trả tiền thuê xe trong hai tháng. Sau đó, anh K giao xe ô tô trên cùng 01 giấy đăng kiểm, 01 giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Thu H5 (bản phô tô).
Đến khoảng giữa tháng 9/2023, Q gọi điện cho anh K1 bảo Q lên chuộc xe thì anh K1 gửi số điện thoại của anh H3 cho Q. Sau đó Q điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Triton, BKS: 88C - 188.28 về nhà hàng D Không Sắc gặp Trần Thị Kim C (vợ Q) bảo C đi cùng Q lên Lập T2 để đánh cho Q cái xe về để Q trả cho người ta, (C hiểu ý Q muốn bảo C đi cùng để chuộc xe về vì C biết trước đây Q có cầm cố 01 chiếc xe ô tô ở Lập T để vay tiền) nên C đồng ý. Sau đó, Q điều khiển xe ô tô BKS: 88C - 188.28 chở C đến nhà anh H3. Đến khoảng hơn 16h00' cùng ngày thì C và Q đến nhà anh H3. Tại nhà anh H3 thì có Q, C, anh H3 và anh K1. Q nói với anh H3 là cho Q lấy chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Avanza về nhưng Q chưa có tiền trả cho anh H3, thì anh H3 bảo với Q là nếu muốn lấy lại xe ô tô Toyota Avanza thì Q phải cầm cố tài sản gì khác cho anh H3. Q bảo với anh H3 là Q sẽ để lại chiếc xe ô tô Mitsubishi Triton, BKS: 88C - 188.28 cho anh H3 và lấy chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Avanza về. Anh H3 yêu cầu Trần Thị Kim C (vợ Q) phải viết giấy cầm cố xe BKS: 88C - 188.28 thì anh H3 mới đồng ý cho Q đem xe Toyota Avanza về thì C đồng ý. Sau đó anh H3 bảo C viết giấy với nội dung là cầm cố xe ô tô BKS: 88C – 188.28 vay số tiền 140.000.000 đồng thì C hỏi Q có đúng là 140.000.000 đồng không thì Q bảo chỉ cầm 117.000.000 đồng, C hỏi anh H3 tại sao Q vay có 117 triệu mà anh H3 lại bắt viết giấy vay tiền là 140 triệu, thì anh H3 bảo tiền này là cả tiền lãi thì Q bảo với C là thôi cứ viết đi.
Mặc dù C biết xe này do Q thuê và tại thời điểm đó cũng như sau này Q sẽ không có tài sản gì và cũng không có tiền để chuộc chiếc xe ô tô BKS: 88C – 188.28 về trả cho chủ xe, tuy nhiên C vẫn đồng ý viết giấy cầm cố xe giúp Q). Sau khi viết xong thì C đưa giấy cho anh H3 giữ, còn Q giao xe ô tô BKS: 88C – 188.28 cùng 01 giấy phô tô đăng ký xe mang tên Nguyễn Thu H5, SN: 1982 trú tại phường L, thành phố V; 01 giấy đăng kiểm xe; 01 giấy đi đường cho anh H3. Thấy đăng ký xe không đứng tên Q, anh H3 hỏi xe của ai thì Q bảo xe Q mua nhưng chưa sang tên, anh H3 tin là thật nên không hỏi gì thêm. Anh H3 giao cho Q xe Toyota Avanza. Sau đó Q điều khiển xe Toyota Avanza chở C về quán D1 không sắc rồi Q đi trả xe cho ai thì C không biết.
Đến ngày 09/11/2023, C thấy số tiền 70.000.000 đồng được chuyển vào tài khoản 0977352886 thuộc ngân hàng MB của C, sau đó Q gọi điện bảo C đàm phán với anh H3 trả trước số tiền 70.000.000đ để lấy xe ô tô Mitsubishi Triton BKS: 88C - 188.28 về, số tiền còn lại thì xin anh H3 trả dần. Sau đó C đã gặp và xin anh H3 cho C lấy xe về, Chi trả trước số tiền 70.000.000đ, số tiền 70.000.000đ còn lại thì C xin trả dần, nhưng anh H3 không đồng ý trả xe mà chỉ đồng ý trả cho C giấy tờ liên quan đến xe và giấy cầm cố xe mà C đã viết, khi nào Chi trả hết tiền thì anh H3 mới trả xe. Sau đó C chuyển số tiền 70.000.000₫ vào số tài khoản 2205199088888 thuộc ngân hàng M của anh H3. Sau khi nhận được tiền, anh H3 trả cho C giấy cầm cố xe mà C đã viết cùng 01 bản phô tô đăng ký xe mang tên Nguyễn Thu H5; 01 giấy đăng kiểm xe; 01 giấy đi đường của xe ô tô Mitsubishi Triton, BKS: 88C - 188.28. Sau khi về đến nhà hàng D Không Sắc C1 đã đưa lại cho Q số giấy tờ trên.
Đối với xe ô tô Mitsubishi Triton, BKS: 88C - 188.28, sau đó anh H3 đã cho anh Nguyễn Mạnh C2, SN: 1995 trú tại xã Đ, huyện L mượn, rồi anh C2 lại cho anh Nguyễn Văn C3, SN: 1991 trú tại xã Đ, huyện L mượn rồi anh C3 lại cho anh Nguyễn Văn T3, SN: 1991 trú tại xã Đ, huyện L mượn làm phương tiện đi lại. Quá thời hạn thuê xe nhưng không thấy Q trả xe cũng như trả tiền thuê xe, anh K nhiều lần gọi điện nhưng không liên lạc được với Q, đến chiều ngày 26/01/2024, anh K phát hiện xe ô tô Mitsubishi Triton, BKS: 88C - 188.28 đang di chuyển trên quốc lộ B đoạn ngã tư thuộc xã T, huyện B, anh K đuổi theo đến nhà trọ của anh T3 ở phường K, thành phố V. Sau đó anh K và anh T3 đem xe đến Công an huyện Y đề nghị giải quyết.
Ngày 30/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y có Yêu cầu định giá tài sản số: 238 yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y định giá đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Triton màu xám bạc, BKS: 88A - 188.28. Tại Kết luận định giá tài sản số: 05/KL-HĐĐGTS ngày 06/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: Xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Triton màu xám bạc, BKS: 88A - 188.28 trị giá 470.000.000đ, thời điểm định giá là tháng 02/2024.
Đối với xe ô tô BKS: 88A - 188.28 đăng ký mang tên Nguyễn Thu H5, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên do anh Nguyễn Hữu K mua sau đó nhờ chị Nguyễn Thu H5 đứng tên đăng ký xe. Do vậy, ngày 28/9/2024 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã trả chiếc xe trên cho anh K, sau khi nhận lại tài sản anh K không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự.
Đối với anh Nguyễn Trung H3: khi nhận cầm cố xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Triton màu xám bạc, BKS: 88A - 188.28 từ Q, Q nói là xe Q mua nhưng chưa sang tên, anh H3 không biết là tài sản do Q phạm tội mà có nên hành vi của anh H3 không cấu thành tội Tiêu thụ hay chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có do vậy cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh H3.
Anh Nguyễn Trung H3 đã đưa Phạm Xuân Q vay số tiền 117.000.000 đồng, Phạm Xuân Q và Trần Thị Kim C đã trả cho anh H3 số tiền 70.000.000 đồng, do vậy cần buộc Trần Thị Kim Chi T4 cho anh H3 số tiền 47.000.000 đồng.
Ngày 12/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y tạm giữ 01 hộ chiếu mang tên Trần Thị Kim C do Cục Q2 cấp ngày 02/10/2023. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của Trần Thị Kim C nên cần trả lại cho C.
Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã khởi tố bị can và ra lệnh bắt tạm giam đối với Phạm Xuân Q về hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Do Q bỏ trốn khỏi địa phương nên chưa bắt được Q, hết thời hạn điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã tách ra để tiếp tục điều tra đối với Q khi nào bắt được Q sẽ xử lý sau.
Ngoài hành vi nêu trên, quá trình điều tra còn xác định:
- - Phạm Xuân Q đã thuê xe Fortuner, BKS: 30A - 270.19 của anh Nguyễn Tiến C4, sinh năm 1981 trú tại phường X, quận T, thành phố Hà Nội, sau đó Q đã cầm cố chiếc xe trên cho anh Trần Anh T5, sinh năm 1995 trú tại Phường B, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên để vay 220.000.000 đồng. Trong vụ việc này, Q bảo C chuyển tiền cọc xe 4.000.000 đồng và tiền thuê xe 8.000.000 đồng cho anh C4;
- - Phạm Xuân Q còn thuê của anh Nguyễn Văn Q1, sinh năm 1991 trú tại xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên xe ô tô nhãn hiệu Nissan Sunny, BKS: 30H.673.79, sau đó Q bán chiếc xe trên cho anh Lê Tất T6, sinh năm 1986 trú tại xã S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang với giá 180.000.000 đồng. Trong vụ việc này, khi Q1 giao xe cho Q thì Q không có nhà nên Q bảo Trần Thị Kim C ký vào bên thuê xe trong hợp đồng và bảo C chuyển số tiền 10.000.000 đồng cho Q1. Sau đó C nhận xe cùng giấy tờ rồi giao lại cho Q; Trần Thị Kim C trực tiếp ký hợp đồng thuê xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Xpander, BKS: 30F - 808.50 của anh Trần Văn K2 để làm phương tiện đi lại, khoảng 2, 3 ngày sau thì C giao chiếc xe này cho Phạm Xuân Q sử dụng. Đến nay chiếc xe này đang ở đâu thì C không biết;
- - Phạm Xuân Q còn thuê xe ô tô Huyndai Accent, BKS: 88A-366.02 của anh Dương Văn B1, sinh năm 1993 trú tại xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, sau đó Q bảo C chuyển tiền thuê xe cho anh B1. Đến nay chiếc xe này đang ở đâu thì C không biết.
Đối với hành vi của Trần Thị Kim C trong các vụ việc nêu trên, C khai đều làm theo lời Q, C không biết sau này Q đã bán những chiếc xe trên hoặc sử dụng như thế nào, Q cũng không nói gì với C, đến nay chưa lấy được lời khai của Q nên không đủ căn cứ để xử lý Chi trong vụ án này, khi nào bắt được Q, nếu làm rõ sẽ xử lý sau.
Tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKS-P1 ngày 05 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Trần Thị Kim C về tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Trần Thị Kim C phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" áp dụng khoản 4 Điều 175, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 12 năm 6 tháng đến 13 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 14/5/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 584, 585, 586 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự.
- - Buộc bị cáo Trần Thị Kim Chi T4 cho anh Kiều Đức V số tiền 190.000.000 đồng.
- - Buộc bị cáo Trần Thị Kim Chi T4 cho anh Nguyễn Trung H3 số tiền 47.000.000 đồng.
- - Buộc anh Kiều Đức V trả cho anh Nguyễn Trung H2 số tiền 179.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng
- Về xử lý vật chứng: Trả cho bị cáo 01 hộ chiếu mang tên Trần Thị Kim C số P02671322.
Toàn bộ vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng do Cục thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc lập ngày 19 tháng 12 năm 2024.
Ý kiến của người tham gia tố tụng: Không.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp của gia đình bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Trần Thị Kim C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, vật chứng vụ án và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó có đủ cơ sở để kết luận:
Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2023 đến tháng 9/2023, Trần Thị Kim C đã hai lần giúp sức cho chồng là Phạm Xuân Q thực hiện hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 870.000.000 đồng, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Ngày 29/4/2023, Phạm Xuân Q thuê xe ô tô nhãn hiệu Toyota Raize, BKS: 30K - 014.67 của anh Phạm Ngọc B, mục đích làm phương tiện đi lại. Đến ngày 17/5/2024, Trần Thị Kim C và Phạm Xuân Q thống nhất C giả danh chủ sở hữu xe là chị Hà Thị N (người đứng tên đăng ký xe) để bán xe cho anh Kiều Đức V với giá 200.000.000đ. Sau khi có được số tiền trên Q sử dụng chi tiêu cá nhân hết, dẫn đến không có khả năng để chuộc lại xe trả cho anh B. Kết luận định giá trị giá chiếc xe trên là 400.000.000 đồng.
Lần thứ hai: Vào khoảng giữa tháng 9/2023, Trần Thị Kim C đã viết giấy cầm cố xe ô tô nhãn hiệu Mitsubishi Triton, BKS: 88C - 188.28 (chiếc xe này Q thuê của anh Nguyễn Hữu K để làm phương tiện đi lại) cho anh Nguyễn Trung H3 để lấy lại chiếc xe Toyota Avanza mà Q đã cầm cố thời gian trước đó để vay anh H3 số tiền 117.000.000 đồng. Số tiền vay Q đã sử dụng chi tiêu hết, dẫn đến không có tiền để chuộc xe về trả lại cho anh K. Kết luận định giá tài sản xác định trị giá chiếc xe trên là 470.000.000 đồng.
Hành vi sử dụng tài sản thuê được (xe ô tô) để bán và cầm cố (sử dụng vào mục đích bất hợp pháp) dẫn đến không có khả năng để trả lại tài sản (xe ô tô) với giá trị tài sản là 870.000.000 đồng của Trần Thị Kim C đã phạm vào tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 4 điều 175 BLHS năm 2015.
Nội dung điều luật quy định:
“4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000đ trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm”
[3] Xét tính chất, mức độ và hành vi phạm tội: Trong vụ án này bị cáo Trần Thị Kim C là đồng phạm có vai trò là người giúp sức cho Phạm Xuân Q thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của các bị hại. Ngoài 2 hành vi nêu trên, bị cáo Trần Thị Kim C cùng với Phạm Xuân Q thực hiện 03 lần thuê xe của anh Nguyễn Tiến C4, anh Nguyễn Văn Q1 và anh Nguyễn Văn B2 nhưng bị cáo C khai đều làm theo lời Q, C không biết sau này Q đã bán những chiếc xe trên hoặc sử dụng như thế nào, Q cũng không nói gì với C, đến nay chưa lấy được lời khai của Q nên không đủ căn cứ để xử lý Chi trong vụ án này, khi nào bắt được Q, sẽ làm rõ sẽ xử lý sau.
Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự ham muốn kiếm tiền bất chính, liều lĩnh, coi thường pháp luật, gây phẫn nộ, bất an trong nhân dân, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3.1] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo C chỉ được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
[3.2.] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo 2 lần thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015.
Căn cứ tính chất, mức độ, vai trò cũng như nhân thân, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo xét thấy bị cáo tuổi đời còn trẻ, nhất thời phạm tội do có sự lôi kéo, xúi giục của chồng, 02 xe ô tô đã thu hồi trả cho chủ sở hữu do vậy cần xử phạt bị cáo với mức án khởi điểm của khung hình phạt là 12 năm tù cũng đủ để răn đe, phòng ngừa và giáo dục chung đối với bị cáo, tạo điều kiện giúp bị cáo yên tâm cải tạo để sớm trờ về hoà nhập xã hội, nuôi dạy các con nhỏ và trở thành công dân tốt.
[4] Về xử lý vật chứng: Trả cho bị cáo 01 hộ chiếu mang tên Trần Thị Kim C số P02671322.
Toàn bộ vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng do Cục thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc lập ngày 19 tháng 12 năm 2024.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
- Anh Nguyễn Trung H2 yêu cầu anh Kiều Đức V phải trả cho anh H2 số tiền 179.000.000 đồng (là tiền H2 đã chuyển cho V để đặt cọc mua xe oto BKS: 30K - 014.67, nên cần buộc anh V phải trả cho anh H2 số tiền trên.
- Anh Kiều Đức V yêu cầu bị cáo Trần Thị Kim C phải trả cho anh V số tiền 190.000.000 đồng là tiền anh V mua xe nên cần buộc C phải trả anh V số tiền trên.
- Anh Nguyễn Trung H3 đã đưa Phạm Xuân Q vay số tiền 117.000.000 đồng, Phạm Xuân Q và Trần Thị Kim C đã trả cho anh H3 số tiền 70.000.000 đồng, do vậy cần buộc Trần Thị Kim Chi T4 cho anh H3 số tiền 47.000.000 đồng.
[6] Về án phí: Bị cáo Trần Thị Kim C phải chịu án phí hình sự, dân sự theo quy định của pháp luật. Cụ thể: Bị cáo C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 11.850.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Tại phiên toà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị về tội danh, hình phạt và trách nhiệm dân sự đối với bị cáo là phù hợp, cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Thị Kim C phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản "
Căn cứ điểm khoản 4 điều 175; điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Trần Thị Kim C 12 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 14/5/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự: Trả cho bị cáo 01 hộ chiếu mang tên Trần Thị Kim C số P02671322.
Toàn bộ vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng do Cục thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc lập ngày 19 tháng 12 năm 2024.
- Về trách nhiệm dân sự:
- - Buộc bị cáo Trần Thị Kim C phải trả cho anh Kiều Đức V số tiền 190.000.000 đồng.
- - Buộc bị cáo Trần Thị Kim C phải trả cho anh Nguyễn Trung H3 số tiền 47.000.000 đồng.
- - Buộc anh Kiều Đức V phải trả cho anh Nguyễn Trung H2 số tiền 179.000.000 đồng.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Buộc bị cáo Trần Thị Kim C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 11.850.000 (mười một triệu tám trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Anh Kiều Đức V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 8.950.000 đồng.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thúy Mai |
Bản án số 12/2025/HSST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 12/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo 12 năm tù
