Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ NINH

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HS-ST

Ngày 27 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Việt Giang.

  • - Các Hội thẩm nhân dân:

    1. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.
    2. Bà Tống Thị Hồng Vân.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vương Thị Đàm Chuyên - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 13/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Cao C, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 11 tháng 11 năm 1989; tại: Tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi thường trú và nơi ở: Khu D, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: [...], cấp ngày 09/5/2021; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH, Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Văn M (đã chết); Mẹ đẻ: Hán Thị T - sinh năm 1961; (Mẹ đẻ bị can hiện ở khu D, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ). Anh chị em ruột: Có 04 anh chị em, bị can là con thứ tư. Vợ: Đào Thị Nguyệt N, sinh năm: 1993 (Đã ly hôn). Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013. Tiền án: Không;

Tiền sự:

  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 5439 ngày 28/12/2023 của U1, tỉnh Phú Thọ xử phạt về hành vi “Tàng trữ trái phép pháo”. Mức phạt 15.000.000 đồng. Ngày 29/12/2023 C đã nộp phạt.

  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 60/QĐ-XPHC và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 62/QĐ-XPHC cùng ngày 09/8/2023 của UBND xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ xử phạt về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Mức phạt của mỗi quyết định là 2.500.000 đồng. Cả 02 quyết định C chưa nộp phạt.

Nhân thân:

  • - Bản án hình sự sơ thẩm số 203 ngày 29/10/2013 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, xử phạt C 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. C đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/6/2015, nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm ngày 01/11/2023.

  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 54 ngày 02/10/2016 của Công an huyện P, tỉnh Phú Thọ xử phạt về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Mức phạt 500.000 đồng. C chưa nộp phạt, tuy nhiên Cơ quan ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính không áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với C.

  • - Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 03 ngày 18/10/2017 của UBND xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ, thời gian 03 tháng. Ngày 18/01/2018 C chấp hành xong biện pháp giáo dục.

  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 101 ngày 22/02/2019 của Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ xử phạt hành vi “Mua các số lô, số đề”. Mức phạt 350.000 đồng. C đã nộp phạt ngày 26/02/2019.

  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 146 ngày 24/6/2019, của Công an huyện P, tỉnh Phú Thọ xử phạt về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Mức phạt 1.500.000 đồng. C đã nộp phạt ngày 15/7/2019.

  • - Bản án hình sự sơ thẩm số 60 ngày 15/11/2019 của Toà án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xử 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. C đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2020, nộp xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 20/02/2020.

  • - Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 54 ngày 25/10/2021 của UBND xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ, thời hạn 06 tháng. Ngày 25/4/2022 C chấp hành xong biện pháp giáo dục.

  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 43 ngày 09/11/2021 của Công an huyện P, tỉnh Phú Thọ xử phạt về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Mức phạt 750.000 đồng. Ngày 18/11/2021 C nộp phạt.

Bị cáo không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện đang tại ngoại tại Khu D, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

2. Họ và tên: Nguyễn Hồng T1, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 02 tháng 9 năm 1969; tại: Tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi thường trú và nơi ở: Khu G, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Số CMND/Thẻ CCCD/Hộ chiếu: [...]; cấp ngày 07/9/2022; Nơi cấp: Cục C1 về TTXH, Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Văn S (đã chết); Mẹ đẻ: Trần Thị T2 (đã chết); Anh chị em ruột: Có 11 anh chị em, bị cáo là con thứ 11; Vợ: Cao Thị M1, sinh năm: 1976. Con: không; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02 ngày 25/02/2002 của UBND xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Mức phạt 500.000 đồng.

  • - Bản án hình sự sơ thẩm số 14 ngày 29/5/2002 của Toà án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tài sản trộm cắp có giá trị dưới 500.000 đồng), buộc T1 phải trả lại cho ông Hồ Đình B, sinh năm 1940, trú tại khu E, xã T (nay là xã B), huyện P, tỉnh Phú Thọ số tiền 160.000 đồng. Ngày 07/10/2002 T1 chấp hành xong hình phạt tù. T1 đã nộp án phí hình sự và án phí dân sự trong vụ án hình sự tháng 9/2008. Qua rà soát với Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, từ khi bản án nêu trên có hiệu lực pháp luật đến nay, ông B không có đơn yêu cầu thi hành án.

