|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: /2025/HS-PT Ngày: 25 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Được.
Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Thu Hằng.
Ông Cao Thiện Vinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Điệp Tú Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 119/2024/TLPT-HS ngày 19 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Phan Thị Ngọc H do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 58/2024/HSST ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
Bị cáo có kháng cáo: Phan Thị Ngọc H, sinh năm 1986 tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; Nghề nghiệp: Giáo viên; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Ngọc T và bà Ngô Thị L; có chồng tên Phùng Viên M, sinh năm 1986 (đã ly hôn); có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 213/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt bị cáo Phan Thị Ngọc H 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án chưa có hiệu lực pháp luật).
Bị cáo hiện đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú, vắng mặt tại phiên tòa.
Người giám hộ cho bị cáo: Ông Phan Ngọc T, sinh năm 1962 (Là cha ruột của bị cáo), vắng mặt.
Nơi cư trú: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Luật sư bào chữa cho bị cáo: Ông Hứa Thanh K-Luật sư Văn Phòng L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh N. Địa chỉ: Số A đường H, Khu phố E, Phường P, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận. Có mặt.
Ngoài ra, vụ án còn có bị hại không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị (không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 8 giờ ngày 27/3/2024, Phan Thị Ngọc H đi bộ từ nhà mình đến nhà bà nội là Đào Thị Kim L1 ở cùng thôn H, xã P, huyện N. Đến khoảng 9 giờ cùng ngày, khi thấy bà L1 đi vào bếp nấu ăn thì H nảy sinh ý định tìm tài sản trong nhà đề trộm cắp. H đi vào phòng ngủ bà L1, thấy có 01 chiếc tủ gỗ đặt cạnh giường ngủ, cửa tủ chỉ khép không khóa nên H đến mở cánh cửa tủ bên phải ra thì phát hiện có 01 túi vải lớn, H mở túi vải ra thì thấy bên trong có quần áo và 01 túi xách đan len màu xanh. H lấy chiếc túi xách này rồi nhanh chóng đi về nhà. H mở chiếc túi xách vừa trộm được ra thấy bên trong có 44.000.000 đồng tiền mặt và các trang sức gồm 01 dây chuyển vàng, 01 đôi bông tai vàng, 01 lắc tay vàng, 01 vòng tay vàng, 01 túi nhựa nilon bên trong có 06 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, 03 thẻ tiết kiệm và một số giấy tờ tùy thân: Căn cước công dân, thẻ hưu trí, thẻ hội viên, thẻ bảo hiểm y tế đều mang tên Đào Thị Kim L1 cùng một số giấy tờ khác. Sau đó, H mang số tiền mặt vừa trộm được cất vào trong ví của mình. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, H điều khiển xe mô tô 85B1-236.97 mang theo số vàng trộm được đến Tiệm V ở khu phố D, phường B, thành phố P - T bán được 73.000.000đồng.
Toàn bộ số tiền mặt trộm được cùng số tiền bán vàng, H đã dùng trả nợ cá nhân hết. Đối với số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thẻ tiết kiệm, giấy tờ tùy thân và một số giấy tờ khác của bà L1 thì H đã bỏ vào trong một túi nilon màu đen rồi đem cất giấu tại góc tường phía sau tủ gỗ trong phòng ngủ của ông Phan Ngọc T (cha ruột H). Riêng chiếc túi xách màu xanh H đã đem vứt xuống mương nước trước nhà.
Đến ngày 28/3/2024, bà Đào Thị Kim L1 kiểm tra phát hiện bị mất tài sản nên đã trình báo sự việc với Công an xã P. Qua kiểm tra, xác minh Công an xã P mời Phan Thị Ngọc H đến làm việc và H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và giao nộp giấy tờ H đang cất giấu.
Tại Kết luận định giá tài sản số 35/KLĐGTS-HĐĐG ngày 10/5/2024, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc Ủy ban Nhân dân huyện N kết luận: 01 dây chuyền vàng, loại vàng 9999, có mặt hình con rồng, trọng lượng 06 chỉ trị giá 40.920.000 đồng; 01 lắc tay vàng, loại vàng 9999, trọng lượng 05 chỉ trị giá 34.100.000 đồng; 01 đôi bông tai vàng, loại vàng 9999, trọng lượng 1,5 chỉ trị giá 10.230.000 đồng; 01 vòng tay vàng, loại vàng 9999, có gắn đá màu xanh, trọng lượng 0,75 chỉ trị giá 5.115.000 đồng; 01 mặt dây chuyền vàng, loại vàng 9999, trọng lượng 0,75 chỉ trị giá 5.115.000 đồng. Tổng giá trị các tài sản định giả là 95.480.000 đồng. Tổng giá trị tài sản gồm vàng và tiền mặt đã chiếm đoạt là 139.480.000 đồng (44.000.000 đồng tiền mặt + 95.480.000 đồng vàng theo định giá).
Ngoài hành vi nêu trên, ngày 31/3/2024, Phan Thị Ngọc H còn có hành vi trộm cấp tại địa bàn Tp . - T. Sau đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T1 - T ra Quyết định trưng cầu giám định tình trạng tâm thần đối với H. Kết luận giảm định pháp y tâm thần số 5033/KLGĐ ngày 19/7/2024, Trung tâm P kết luận:
- + Về y học: Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 31/3/2024 cho đến hiện tại, đối tượng Phan Thị Ngọc H có Rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm (F41.2-ICD10);
- + Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Trước, trong và sau khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 31/3/2024, đối tượng Phan Thị Ngọc H hạn chế khả năng nhận thức và điều khiến hành vi.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 58/2024/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận quyết định:
Căn cứ: điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, q, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Phan Thị Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Phan Thị Ngọc H 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Bản án sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 22/11/2024, bị cáo Phan Thị Ngọc H kháng cáo xin được hưởng án treo.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận:
- - Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Phan Thị Ngọc H là đúng chủ thể và đảm bảo thời hạn theo quy định của pháp luật nên được xem xét.
- - Về nội dung: Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo H mức án 10 tháng tù là đã xem xét giảm nhẹ cho bị cáo. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo H không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng bị cáo vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa và không trình bày bào chữa cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Bị cáo Phan Thị Ngọc H kháng cáo đúng quy định tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Tòa án đã mở phiên tòa vào ngày 18/2/2025 nhưng bị cáo Phan Thị Ngọc H và ông Phan Ngọc T người giám hộ cho bị cáo đều vắng mặt không có lý do nên phải hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa được mở lại ngày hôm nay bị cáo Phan Thị Ngọc H và ông Phan Ngọc T tiếp tục vắng mặt không lý do mặc dù đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Căn cứ vào điểm b,c khoản 1 Điều 351 Bộ luật tố tụng hình sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị cáo và người giám hộ cho bị cáo.
[3] Tại phiên tòa phúc thẩm, xác định bị cáo Phan Thị Ngọc H đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: Do cần tiền để trả nợ nên vào khoảng 09 giờ ngày 27/3/2024, Phan Thị Ngọc H đã có hành vi lén lút lấy trộm tài sản của bà Đào Thị Kim L1 ở thôn H, xã P, huyện N, gồm 44.000.000 đồng tiền mặt và nhiều trang sức bằng vàng có tổng trị giá 95.480.000 đồng. Tổng trị giá tài sản mà Phan Thị Ngọc H chiếm đoạt là 139.480.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Xét đơn kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo Phan Thị Ngọc H, thì thấy:
[4.1] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Gia đình bị cáo và bị hại đã tự thỏa thuận bồi thường thiệt hại dân sự; Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi; Bị cáo được tặng nhiều giấy khen trong quá trình công tác. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, q, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đồng thời áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án 10 (Mười) tháng tù là đã xem xét giảm nhẹ, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
[4.2] Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo, nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ mới. Bị cáo là người có nhân thân xấu: Ngoài hành vi trộm cắp tài sản đang bị xét xử tại vụ án này, bị cáo còn bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – T xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 213/2024/HS-ST ngày 30/9/2024. Vì vậy, bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.
[4.3] Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt của Bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận.
[5] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Phan Thị Ngọc H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Thị Ngọc H; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 58/2024/HSST ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
- - Căn cứ vào: Điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, q, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Phan Thị Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Phan Thị Ngọc H 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- - Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phan Thị Ngọc H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
- - Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 25/02/2025)./.
| HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Văn Được |
Bản án số /2025/HS-PT ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN về vụ án hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: /2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Thị Ngọc H phạm tội "Trộm cắp tài sản."
