|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2025/HS-ST Ngày: 21 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Tấn Long.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sang;
Ông Trần Công Nho.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Quốc Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Thuý - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 117/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Ngọc H; giới tính: nam; tên gọi khác: Nhỏ Sửu; sinh ngày 08/10/1976, tại huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc; Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; nơi cư trú: Khối phố B, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam; con ông Phạm H1 (chết) và bà Lê Thị L (chết); gia đình bị cáo có 05 chị em, bị cáo là con thứ 5; vợ bị cáo là Trần Mai Thanh T (đã ly hôn), có 01 con sinh năm 2006; tiền sự: không.
Tiền án: Ngày 27/6/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 16/5/2022.
Nhân thân: Ngày 31/5/2024, Phạm Ngọc H bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ khởi tố, tạm giam về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” tại Quyết định khởi tố bị can số 284/QĐ-CSĐT, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ theo Lệnh tạm giam số 674/LTG-CSMT ngày 31/5/2024 của Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ.
- Người bào chữa cho bị cáo Phạm Ngọc H theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng: Luật sư Mai Thị T1 - Văn phòng L1, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q. Địa chỉ: Số A T, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Luật sư Mai Thị T1 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và gửi luận cứ bào chữa cho Hội đồng xét xử. Bị cáo Phạm Ngọc H đồng ý xét xử vắng mặt Luật sư Mai Thị T1.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lương Minh P, sinh năm 1999; địa chỉ: Khối phố D, thị trấn H, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Ông Huỳnh Văn H2, sinh năm 1999; địa chỉ: Tổ E, thôn P, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Ông Phạm Ngọc H3, sinh năm 1971; địa chỉ: Khối phố B, phường V, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Ông Mai Văn T2, sinh năm 1995; địa chỉ: Khối phố H, thị trấn H, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 09/6/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q khởi tố vụ án và khởi tố bị can Lương Minh P (sinh năm 1999; trú tại: Khối phố D, thị trấn H, T) về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” thu giữ của Lương Minh P tổng cộng là 32,61 gam, ma tuý loại Methamphetamine, trong đó thu giữ khi bắt quả tang 29,42gam và thu giữ khi khám xét khẩn cấp 3,19 gam (Kết luận giám định số 1115/KL-KTHS ngày 07/6/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Đà Nẵng ma tuý). Nguồn gốc ma tuý là do P mua của Phạm Ngọc H vào các ngày 01/6/2023 và ngày 03/6/2023. Quá trình điều tra, xét thấy hành vi của Phạm Ngọc H đủ các yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 BLHS năm 2015 nên ngày 05/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q đã ra Quyết định tách hành vi phạm tội của Phạm Ngọc H và ngày 29/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q chuyển thông tin đến Cơ quan CSĐT (PC04) Công an tỉnh Q để xác minh, giải quyết theo thẩm quyền.
Quá trình điều tra xác định như sau:
Vào khoảng 10 giờ 30 phút, ngày 03/06/2023, Mai Văn T2 (sinh năm 1995 trú tại Khu phố H, thị trấn H, huyện T, tỉnh Quảng Nam) nhắn tin cho Lương Minh P qua Facebook để nhờ P mua giúp 8.000.000đồng ma túy đá. Sau đó, T2 dùng số tài khoản 6879050295 Ngân hàng M (Ngân hàng Q) chuyển vào tài khoản Ngân hàng thương mại cổ phần V số 165100021709000 của P với số tiền 8.000.000đồng.
Sau khi nhận được tiền của Mai Văn T2 chuyển khoản thì Lương Minh P dùng tài khoản Zalo số điện thoại 0777.455.xxx gọi vào tài khoản Z có tên “A T3” (đăng ký số điện thoại 0868.540.xxx) và số điện thoại 0935.333.xxx của Phạm Ngọc H để hỏi mua ma tuý đá, H đồng ý và yêu cầu P chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng T9 số 9294333333 (ngân hàng TMCP K1) đứng tên Phạm Ngọc H và hẹn P ra đoạn đường gần ngã ba (có đèn tín hiệu giao thông) thuộc phường Đ, hướng lên xã Đ để giao ma túy. Đến khoảng 17 giờ 08 phút ngày 03/6/2023, P sử dụng tài khoản ngân hàng V số 1651000021709000 chuyển vào tài khoản ngân hàng T9 số 9294333333 của H với số tiền 21.000.000đồng (trong đó: 13.000.000đồng là tiền mua ma túy, còn 8.000.000 đồng là tiền Phương trả nợ cho H vì đã nhờ H chuộc lại xe máy trước đó) rồi P điều khiển xe mô tô Vario, màu trắng, biển số 92H1-960.95 đến điểm hẹn gặp H. Tại đoạn đường gần ngã ba (có đèn tín hiệu giao thông) thuộc phường Đ, hướng lên xã Đ, H bán cho P 01 gói ma tuý giá 13.000.000đồng. P lấy gói ma tuý cất giấu trong túi quần rồi gọi đện thoại thông báo cho T2 đã mua được ma tuý. Khoảng 19 giờ cùng ngày, khi P và T2 đến khu vực đất trống (thuộc thôn P, Q, Q) để chia số ma tuý trên, nhưng chưa kịp chia thì bị lực lượng Công an huyện Q phát hiện bắt quả tang và thu giữ trong túi quần của P 01 gói ni lông bên trong có chứa chất rắn, dạng tinh thể, màu trắng (Kết luận giám định là ma tuý loại Methamphetamine, có khối lượng 29,42 gam).
Ngoài ra, vào ngày 01/6/2023, P liên lạc cho Phạm Ngọc H để hỏi mua 5.500.000đồng ma tuý đá, H hẹn P ra khu vực gần cầu V, Đ để giao dịch mua bán ma tuý. Tại đây, P đưa cho H 5.500.000 đồng, H bán cho P 01 gói ma tuý đá, P mang về nhà sử dụng một ít, số ma tuý còn lại thì vào ngày 03/6/2023, khi Cơ quan CSĐT Công an huyện Q khám xét chỗ ở đã thu giữ 01 gói ni lông chứa chất rắn, dạng tinh thể, màu trắng (kết quả giám định là ma tuý loại Methamphetamine, có khối lượng là 3,19 gam).
Quá trình điều tra Phạm Ngọc H còn khai nhận: Ngoài 02 lần H bán ma tuý cho P nêu trên thì trong khoảng thời gian từ cuối năm 2022 đến tháng 6/2023, H còn nhiều lần bán ma tuý cho Lương Minh P và Huỳnh Văn H2 (sinh năm 1999; trú tại: Tổ E, thôn P, B, T) nhưng không nhớ cụ thể, có lúc P và H2 trả tiền mặt và có lúc P và H2 chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng T9 số 9294333333 và tài khoản ngân hàng V số 161900004669900 của H. Ngoài bán ma tuý cho P và H2 thì H còn nhiều lần bán ma tuý cho T4 và S (ở H). Nguồn gốc ma tuý là do Phạm Ngọc H mua của một người tên T5 (ở Đà Nẵng, không rõ lai lịch).
* Kết quả sao kê tài khoản ngân hàng T9 số 9294333333 và tài khoản ngân hàng V số 161900004669900 của H xác định: Từ ngày 12/5/2023 đến ngày 30/5/2023, Lương Minh P chuyển vào tài khoản ngân hàng T9 số 9294333333 của H 10 lần tổng số tiền 76.000.000 đồng (trong đó thể hiện lúc 17 giờ 08 phút ngày 03/6/2023 tài khoản 16510000217090 đã chuyển 21.000.000 đồng với nội dung “LUONG MINH PHUONG chuyển khoản”); từ ngày 21/01/2023 đến ngày 04/10/2023, Huỳnh Văn H2 03 lần chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng V số 161900004669900 của H với tổng số tiền 11.200.000đồng và 27 lần chuyển vào tài khoản ngân hàng T9 số 9294333333 của H với tổng số tiền 153.298.000đồng. Phạm Ngọc H thừa nhận: Lương Minh P và Huỳnh Văn H2 đã nhiều lần chuyển tiền qua tài khoản của H với tổng số tiền như trên. Tuy nhiên P và H2 không chỉ chuyển trả tiền mua ma tuý cho H mà P và H2 còn nhiều lần mượn tiền của H nên chuyển trả lại cho H, do thời gian đã lâu nên H không nhớ cụ thể lần nào P và H2 chuyển trả tiền mua ma tuý, lần nào chuyển trả nợ cho H và H cũng không biết khối lượng ma tuý đã bán là bao nhiêu (lời khai của Phạm Ngọc H phù hợp với lời khai của Lương Minh P và Huỳnh Văn H2).
* Kết quả trích sao dữ liệu điện thoại di động hiệu TECNO POP 5 thu giữ của Lương Minh P xác định: Tài khoản Zalo có tên “A T3” được đăng ký bởi số thuê bao 0868540151 (Phạm Ngọc H thừa nhận số điện thoại và hình đại diện trên Zalo chính là H, tuy nhiên hiện sim số này H đã vứt bỏ trước khi bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ khởi tố bắt giam về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” vào ngày 31/5/2024). Đồng thời, Công ty D Khu vực 3 cung cấp chủ thuê bao số điện thoại 0935.333.xxx là Phạm Ngọc H (sinh 1976; trú tại: Khối phố B, phường V, thị xã Đ); trích sao dữ liệu từ ngày 01/5/2023 đến ngày 10/6/2023, thuê bao này nhiều lần liên lạc với thuê bao 0932.430.xxx do Lương Minh P sử dụng.
Tại Cáo trạng số 130/CT-VKSQN-P1 ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam truy tố bị cáo Phạm Ngọc H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam thực hành quyền công tố Nhà nước luận tội, giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc H từ 16 năm đến 18 năm tù; phạt bổ sung bị cáo từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Truy thu số tiền thu lợi bất chính của bị cáo do bán ma tuý mà có 18.500.000 đồng.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý án phí và các vấn đề liên quan khác trong vụ án.
- Luật sư Mai Thị T1 bào chữa cho bị cáo Phạm Ngọc H với luận cứ:
Luật sư thống nhất với tội danh và khung hình phạt mà bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự thú khai báo các lần mua bán ma tuý trước đó chưa bị phát hiện quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ Luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Bị cáo Phạm Ngọc H thống nhất với luận cứ của người bào chữa, không bào chữa bổ sung; bị cáo nhận tội, xin sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Qua nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 01/6/2023 Phạm Ngọc H bán cho Lương Minh P 3,19 gam ma tuý loại Methamphetamine, ngày 03/6/2023 Phạm Ngọc H bán cho Lương Minh P 29,42 gam ma tuý loại Methamphetamine. Sau khi mua được ma tuý của H thì P đang cất giấu để sử dụng thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Q bắt quả tang thu giữ 29,42 gam và khám xét khẩn cấp thu giữ 3,19 gam.
Ngoài ra, trong khoảng thời gian từ cuối năm 2022 đến tháng 6/2023, Phạm Ngọc H nhiều lần bán ma tuý đá cho Lương Minh P, Huỳnh Văn H2 và nhiều người khác trên địa bàn thành phố H. Tuy nhiên không xác định cụ thể thời gian, khối lượng ma tuý mà H đã bán.
Hành vi trên của bị cáo Phạm Ngọc H đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng truy tố số: 130/CT-VKSQN-P1 ngày 27 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên toà là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện do lỗi cố ý, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thì thấy:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng:
Bị cáo bán ma tuý nhiều lần, mỗi lần đều cấu thành tội phạm nên thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Ngày 27/6/2017, Phạm Ngọc H bị Toà án nhân dân thị xã Điện Bàn xử 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” qui định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, chấp hành xong hình phạt ngày 16/5/2022 (chưa được xoá án tích) nên thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Phạm Ngọc Hoàng thành K khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự thú khai ra nhiều lần mua bán trái phép chất ma tuý cho các người nghiện khác đây chưa bị phát hiện; bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
[5] Về loại hình phạt áp dụng: Căn cứ vào tính chất của vụ án, mức độ và hậu quả hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và ren đe phòng ngừa chung đối với tội phạm này. Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, cha mẹ đều mất, vợ đã ly hôn, bị cáo đang phải chấp hành hình phạt tù nên không phạt tiền bổ sung.
[6] Về biện pháp tư pháp: Bị cáo bán ma tuý cho Lương Minh P thu lợi bất chính số tiền 18.500.000 đồng nên truy thu sung ngân sách nhà nước.
[7] Vấn đề khác có liên quan trong vụ án:
- Đối với hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của Lương Minh P và Mai Văn T2 đã được xét xử tại Bản án số 20/2024/HSST ngày 28/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Quế Sơn, hiện P và T2 đang chấp hành án.
- Đối với người tên T6 mà H khai đã bán ma tuý cho H, do không có cơ sở xác minh, làm rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không triệu tập làm việc được.
- Theo lời khai ban đầu của Lương Minh P và Huỳnh Văn H2: P và H2 khai nhiều lần mua ma tuý của H thì có T7 (anh ruột của H) là người giúp cho H giao ma tuý. Tuy nhiên sau đó P và H2 thay đổi lời khai là khi đến nhà H để mua ma tuý thì có gặp T7 vài lần ở nhà H nên khi Công an hỏi có biết ai giúp sức cho H bán ma tuý nữa không thì P và H2 khai là có Tèo, sau đó thấy việc khai như vậy là không đúng nên thay đổi lời khai và khẳng định T7 không giúp sức H trong việc bán ma tuý. Qua xác minh thì người tên T7 là Phạm Ngọc H3 (sinh 1971, tại Khối phố B, V, Đ, tỉnh Quảng Nam). Quá trình điều tra, Phạm Ngọc H và Phạm Ngọc H3 không thừa nhận H3 là người giúp sức cho H trong việc bán ma tuý. Mặt khác, Cơ quan CSĐT không thu thập được chứng cứ nào chứng minh H3 có hành vi giúp sức cho H nên không có cơ sở để xử lý. Hiện nay Phạm Ngọc H3 đã bị Cơ quan CSĐT Công an thị xã Đ khởi tố, tạm giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”trong vụ án khác.
- Đối với người tên T4 và S1 (ở H) mà H khai đã nhiều lần bán ma tuý cho họ, tuy nhiên không có thông tin, lai lịch, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không triệu tập làm việc được.
- Đối với người có tên Ba G (ở H) mà Huỳnh Văn H2 khai có mua ma tuý của H, qua xác minh thì Ba G có lai lịch là Nguyễn Thanh T8 ( sinh năm 1982; trú tại: Tổ A, khối P, phường S, thành phố H) hiện không có mặt tại địa phương nên không triệu tập làm việc được.
- Đối với Huỳnh Văn H2 khai trước đây nhiều lần mua ma tuý của Phạm Ngọc H để sử dụng. Tuy nhiên tại thời điểm hiện tại qua test nhanh thử nước tiểu thì Hội âm tính với ma tuý nên Cơ quan điều tra không xử phạt vi phạm hành chính đối với H2 về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
- Cơ quan điều tra đã có văn bản yêu cầu cung cấp thông tin đối với số thuê bao số điện thoại 0868.540.xxx mà H dùng để đăng ký tài khoản zalo liên lạc với P trong quá trình mua bán ma tuý nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả trả lời.
[8] Về án phí: Bị cáo Phạm Ngọc H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về trách nhiệm hình sự:
- - Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc H 16 (mười sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án (hiện tại bị cáo H đang bị tạm giam trong vụ án khác).
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- Truy thu sung ngân sách nhà nước tiền thu lợi bất chính của bị cáo Phạm Ngọc H số tiền 18.500.000 (mười tám triệu năm trăm nghìn) đồng.
- Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Buộc bị cáo Phạm Ngọc H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo gửi lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/02/2025). Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đinh Tấn Long |
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố phạm tội và xử phạt bị cáo