  • - Bản án hình sự sơ thẩm số 05 ngày 28/3/2003 của Toà án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tài sản trộm cắp có giá trị dưới 500.000 đồng), buộc T1 phải trả lại cho anh Lương Văn H, sinh năm 1975, trú tại khu A, xã B (nay là xã B), huyện P, tỉnh Phú Thọ một chiếc vạy và một đôi thiếu trị giá 10.000 đồng. Ngày 08/10/2003 T1 chấp hành xong hình phạt tù. T1 đã nộp án phí hình sự và án phí dân sự trong vụ án hình sự tháng 9/2008. Qua rà soát với Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, từ khi bản án nêu trên có hiệu lực pháp luật đến nay, anh H không có đơn yêu cầu thi hành án.

  • - Bản án hình sự sơ thẩm số 49 ngày 22/4/2004 của Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt 07 bảy năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Ngày 27/7/2010 T1 chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 19/9/2008 T1 nộp xong án phí sơ thẩm.

  • - Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã số 18 ngày 20/6/2012 của UBND xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ, thời hạn 06 tháng.

  • - Quyết định đưa đối tượng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của tỉnh số 2315 ngày 08/8/2012 của UBND huyện P, tỉnh Phú Thọ, thời gian chấp hành 24 tháng. Thủy chấp hành xong ngày 30/10/2014.

  • - Ngày 09/8/2012 T1 bị khởi tố về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 29/10/2012 vụ án được đình chỉ điều tra do bị hại rút yêu cầu khởi tố. Ngày 30/10/2012 Công an huyện P, tỉnh Phú Thọ ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 50 xử phạt T1 về hành vi “Trực tiếp xâm hại đến sức khỏe của người khác”. Mức phạt 1.500.000 đồng. T1 chưa nộp phạt, tuy nhiên Cơ quan ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính không áp dụng biện pháp cưỡng chế đối với T1.

  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01 ngày 04/6/2020 của Công an phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Mức phạt 500.000 đồng. Ngày 04/6/2020 T1 nộp phạt.

  • - Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 553 ngày 08/11/2021 của UBND xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ, thời hạn 03 tháng. Ngày 22/01/2022 T1 chấp hành xong.

  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 44 ngày 09/11/2021 của Công an huyện P, tỉnh Phú Thọ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Mức phạt 750.000 đồng. T1 nộp phạt ngày 18/11/2021.

Bị can không bị bắt tạm giữ, tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 14/11/2024 đến nay.

Tại Bản án số 14/STHS ngày 29/5/2002 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ; Bản án số 05/HSST ngày 28/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ; Bản án số 49/HSST ngày 22/4/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử bị cáo Nguyễn Ngọc T3 (tên gọi khác: Nguyễn Văn H1), sinh năm 1969, trú tại xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ (nay là xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ) và Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 50 ngày 30/10/2012 của Công an huyện P, tỉnh Phú Thọ đối với Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 1969, trú tại xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ, Cơ quan CSĐT Công an huyện P đã thu thập danh bản, chỉ bản của người tên T3 trong các vụ án, hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính trên để phục vụ công tác giám định. Tại Kết luận giám định số 1766/KLGĐ-KTHS ngày 27/12/2024 của Phòng Kĩ thuật hình sự: Dấu vân tay in tại các ô trên danh bản, chỉ bản; số 181, ghi tên Nguyễn Hồng T1, sinh năm 1969, trú tại khu G, huyện P, tỉnh Phú Thọ do Công an huyện P lập ngày 14/11/2024 (Mẫu cần giám định ký hiệu A) so với dấu vân tay in tại các ô trên các danh chỉ bản mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3 và M4 là do cùng một người in ra.

* Bị hại: Chị Lê Thị T4, sinh năm 1989, (Có đơn xin vắng mặt).

Địa chỉ: Khu F, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 14/7/2024, tại đoạn đường liên khu thuộc khu F, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ, Tổ công tác Công an xã A phát hiện Nguyễn Cao C - sinh năm 1989, thường trú khu D, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ và Nguyễn Hồng T1 - sinh năm 1969, thường trú khu G, xã B, huyện P, tỉnh Phú Thọ có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra, nhưng cả hai không xuất trình được giấy tờ tùy thân và phương tiện. Tổ công tác Công an xã A đưa người và phương tiện về trụ sở để làm việc. Quá trình làm việc C và T1 khai nhận khoảng 12/7/2024 đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Công an xã A đã lập biên bản làm việc, tạm giữ xe mô tô biển số 30N5-2465, số tiền 1.530.000 đồng do C giao nộp gồm: 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng.

Ngày 14/7/2024, chị Lê Thị T4 - sinh năm 1989, thường trú khu F, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ đến Công an xã A trình báo về việc: Trưa ngày 12/7/2024, chị bị trộm cắp số tiền 2.200.000 đồng để trong cốp xe mô tô BKS 19P1-6083 dựng ở nhà và giao nộp đoạn video từ camera an ninh ở nhà chị T4 ghi lại diễn biến sự việc.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 12 giờ ngày 12/7/2024, Nguyễn Cao C điều khiển xe mô tô biển số 30N5-2485, từ nhà đi đến nhà Nguyễn Hồng T1 chơi. Tại đây, C rủ T1 đi mua gà tại xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ. T1 đồng ý. Sau đó, C điều khiển xe chở T1 đến nhà chị Lê Thị T4 thuộc khu F, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ thì dừng xe. C và T1 cùng xuống xe nhìn xung quanh không thấy có ai. C đi lại cổng, thấy cổng khép, không khóa nên đẩy cổng đi vào trong, còn T1 đứng ngoài, gần xe mô tô. C đi vào trong không thấy ai ở nhà, khi quay ra C thấy xe mô tô biển số 19P1-6083 của chị T4 đang dựng trong cổng vẫn cắm chìa khóa xe nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. C ra hiệu bằng tay cho T1 đang đứng ở ngoài cổng quay đầu xe sẵn. T1 hiểu ý gật đầu rồi quay đầu xe ngồi cầm lái đợi C. C mở cốp xe thấy trong cốp có một ví da màu đen, bên trong ví da có tiền. C lấy toàn bộ số tiền này rồi đi ra cổng lên xe T1 điều khiển xe chở C đi về nhà T1. Trên đường đi, C đếm số tiền vừa trộm cắp được 2.200.000 đồng gồm 04 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng. C nói với T1 vừa trộm cắp được 2.200.000 đồng. T1 ngồi đằng trước nên nghe được C nói trộm cắp được 1.100.000 đồng. Số tiền trộm cắp được, C và T1 thống nhất C sẽ cầm toàn bộ, khi tiêu xài gì thì C sẽ trả tiền. T1 nhìn thấy C cầm: 04 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và sử dụng 02 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng trong số tiền trên để trả 670.000 đồng mua đồ ăn, nước uống dọc đường từ những người bán hàng dong. Số tiền 1.530.000 đồng còn lại, C đúc trong túi quần và đã bị Cơ quan Công an tạm giữ.

Tại Cơ quan Công an, Nguyễn Cao C và Nguyễn Hồng T1 đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên. C, T1 xác định hai người trong đoạn video mà cơ quan Công an đã thu giữ là mình.

Tại bản Cáo trạng số 15/CT-VKSPN ngày 14/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ truy tố các bị cáo Nguyễn Cao C, Nguyễn Hồng T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cao C và Nguyễn Hồng T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao C từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng T1 từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Cao C và Nguyễn Hồng T1.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) xe môtô biển số 30N5-2485, nhãn hiệu HONDA WAVE S, màu sơn: Bạc - Xám - Đen.

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo dài tay màu rằn ri đã qua sử dụng; 01 (một) quần bò ngắn ngang gối màu xanh đã qua sử dụng.

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo phông cộc tay màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) quần dài màu xám đen đã qua sử dụng.

  • - Trả lại cho chị Lê Thị T4 số tiền 2.200.000₫ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng).

Vật chứng đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P bàn giao cho cơ quan Thi hành án dân sự huyện P theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/2/2025.

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Cao C và Nguyễn Hồng T1 mỗi người phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi đúng như cáo trạng truy tố, các bị cáo không tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Mong Hội đồng xét xử, xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[2] Về những chứng cứ xác định có tội hoặc không có tội:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 12/7/2024, tại khu F, xã A, huyện P, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Cao C và Nguyễn Hồng T1 đã có hành vi trộm cắp số tiền 2.200.000 đồng của chị Lê Thị T4. Hành vi của bị cáo Nguyễn Cao C và Nguyễn Hồng T1 đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, các bị cáo Nguyễn Cao C và Nguyễn Hồng T1 là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Cao C và Nguyễn Hồng T1 không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Cao C và Nguyễn Hồng T1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo C, T1 đã tự nguyện nộp lại số tiền 670.000đ nên bị cáo C, T1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Sau khi xem xét nhân thân, đối chiếu với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy:

Bị cáo Nguyễn Cao C là người có nhân thân xấu, bị cáo là người có 03 tiền sự và tại Bản án hình sự sơ thẩm số 203 ngày 29/10/2013 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, xử phạt C 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 60 ngày 15/11/2019 của Toà án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xử 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. C đã chấp hành xong toàn bộ các bản án, đã được xóa án tích. Ngoài ra C nhiều lần bị xử phạt hành chính và bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường. Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lần này lại tiếp tục phạm tội. Trong vụ án C là người trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp, Vì vậy, lần phạm tội này cần xử phạt bị cáo C một hình phạt tù cao hơn so với bị cáo T1, tương xứng với hành vi phạm tội để bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

Bị cáo Nguyễn Hồng T1 là người có nhân thân xấu, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 14 ngày 29/5/2002 của Toà án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án hình sự sơ thẩm số 05 ngày 28/3/2003 của Toà án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bản án hình sự sơ thẩm số 49 ngày 22/4/2004 của Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xử phạt 07 bảy năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”; Ngoài ra T1 nhiều lần bị xử phạt hành chính, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường và bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lần này lại tiếp tục phạm tội. Trong vụ án T1 có vai trò giúp sức. Vì vậy, lần phạm tội này cần xử phạt bị cáo T1 một hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội để bị cáo cải tạo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự thì người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Qua xác minh của Cơ quan điều tra bị cáo C và T1 không có nghề nghiệp và không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với: 01 (một) xe môtô biển số 30N5-2485, nhãn hiệu HONDA WAVE S, màu sơn: Bạc - X - Đen là xe C và T1 sử dụng vào việc trộm cắp tài sản ngày 12/7/2024. Đăng ký xe mang tên: Nguyễn Thị Tố U, sinh năm 1960, trú tại xã T, huyện S, thành phố Hà Nội. Bà U đã bán chiếc xe trên, tuy nhiên do thời gian đã lâu nên không nhớ đã bán cho ai. C mua xe môtô trên tại thành phố Hà Nội. Do thời gian đã lâu nên C không còn giữ giấy tờ mua bán xe. Qua tra cứu xe không có trong dữ liệu xe máy vật chứng. Đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

  • Đối với: 01 (một) áo dài tay màu rằn ri đã qua sử dụng; 01 (một) quần bò ngắn ngang gối màu xanh đã qua sử dụng. Đây là quần áo C mặc ngày 12/7/2024 khi trộm cắp tài sản ở nhà chị T4. Tại phiên tòa bị cáo C không yêu cầu trả lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

  • Đối với: 01 (một) áo phông cộc tay màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) quần dài màu xám đen đã qua sử dụng là quần áo T1 mặc ngày 12/7/2024 cùng C thực hiện trộm cắp tài sản. Tại phiên tòa bị cáo T1 không yêu cầu trả lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

  • Đối với: Số tiền 2.200.000 đồng, gồm 1.530.000 đồng Cơ quan Công an thu giữ trên người C; số tiền 670.000 đồng C và T1 tự nguyện nộp lại. Đây là tài sản của chị Lê Thị T4 vì vậy cần trả lại cho chị T4 là phù hợp.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Cao C và Nguyễn Hồng T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Cao C và Nguyễn Hồng T1 được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[10] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh đề nghị tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cao C và Nguyễn Hồng T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao C 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng T1 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Cao C và Nguyễn Hồng T1.

[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) xe môtô biển số 30N5-2485, nhãn hiệu HONDA WAVE S, màu sơn: Bạc - Xám - Đen.

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo dài tay màu rằn ri đã qua sử dụng; 01 (một) quần bò ngắn ngang gối màu xanh đã qua sử dụng.

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo phông cộc tay màu đen đã qua sử dụng; 01 (một) quần dài màu xám đen đã qua sử dụng.

  • - Trả lại cho chị Lê Thị T4 số tiền 2.200.000đ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng).

Vật chứng đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P bàn giao cho cơ quan Thi hành án dân sự huyện P theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/2/2025.

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Cao C và Nguyễn Hồng T1 mỗi người phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt có quyền kháng cáo. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Phù Ninh;
  • - PV 06, Công an tỉnh Phú Thọ;
  • - PC10, CA tỉnh Phú Thọ;
  • - Cơ quan THADS huyện Phù Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã Tiên Du;
  • - UBND xã Bình Phú;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS+VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đinh Việt Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 12/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Cao Cường và đồng phạm phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger