Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH GIA

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HS-ST

Ngày 27-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Nam Toàn

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Dương Công Trang

Bà Nông Thị Ngọc Anh

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hà Thu, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lâm Văn Tài - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Lâm Thị K, sinh ngày 25 tháng 6 năm 1969 tại huyện B, tỉnh Lạng Sơn; Nơi cư trú: Thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; Nơi ở: Thôn K, xã M, huyện B, tỉnh Lạng Sơn Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 5/10; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Lâm Văn H, sinh năm 1935 (đã chết) và bà Hoàng Thị K1, sinh năm 1935 (đã chết); chồng: Lâm Văn G, sinh năm 1971; bị cáo có 03 người, con thứ nhất sinh năm 1995, con thứ ba sinh năm 2008; Anh chị em ruột: Có 06 người, bị cáo là con thứ 04; Tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B từ ngày 21/01/2025 đến ngày 26/4/2025 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh đến nay. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng N - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L.

- Bị hại: Bà Ngô Thị T, sinh năm 1975. Có mặt.

Địa chỉ: Thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Ngô Thị T1, sinh năm 1973. Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn K, xã M, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

- Người làm chứng:

  1. Ông Lâm Văn N1, sinh năm 1971. Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Ông Lâm Văn G, sinh năm 1971. Có mặt.
  3. Chị Hoàng Thị P, sinh năm 1952. Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  4. Bà Triệu Thị Q, sinh năm 1978. Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  5. Anh Lâm Văn M, sinh năm 1995. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chiều ngày 17/11/2024, tại thôn K, xã M, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, ông Lâm Văn N1, sinh năm 1971, trú tại thôn N, xã M, huyện B, tỉnh Lạng Sơn là chồng bị hại Ngô Thị T tiến hành đào móng để xây tường rào phân định ranh giới đất của gia đình ông N1 với đất của gia đình bị cáo thì xảy ra mâu thuẫn. Sau đó được Trưởng thôn và Tổ trưởng Tổ an ninh cơ sở đến hòa giải. Sau khi hòa giải xong mọi người đi xuống nhà ông N1, còn bị cáo và chồng là ông Lâm Văn G cùng ông Lâm Văn N1 vẫn ở lại. Sau đó, ông N1 tiến hành xây móng hàng rào tại vị trí vừa đào. Khoảng 16 giờ, bị hại Ngô Thị T cùng bà Hoàng Thị P, sinh năm 1952, trú tại thôn K, xã M là hàng xóm từ nhà đi đến chỗ ông N1 đang xây móng hàng rào. Bị hại chửi bị cáo thì giữa bị cáo và bị hại xảy ra xô xát, cãi nhau. Bị hại tát bị cáo hai cái nhưng không trúng. Bị cáo cúi xuống, dùng tay phải nhặt một hòn đá dưới đất ném về phía bị hại. Bị hại dùng một chiếc chậu nhôm để đỡ nên không bị ném trúng. Bị cáo tiếp tục cúi xuống nhặt một hòn đá khác ném trúng vào mặt bị hại làm rách da, chảy máu vùng mũi, được mọi người đưa đến Trạm y tế xã M để xử lý vết thương, sau đó chuyển đến Trung tâm Y tế huyện B và Bệnh viện Đa khoa tỉnh L điều trị đến ngày 29/11/2024 thì được ra viện.

Ngày 02/12/2024, bị hại Ngô Thị Thanh T2 báo vụ việc đến Công an xã M, huyện B, tỉnh Lạng Sơn yêu cầu giải quyết theo quy định của pháp luật. Ngày 05/12/2024, Công an xã M chuyển vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 17/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Ngô Thị T và bị cáo Lâm Thị K. Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 07/2024/PYTT ngày 24/12/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh L kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Ngô Thị T tại thời điểm giám định: Sẹo vùng tháp mũi: 03%. Gẫy xương chính mũi: 09%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12% (mười hai phần trăm). Cơ chế hình thành vết thương: do vật tày cứng gây nên. Còn bị cáo Lâm Thị K có đơn xin từ chối giám định với lý do bị bị hại tát vào mặt không để lại thương tích, bản thân đã đến Trung tâm y tế huyện B, kết quả không bị tổn hại về sức khỏe, không được chỉ định điều trị.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo khai trước khi dùng đá ném bị hại thì đã bị bị hại tát hai phát, một phát trúng vào tai, một phát trúng vào mặt, và cầm đá ném bị cáo nhưng không trúng. Bị hại khai nhận được dùng tay đánh bị cáo nhưng không trúng và không được cầm đá ném bị cáo. Cơ quan điều tra đã xác minh và tiến hành đối chất giữa bị cáo và bị hại nhưng không đủ căn cứ chứng minh bị hại đã đánh trúng vào mặt và dùng đá ném bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Ngô Thị T yêu cầu bị cáo Lâm Thị K bồi thường thiệt hại tổng số tiền là 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng). Gồm các chi phí: Tiền thuê xe ô tô từ Trạm y tế xã M đến Trung tâm y tế huyện B là 400.000 đồng; T3 thuê xe ô tô từ Trung tâm y tế huyện B đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh L là 800.000 đồng; Chi phí tiền ăn 02 người x 11 ngày x 90.000 đồng/ ngày = 1.980.000 đồng; T3 thuê xe từ Bệnh viện Đa khoa tỉnh L về xã M là 1.000.000 đồng; T3 mua thuốc ngoài danh mục thuốc có trong bảo hiểm là 5.000.000 đồng; T3 trả công người phục vụ 01 người x 250.000 đồng/ người x 11 ngày = 2.750.000 đồng; Tiền công mất sức lao động từ ngày nhập viện đến khi hồi phục sức khỏe là 40 ngày x 250.000 đồng/ ngày = 10.000.000 đồng; T3 thanh toán viện phí: 166.000 đồng; Tiền bồi thường tổn thất tinh thần và sức khỏe do mờ mắt đau đầu khi thời tiết thay đổi là 17.904.000 đồng.

Ngày 02/4/2025, bị cáo đã nhờ con trai ruột là anh Lâm Văn M đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia nộp số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) để bồi thường thiệt hại.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: bà Ngô Thị T1 xác nhận đi phục vụ bị hại từ ngày 18/11/2024 đến 29/11/2024. Tiền công ngày làm của bà là 250.000 đồng/ ngày. Tổng số ngày phục vụ là 11 ngày x 250.000 đồng. Không có yêu cầu nào khác trong vụ án.

Người làm chứng ông Lâm Văn N1 trình bày: Xác nhận giữa hai gia đình có mâu thuẫn tranh chấp đất đã hòa giải xong. Hai bên cãi nhau, bị hại có giơ tay đánh bị cáo nhưng bị cáo tránh được, sau đó bị cáo lấy đá ném bị hại.

Người làm chứng ông Lâm Văn G trình bày: Ông G là chồng của bị cáo. Giữa hai bên gia đình đã mâu thuẫn từ lâu do tranh chấp đất. Sau khi được hòa giải hai bên đã thỏa thuận và làm đường phân ranh giới. Tuy nhiên, khi bên ông N1 xây tường bao thì tiếp tục phát sinh mâu thuẫn. Do bị hại mắng chửi nên hai bên mới cãi nhau và bị hại giơ tay định đánh 02 lần và cầm đá ném nhưng bị cáo tránh được. Sau đó thì thấy bị cáo ném đá vào bị hại gây thương tích.

Người làm chứng bà Hoàng Thị Phương trình B: Bị hại giơ tay lên định tát nhưng bị cáo tránh được do khoảng cách xa. Sau đó bị cáo dùng đá ném bị hại.

Người làm chứng Lâm Văn M trình bày: Số tiền 10.000.000 đồng là tiền của bị cáo. Anh M nộp hộ bị cáo tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia để bồi thường khắc phục hậu quả.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và có lời xin lỗi bị hại. Bị cáo và bị hại thỏa thuận được việc bồi thường toàn bộ trách nhiệm dân sự với tổng số tiền là 40.000.000 đồng, bao gồm số tiền 10.000.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia và bị cáo bồi thường tiếp số tiền còn thiếu là 30.000.000 đồng và tính lãi chậm trả theo quy định. Yêu cầu Tòa án ghi nhận nội dung thỏa thuận vào bản án.

Tại Cáo trạng số 10/CT-VKS-BG ngày 15/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, đã truy tố bị cáo Lâm Thị K về tội "Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Lâm Thị K phạm tội Cố ý gây thương tích.

* Về căn cứ pháp luật và hình phạt:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, Điều 50, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lâm Thị K từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng đến 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo luật định.

* Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường toàn bộ trách nhiệm dân sự của bị cáo và bị hại.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hòn đá hình thù không xác định, 01 (một) chiếc chậu nhôm có đường kính vành chậu 0,5m, đáy chậu thủng.

* Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Lâm Thị K được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định pháp luật.

Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Nhất trí với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo là người có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt, bị hại cũng có một phần lỗi. Do đó, đề nghị áp dụng cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp nhất theo mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và cho bị cáo được hưởng án treo. Ghi nhận nội dung thỏa thuận bồi thường trách nhiệm dân sự của bị cáo và bị hại. Miễn án phí dân sự sơ thẩm, án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo nhất trí với quan điểm của người bào chữa và không có ý kiến gì thêm; bị hại Ngô Thị T không có ý kiến tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc xét xử vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng được Tòa án nhân dân huyện Bình Gia triệu tập hợp lệ đến phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt và trình bày quan điểm đối với vụ án. Mặt khác trong hồ sơ Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy lời khai người này, bị cáo cũng đã thừa nhận hành vi phạm tội. Việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[3] Về tư cách tham gia tố tụng: Tại phiên tòa bị cáo và anh Lâm Văn M đều xác nhận số tiền 10.000.000 đồng là tiền riêng của bị cáo, anh Lâm Văn M chỉ là người đi nộp hộ. Do đó, căn cứ vào Điều 66 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xác định anh Lâm Văn M là người làm chứng.

[4] Về căn cứ buộc tội: Tại phiên toà, bị cáo Lâm Thị K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai người làm chứng và cũng phù hợp với các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Khoảng 16 giờ ngày 17/11/2024, tại thôn K, xã M, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Lâm Thị K có hành vi cầm đá ném vào người bà Ngô Thị T gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%. Hành vi bị cáo dùng hòn đá gây thương tích cho bị hại thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự. Do đó, có căn cứ xác định bị cáo Lâm Thị K phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia truy tố bị cáo hoàn toàn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo thấy rằng: Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cố ý gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng do mâu thuẫn, không kiềm chế được bản thân nên bị cáo đã phạm tội. Tuy nhiên, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối cho bị cáo do lần đầu phạm tội, có nhân thân tốt, có sự ăn năn hối cải để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Việc phạm tội của bị cáo một phần do bản thân là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng sâu, vùng xa, có sự nhận thức hạn chế về pháp luật. Trước khi chưa xảy ra vụ án, giữa bị cáo và bị hại đã có mâu thuẫn từ trước do việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa hai gia đình. Vụ việc đã được chính quyền địa phương hòa giải. Tuy nhiên, trong giai đoạn xây tường bao thì tiếp tục chửi bới và dẫn đến vụ việc. Trong vụ án này xác định cả bị cáo và bị hại đều có lỗi. Trước khi xảy ra hành vi gây thương tích bị cáo và bị hại đã có việc cãi chửi nhau, bị hại đã tát bị cáo trước 02 lần nhưng không trúng. Bị cáo đã ném đá lại lần thứ nhất bị hại đỡ được nhưng bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi ném đá và gây thương tích. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi này.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình tố tụng và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo là dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ hiểu biết hạn chế, bố chồng của bị cáo là ông Lâm Văn S được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L tặng Bằng khen do đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trong vụ án bị hại cũng có một phần lỗi, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

[8] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[9] Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, nhất thời phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài lần phạm tội này bị cáo chấp hành tốt chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, quy định của địa phương. Do đó, căn cứ Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP-TANDTC, ngày 15/5/2018 và Nghị Quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn, quy định về điều kiện cho hưởng án treo thì bị cáo có đủ điều kiện. Vì vậy, không cần bắt bị cáo cách ly khỏi đời sống xã hội mà áp dụng khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi thường trú để giám sát, giáo dục cũng đủ điều kiện để giúp các bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[10] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo và bị hại thỏa thuận bồi thường toàn bộ trách nhiệm dân sự với tổng số tiền là 40.000.000 đồng. Nhận thấy thỏa thuận bồi thường này hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, phù hợp với các quy định tại Điều 584, 585, 586 và 590 của Bộ luật dân sự năm 2015; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Số tiền bồi thường bao gồm 10.000.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia. Bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn thiếu là 30.000.000 đồng. Tiền lãi chậm trả theo quy định của pháp luật.

[11] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: cần tịch thu tiêu hủy các vật chứng là công cụ phạm tội và không có giá trị sử dụng là 01 (một) hòn đá, 01 (một) chiếc chậu nhôm.

[12] Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ngô Thị T1: Hội đồng xét xử nhận thấy việc chị Ngô Thị T1 là người đi chăm sóc và tính tiền công với bị hại là thỏa thuận riêng của hai người. Trong vụ án bà Ngô Thị T1 không có yêu cầu riêng. Do đó việc tính tiền công phục vụ đã được tính vào tổng giá trị bồi thường các bên thỏa thuận. Thỏa thuận bồi thường không làm ảnh hưởng đến quyền nghĩa vụ của bà Ngô Thị T1. Trường hợp giữa bà Ngô Thị T1 và chị Ngô Thị Thanh phát S1 tranh chấp về số tiền phục vụ sẽ được giải quyết tại vụ án dân sự khác theo thủ tục tố tụng dân sự.

[13] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ trả tiền bồi thường trách nhiệm dân sự. Tuy nhiên, bị cáo là dân tộc thiểu số, sinh sống tại khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên căn cứ theo Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án, Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo.

[14] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt cũng như các vấn đề khác đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[15] Lời bào chữa của người bào chữa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[16] Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 262; khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Lâm Thị K phạm tội Cố ý gây thương tích.

Xử phạt bị cáo Lâm Thị K 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng. Thời gian chấp hành án tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/6/2025). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện B để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

2. Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại sức khỏe bị xâm phạm giữa bị cáo Lâm Thị K và bị hại Ngô Thị T:

Bị cáo Lâm Thị K có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bà Ngô Thị T với tổng số tiền bồi thường là 40.000.000 đồng. Được khấu trừ vào số tiền 10.000.000 đồng do anh Lâm Văn M nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia. Bị cáo Lâm Thị K tiếp tục bồi thường số tiền còn thiếu là 30.000.000 đồng cho bị hại Ngô Thị T.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu; mà người phải thi hành án chưa thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3. Về xử lý vật chứng:

Tuyên tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (một) hòn đá hình thù không xác định, 01 (một) chiếc chậu nhôm có đường kính vành chậu 0,5m, đáy chậu thủng.

Những vật chứng trên được ghi theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L với Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Gia ngày 12/5/2025.

4. Về án phí: Bị cáo Lâm Thị K được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Phòng PC 06 Công an tỉnh Lạng Sơn
  • - CCTHADS huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Ngô Nam Toàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 12/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 16 giờ ngày 17/11/2024, tại thôn K, xã M, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Lâm Thị K có hành vi cầm đá ném vào người bà Ngô Thị T gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%. Hành vi bị cáo dùng hòn đá gây thương tích cho bị hại thuộc trường hợp dùng hung khí nguy hiểm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger