|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2025/HSPT-NCTN
Ngày: 26/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
– Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Lê Thị Vân |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Văn Thanh |
| Ông Hoàng Rung K'Nhơn |
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phương Thu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu – Kiểm sát viên dự khuyết.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 10/2025/TLPT-HS ngày 13/02/2025 đối với bị cáo Phạm Văn Đ và đồng phạm. Do có kháng cáo của bị cáo Phạm Văn Đ, bị cáo Nguyễn Trọng H, bị hại bà Đinh Thị N; bà Nguyễn Thị P đối với bản án hình sự sơ thẩm số 293/2024/HS-ST ngày 18/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt.
Bị cáo:
1. Họ và tên: Phạm Văn Đ, sinh ngày: 10/12/2006 (17 tuổi 2 tháng 19 ngày) tại: Thanh Hóa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã L, huyện N, Tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Tổ D, Đ, Phường A, Thành phố Đ, Tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Không; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Phạm Văn T, sinh năm 1983 và bà: Lê Thị T1, sinh năm 1988; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại Phường A, thành phố Đ, Tỉnh Lâm Đồng. (có mặt)
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Đ: Ông Phạm Văn T, sinh năm: 1983; địa chỉ: Tổ D, Đ, Phường A, Thành phố Đ, Tỉnh Lâm Đồng, là bố ruột của bị cáo Đ. (có mặt)
- Người bào chữa cho bị cáo Phan Văn Đ1: Bà Lê Thanh L, sinh năm: 1989, là Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L. (có mặt)
2. Họ và tên: Nguyễn Trọng H, sinh năm: 1992, tại: Nghệ An; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm P, xã N, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Số E N, Phường G, Thành phố Đ, Tỉnh Lâm Đồng; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Công nhân; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn Trọng L1, sinh năm: 1948 và bà: Hoàng Thị T2, sinh năm: 1948; vợ: Nguyễn Thị K, sinh năm: 1993; có 04 con, lớn nhất sinh năm: 2012, nhỏ nhất sinh năm: 2020; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại Phường G, thành phố Đ, Tỉnh Lâm Đồng. (có mặt)
Bị hại:
1. Chị Đinh Thị N, sinh năm: 1985; địa chỉ: Hẻm A T, Phường G, Thành phố Đ, Tỉnh Lâm Đồng. (có mặt)
2. Chị Nguyễn Thị P, sinh năm: 1989; địa chỉ: Hẻm A T, Phường G, Thành phố Đ, Tỉnh Lâm Đồng. (có mặt)
Do có kháng cáo của bị cáo Phạm Văn Đ, bị cáo Nguyễn Trọng H, bị hại bà Đinh Thị N; bà Nguyễn Thị P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài, nên Phan Trọng K1 đã rủ Phạm Văn Đ (sinh ngày 10/12/2006), Nguyễn Thượng L2 (sinh ngày 23/4/2008) đi trộm xe mô tô bán lấy tiền thì Đ và L2 đồng ý. Trước đó, khoảng đầu năm 2024, Phan Trọng K1 có quen biết với Nguyễn Trọng H, H biết được việc K1 có nhiều xe máy không giấy tờ, do có nhu cầu mua xe máy giá rẻ để làm phương tiện đi lại nên H hỏi K1 để mua xe. Sau đó, H có đưa K1 trước số tiền 1.800.000 đồng, khi nào có xe thì để cho H. Ngày 26/02/2024 và ngày 02/03/2024, K1 đến phòng trọ của H tại E N, Phường G, Tp . để nhờ làm vam phá khóa. Sau đó vào ngày 29/02/2024 và ngày 03/3/2024, K1 cùng Đ và L2 đã thực hiện những lần trộm cắp như sau:
Lần 1: Khoảng 02 giờ 00 ngày 29/02/2024, K1 mượn xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, gắn BKS 49E1-011.98 của Đ, chở L2 đi tìm tài sản để trộm cắp. Khi đến trước căn nhà trong hẻm D N, Phường I, TP Đ thì phát hiện 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ đen mang BKS 64E1 - 622.92 của chị Đinh Thị H1 để trước phòng trọ, không có người trông coi. K1 nói L2 đi vào dắt xe ra ngoài, rồi dùng vam phá ổ khóa nhưng không được nên K1 ngồi lên xe E còn L2 đi xe Sirius đẩy phía sau đưa xe Exciter về phòng trọ của K1 tại số B T, Phường H, Thành phố Đ cất giấu. Sau đó, K1 và L2 sử dụng bình sơn màu đen xịt vào các vị trí màu đỏ của chiếc xe Exciter, tháo biển số 64E1 - 622.92 và thay biển số 49B1 - 572.96 vào xe để tránh bị Cơ quan Công an phát hiện (BL 166-170, 175-182, 250-252, 255-257).
Lần 2: Khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 03/03/2024, K1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen đã gắn BKS 49B1-572.96 chở L2 và Đ đến khu vực T, Phường G, thành phố Đ tìm tài sản để trộm cắp. Khi đến địa chỉ A T, phường G, thánh phố, Đ thì phát hiện xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ mang BKS 49B1-442.77 của chị Đinh Thị N và xe mô tô mang nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, không rõ biển số của chị Nguyễn Thị P để gần nhau trước cửa phòng trọ, không ai trông coi. Lúc này, K1 nói Đ đứng ngoài cảnh giới rồi K1 cùng L2 đi vào khu vực phòng trọ, tại đây K1 dùng vam phá khóa mang theo bẻ khóa xe mô tô mang nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ mang BKS 49B1-442.77 của chị N rồi nói L2 dắt đi (BL 166-170, 175-182, 193-195, 198-203, 250-252, 255-257)
Lần 3: Đến khoảng 03 giờ 45 phút, ngày 03/3/2024, sau khi trộm xe mô tô của chị N, K1 nói Đ ở lại trông xe, còn K1 và L2 tiếp tục quay lại hẻm A T, Phường G, Tp . để trộm cắp tài sản. Tại đây, K1 dùng vam phá ổ khóa lấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, không rõ biển số của chị Nguyễn Thị P rồi dắt xe tẩu thoát. Sau khi lấy trộm các xe mô tô trên, K1 nói L2 điều khiển chiếc Sirius, mang BKS 49B1-442.77; Đ điều khiển chiếc Sirius màu đen, không rõ biển số; còn K1 điều khiển xe Exciter, màu đen gắn BKS 49B1-572.96 đến phòng trọ của Nguyễn Trọng H tại E N, Phường G, Tp . cất giấu. Sau đó, K1 thay BKS 49N4-2550 vào xe Yamaha Sirius, màu đỏ mang BKS 49B1-442.77 và thay BKS 47K1-376.76 vào xe Yamaha Sirius, màu đen, không rõ biển số, để tránh bị cơ quan Công an phát hiện (BL 166-170, 175-182, 193-195, 198-203, 250-252, 255-257).
Lần 4: Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 03/03/2024, K1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đen, gắn BKS số 49B1-572.96 chở L2 đến khu vực đường T, Phường H, thành phố Đ để tìm tài sản trộm cắp. Khi đến phòng trọ tại địa chỉ B T, Phường H, thành phố Đ thì phát hiện 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen mang BKS 85C1-229.61 của anh Võ Nguyễn Quốc V để trước cửa phòng trọ, không có người trông coi. Lúc này, K1 nói L2 vào kiểm tra thì thấy xe không khóa cổ nên K1 đi vào, dắt xe ra phía ngoài đường rồi dùng vam phá ổ khóa nhưng không nổ máy được nên K1 ngồi lên xe để L2 điều khiển xe Exciter đẩy phía sau đem về phòng trọ ở số B T, phường H, thành phố Đ cất giấu (BL 166-170, 175-182, 250-252, 255-257).
Đến khoảng 08 giờ sáng cùng ngày, K1 thay ổ khóa xe rồi chở L2 xuống khu vực Chợ Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng bán cho anh Thái Văn P1 với số tiền 3.000.000 đồng. K1 cho L2 500.000 đồng, số tiền còn lại K1 và L2 đã tiêu xài cá nhân hết.
Sau khi về Đ, K1 gọi điện cho Nguyễn Trọng H để bán xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ, gắn BKS 49N4-2550 và xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, gắn BKS 47K1-376.76 đang để tại dãy nhà trọ của H với số tiền 3.000.000 đồng. H đồng ý và đưa trước cho K1 số tiền 2.000.000 đồng, còn thiếu 1.000.000 đồng (BL 166 -170, 175-182, 223-234).
Đến sáng ngày 04/03/2024, K1 đem 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, gắn BKS 64E1 - 622.92, số máy: E3X9E627609, số khung: RLCUE3210KY268956 cho H để trừ số tiền nợ 1.800.000 đồng mà H đưa cho K1 trước đó để mua xe.
Đến ngày 05/3/2024, K1, L2, Đ đang ở phòng trọ tại địa chỉ B T, Phường H, TP ., tỉnh Lâm Đồng thì Cơ quan Công an đến kiểm tra và thu giữ toàn bộ tang vật.
Tang vật thu giữ:
- 01 (một) xe máy hiệu Yamaha Exciter, màu đen, số máy: 55P1142607, số khung: RLCE55P10CY142589
- 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ, gắn BKS số 49N4-2550, số máy: 5C6H161426, số khung: 6CH0FY161426;
- 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen, gắn BKS số 47K1-376.76, số máy: E32VE037741, số khung: RLCUE3740KY015389;
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen mang BKS: 85C1-229.61, số máy: 5C6K288410, số khung: RLCS5C6K0GY288408.
- 01 (một) BKS số 49B1 - 572.96;
- 01 (một) xe máy hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, không áo, gắn BKS số: 49E1-011.98, số máy: E3X9E585099, số khung: RLCUE3220JY120295.
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, gắn BKS số: 64E1-622.92, số máy: E3X9E627609, số khung: RLCUE3210KY268956;
- 01 (một) vam phá khóa bằng kim loại màu nâu, hình chữ L, mũi vam bị vặn méo, mũi vam dài 10cm, phần chuôi chữ L hình lục giác, dài 04cm;
- 01 (một) ống kim loại màu bạc, hình chữ L, dài 15cm và 03cm.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A91, màu xanh trắng, đã qua sử dụng.
Bị hại:
- Chị Đinh Thị H1, sinh năm: 1994, trú tại: Hẻm D N, phường I, Tp Đ bị chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ đen mang BKS 64E1-622.92, số máy: 55P1142607, số khung: RLCE55P10CY142589.
- Chị Đinh Thị N, sinh năm: 1985, trú tại: Hẻm A T, hường G, Tp Đ bị chiếm đoạt 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ mang BKS 49B1-442.77, số máy: 5C6H161426, số khung: 6CH0FY161426.
- Chị Nguyễn Thị P, sinh năm: 1989, trú tại: Hẻm A T, phường G, Tp Đ bị chiếm đoạt 01 xe mô tô mang nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, không rõ biển số, số máy: E32VE037741, số khung: RLCUE3740KY015389.
- Anh Võ Nguyễn Quốc V, sinh năm: 2005, trú tại: B T, phường H, Tp Đ bị chiếm đoạt 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen mang BKS 85C1-229.61, số máy: 5C6K288410, số khung: RLCS5C6K0GY288408.
Theo bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng Hình sự số: 52/KL-HĐĐG ngày 14/3/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Đ, kết luận:
- 01 (một) xe máy hiệu Yamaha Exciter, màu đen, không gắn biển số, số máy: 55P1142607, số khung: RLCE55P10CY142589 là: 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng).
- 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ, không gắn biển số, số máy: 5C6H161426, số khung: 6CH0FY161426 là: 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng).
- 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen, không gắn biển số, số máy: E32VE037741, số khung: RLCUE3740KY015389 là: 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm ngàn đồng).
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen mang BKS số: 85C1-229.61, số máy: 5C6K288410, số khung: RLCS5C6K0GY288408 là: 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng).
Tổng giá trị là: 35.500.000 đồng (ba mươi lăm triệu năm trăm ngàn đồng). (BL 36-40)
Ngày 29/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng số 3152/QĐ-ĐCSHS bằng hình thức trả lại:
- 01 (một) xe máy hiệu Yamaha Exciter, màu đen, không gắn biển số, số máy: 55P1142607, số khung: RLCE55P10CY142589; 01 (một) BKS số: 64E1-622.92; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 64 008542 mang tên Nguyễn Thanh B cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Đinh Thị H1. Chị H1 đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm (BL: 49-50, 273).
- 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ, không gắn biển số, số máy: 5C6H161426, số khung: 6CH0FY161426; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 010127 mang tên Hồ Mai P2 cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Đinh Thị N. Chị N đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm (BL: 48, 278).
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, không gắn biển số, số máy: E32VE037741, số khung: RLCUE3740KY015389 cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị P. Chị P đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm (BL: 47, 284).
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen mang BKS số: 85C1-229.61, số máy: 5C6K288410, số khung: RLCS5C6K0GY288408; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số: 85 009059 mang tên Nguyễn Thị Mỹ N1 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Võ Nguyễn Quốc V. Anh V đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì thêm. (BL: 46, 288).
Tại bản cáo trạng số 246/CT-VKSĐL-LĐ ngày 16/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố bị cáo Phan Trọng K1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Phạm Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Nguyễn Trọng H về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 293/2024/HS-ST ngày 18/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt đã xử:
Tuyên bố các bị cáo Phan Trọng K1 và Phạm Văn Đ phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trọng H phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
1. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; các điểm g, o khoản 1 Điều 52 và các Điều 38; 58 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phan Trọng K1 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt, tạm giam 05/3/2024
2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và các Điều 38; 58; 90; 91 và 101 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt, giam thi hành án.
3. Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt, giam thi hành án.
Ngoài ra, Tòa sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 20/12/2024, bị cáo Phạm Văn Đ kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xem xét cho bị cáo hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ.
Ngày 18/12/2024, bị cáo Nguyễn Trọng H kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xem xét cho bị cáo hưởng án treo.
Ngày 23/12/2024, bị hại Đinh Thị N, Nguyễn Thị P kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xem xét cho bị cáo Phạm Văn Đ hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị cáo Phạm Văn Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử. Bị cáo kháng cáo xin được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ. Bị cáo trình bày đã bồi thường cho bị hại bà Đinh Thị N, bà Nguyễn Thị P mỗi người một triệu đồng.
Bị cáo Nguyễn Trọng H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử. Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo. Bị cáo trình bày đã bồi thường cho bị hại bà Đinh Thị N, bà Nguyễn Thị P mỗi người một triệu đồng. Ngoài ra, bị cáo còn cung cấp Giấy xác nhận công tác của Công ty TNHH H2 về việc hoàn thành tốt công việc, là nhân viên xuất sắc.
Bị hại bà Đinh Thị N, Nguyễn Thị P xác nhận mỗi người nhận bồi thường từ bị cáo Đ một triệu đồng, bị cáo H một triệu đồng, số tiền bồi thường trên các bị hại dùng vào việc sửa chữa xe. Các bị hại xin giảm nhẹ cho các bị cáo. Bị hại bà Đinh Thị N, Nguyễn Thị P xin cho bị cáo Phạm Văn Đ hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ. Các bị hại có kháng cáo xin cho bị cáo Nguyễn Trọng H hưởng án treo nhưng kháng cáo quá hạn.
Người bào chữa cho bị cáo Phạm Văn Đ trình bày: Các bị hại đã nhận tiền bồi thường sử dụng để sửa chữa xe, bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số, bị cáo không được học hành, nhận thức kém. Trong vụ án, bị cáo chỉ có vai trò là người cảnh giới, bị cáo không được các bị cáo khác chia tiền sau khi thực hiện hành vi. Hiện nay, bị cáo đi làm thuê bị dao cắt sắt cắt tay, ảnh hưởng sức khỏe tinh thần, độ tuổi còn nhỏ. Đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc cho bị cáo được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ để có thể trở thành công dân tốt cho xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án; kháng cáo của bị cáo, bị hại trong hạn luật định và hợp lệ, được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Bị cáo, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và trình bày các bị cáo đã bồi thường cho bị hại. Tuy nhiên, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm tuyên là phù hợp với mức độ, tính chất, hành vi của các bị cáo. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo H nói lời nói sau cùng: Bị cáo suy nghĩ còn nông cạn, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng án treo để lo cho gia đình vì bị cáo hiện là lao động chính trong gia đình.
Bị cáo Đ nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo, bị hại nộp trong hạn luật định. Người kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Đối chiếu lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với biên bản xác định hiện trường, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án nên có căn cứ xác định:
Để có tiền tiêu xài, Phan Trọng K1 đã rủ Phạm Văn Đ (sinh ngày 10/12/2006), Nguyễn Thượng L2 (sinh ngày 23/4/2008) đi trộm xe mô tô bán lấy tiền thì Đ và L2 đồng ý. Trước đó, Phan Trọng K1 có quen biết với Nguyễn Trọng H, do có nhu cầu mua xe máy giá rẻ để làm phương tiện đi lại nên H hỏi K1 để mua xe. Sau đó, H có đưa K1 trước số tiền 1.800.000 đồng, khi nào có xe thì để cho H. Để thực hiện hành vi trộm cắp, ngày 26/02/2024 và ngày 02/03/2024, K1 đến phòng trọ của H tại E N, Phường G, Thành phố Đ Đ để nhờ làm vam phá khóa. Từ ngày 29/02/2024 đến ngày 03/3/2024, K1 cùng Đ và L2 đã thực hiện những lần trộm cắp như sau:
Vào ngày 29/02/2024, tại hẻm D N, Phường I, thành phố Đ, Phan Trọng K1 cùng Nguyễn Thượng L2 đã trộm cắp 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu đỏ đen mang BKS 64E1-622.92 của Đinh Thị H1, trị giá 13.000.000 đồng. Đến 03 giờ 30 phút ngày 03/3/2024, tại địa chỉ số A T, Phường G, Thành phố Đ, Phan Trọng K1 cùng Phạm Văn Đ, Nguyễn Thượng L2 trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ mang BKS 49B1-442.77, của chị Đinh Thị N, trị giá 7.000.000 đồng của chị Đinh Thị N. Khoảng 03 giờ 45 phút cùng ngày, K1 cùng Đ, L2 trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, không rõ biển số, số máy: E32VE037741, số khung: RLCUE3740KY015389, trị giá 3.500.000 đồng của chị Nguyễn Thị P. Đến 05 giờ 30 phút cùng ngày 03/3/2024, tại địa chỉ số B T, Phường H, Thành phố Đ, K1 và L2 tiếp tục trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen mang BKS 85C1-229.61, của anh Võ Nguyễn Quốc V, trị giá 12.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 35.500.000đ (ba mươi lăm triệu đồng).
Nguyễn Trọng H mặc dù biết rõ xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ mang BKS số: 49B1-442.77, số máy: 5C6H161426, số khung: 6CH0FY161426 và xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, không rõ biển số, số máy: E32VE037741, số khung: RLCUE3740KY015389 là tài sản do trộm cắp được mà có nhưng vẫn đồng ý mua về mục đích để sử dụng làm phương tiện đi lại. Tổng giá trị 02 chiếc xe mô tô bị cáo H tiêu thụ có trị giá là 10.500.000đ (mười triệu năm trăm ngàn đồng).
Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo Phạm Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự và Nguyễn Trọng H phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Văn Đ, bị cáo Nguyễn Trọng H, bị hại bà Đinh Thị N; bà Nguyễn Thị P.
- Đối với bị cáo Phạm Văn Đ: Bị cáo Phạm Văn Đ thực hiện hành vi phạm tội 03 lần, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Khi thực hiện hành vi bị cáo là người dưới 18 tuổi nên áp dụng nguyên tắc xử lý theo quy định tại các Điều 90; Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, bị hại N và P xác nhận bị cáo Đ tác động để gia đình bồi thường khắc phục hậu quả và tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Đ. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới tại cấp phúc thẩm nên cần áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS. Xét thấy bị cáo Đ là người chưa thành niên, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, là người dân tộc Mường. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù buộc bị cáo cách ly khỏi xã hội, mà áp dụng Điều 100 Bộ luật hình sự đối với bị cáo; không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo (bị cáo dưới 18 tuổi) cũng đủ tác dụng giáo dục răn đe, phòng ngừa chung.
- Đối với bị cáo Nguyễn Trọng H: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo H xuất trình Giấy xác nhận công tác của Công ty TNHH H2 về việc hoàn thành tốt công việc, là nhân viên xuất sắc. Bị hại N và P xác nhận bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới phát sinh tại cấp phúc thẩm nên cần áp dụng thêm điểm b Khoản 1 Điều 51 BLHS đối với bị cáo. Xét thấy bị cáo Nguyễn Trọng H là lao động chính trong gia đình; có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; đủ điều kiện áp dụng Điều 65 của BLHS. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Trọng H, sửa bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt giữ nguyên mức hình phạt nhưng cho bị cáo hưởng án treo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật cũng đủ tác dục giao dục riêng và phòng ngừa chung.
Từ những phân tích trên; chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, kháng cáo của bị hại đối với bị cáo Đ. Sửa bản án sơ thẩm theo hướng đã nhận định.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật.
[6] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo, bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Văn Đ, bị cáo Nguyễn Trọng H, bị hại bà Đinh Thị N và bị hại bà Nguyễn Thị P. Sửa bản án sơ thẩm số 293/2024/HS-ST ngày 18/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt.
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo Nguyễn Trọng H phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”
1.1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 và 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và các Điều 36; Điều 90; Điều 91 và 100 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, thời gian tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh nhận được Quyết định thi hành án. Giao bị Phạm Văn Đ cho Ủy ban nhân dân phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Gia đình của bị cáo Phạm Văn Đ có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Phạm Văn Đ.
1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng H 09 (chín) tháng tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 26/3/2024). Giao bị Nguyễn Trọng H cho Ủy ban nhân dân phường G, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2018.
2. Về án phí: Bị cáo Phạm Văn Đ và Nguyễn Trọng H, bị hại bà Đinh Thị N và bà Nguyễn Thị P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Văn Thanh | Lê Thị Vân |
| Hoàng Rung K'Nhơn |
Nơi nhận:
- VKSND tỉnh Lâm Đồng;
- Vụ GĐKT I – TANDTC;
- Phòng TTr, KT&THA;
- Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
- TAND TP Đà Lạt (04);
- VKSND TP Đà Lạt ;
- Cơ quan CSĐT CA tỉnh Lâm Đồng;
- Chi cục THADS TP Đà Lạt;
- Phòng PV06 CA tỉnh Lâm Đồng
- Bị cáo (02);
- Bị hại (02);
- TGVPL (01);
- Lưu hồ sơ; Án văn (04).
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM | |
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Lê Thị Vân |
Bản án số 12/2025/HSPT-NCTN ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 12/2025/HSPT-NCTN
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt
