TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2025/HS-ST Ngày 15/4/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Mai.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Tiến Dũng và bà Nguyễn Thị Quỳnh Châu.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Thủy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Nhân Đạo - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2025/TLST- HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST- HS ngày 17 tháng 3 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2025/HSST-QĐ ngày 31/3/2025 đối với Bị cáo:
Họ và tên: HÀ VĂN T (tên gọi khác: không);
Sinh ngày 11 tháng 4 năm 1980; tại: huyện T, tỉnh Phú Thọ;
Nơi cư trú: xóm T, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ;
Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: lớp 5/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Hà Văn V (đã chết) và bà Vũ Thị T1, sinh năm 1950.
Vợ: Vũ Thị Q, sinh năm 1984; Con: có 02 con (lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2010).
Tiền án: Có 01 tiền án. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 29/2023/HS-ST ngày 23/5/2023, Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xử phạt Hà Văn Thanh 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Tiền sự: Không;
Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật): Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/01/2024 đến ngày 14/01/2024, hiện Bị cáo đang thực hiện Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn. (có mặt tại phiên tòa)
Bị hại: cháu Vũ Minh H, sinh ngày 04/02/2008 (đã chết);
Người đại diện hợp pháp cho cháu H: Ông Vũ Văn H1, sinh năm 1980 (là bố đẻ của cháu H); Trú tại: xóm T, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
(có mặt)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Vũ Văn H1, sinh năm 1980; Trú tại: xóm T, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
(có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Về hành vi phạm tội của Bị cáo:
Khoảng 6 giờ 30 phút ngày 05/01/2024, Hà Văn T điều khiển xe ô tô tải BKS 26C-006.14 nhãn hiệu Cửu Long, màu sơn xanh đi thu mua gỗ keo tại xóm S, xã V, huyện T để bán cho xưởng gỗ của ông Lương Sơn H2 tại xóm M, xã V, huyện T.
Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe ô tô trên xe chở gỗ keo từ xóm S, xã V, huyện T về xưởng gỗ nhà ông H2, tại xóm M, xã V, huyện T. Khi T điều khiển xe ô tô đi qua cầu S, đến đoạn Km7 + 900 thuộc tỉnh lộ 316C thuộc xóm M, xã V, huyện T (đoạn đường này cong vòng sang trái theo hướng xã V đi xã T mặt đường trải nhựa apphan rộng 8,7m, trên mặt đường ở giữa có vạch sơn liền màu vàng chia mặt đường thành hai chiều đường xe chạy ngược chiều nhau), T đạp phanh xe, giảm tốc độ, bật đèn xi nhan bên trái chuyển hướng xe ô tô sang phần đường bên trái cách lối mở đi vào xưởng gỗ của ông H2 (nằm ở phía trong lề đường bên trái theo hướng đi của T) 27m. T điều khiển xe ô tô đi được khoảng 15m thì cho xe rẽ sang trái, hướng đi chếch chéo trên đường theo chiều từ phải sang trái theo hướng xã V đi xã T. Khi bánh xe ô tô phía trước bên trái đi đến mép đường bên trái theo hướng đi của T, đuôi xe hướng ra giữa đường thì có xe mô tô BKS 19C1 – 471.93 nhãn hiệu Hon da Wawe do cháu Vũ Minh H điều khiển đi đến phía sau xe ô tô, cách xe ô tô của T khoảng 30m thì xe mô tô của cháu H bị đổ xuống đường, cháu H ngã, văng trượt trên mặt đường, trượt vào gầm xe ô tô của T bị bánh xe phía sau bên trái xe ô tô do T điều khiển chèn lên người. Hậu quả, cháu H bị thương nặng được đưa đi cấp cứu nhưng đã tử vong trên đường đi.
Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông là đoạn đường cong vòng sang trái theo hướng khám nghiệm, mặt đường được trải nhựa áp phan rộng 8,7m, trên mặt đường có vạch liền màu vàng (vạch 1.2) chia mặt đường thành hai chiều xe chạy ngược chiều nhau. Chọn chiều khám nghiệm hiện trường theo hướng xã V, huyện T đi xã T, huyện T. Làn đường phải theo chiều khám nghiệm rộng 4,7m, tiếp đến là lề cỏ đất rộng 0,5m, tiếp đến là hộ lan bằng kim loại cao trung bình 0,7mx0,35m. Làn đường trái theo chiều
khám nghiệm rộng 4m, tiếp đến là lề cỏ đất rộng 1,3m, tiếp đến là hộ lan bằng kim loại cao trung bình 0,7mx0,35m, tiếp giáp lề đường bên trái theo chiều khám nghiệm có lối mở đi vào nhà ông Lương Sơn H2.
Chọn điểm gần nhất vuông góc với mép đường của chân cột biển báo cầu S km 8+20 ĐT316C làm điểm mốc (trên lề cỏ đất bên trái theo chiều khám nghiệm). Chọn mép đường trái theo chiều khám nghiệm làm mép đường chuẩn, điểm mốc cách mép đường chuẩn 0,9m.
Quá trình khám nghiệm xác định tại hiện trường các dấu vết cụ thể như sau:
- - Vị trí số 1: Là vết cày xước không liên tục trên mặt đường có hướng cùng hướng khám nghiệm, kích thước 0,2x0,02x0,001m. Từ điểm đầu vị trí số 1 đo đến mép đường chuẩn 1,13m, cách điểm mốc 16,4m.
- - Vị trí số 2: Là vết cày xước liên tục trên mặt đường có hướng cùng hướng khám nghiệm, chiều hướng từ phải sang trái, kích thước 0,11x0,02x0,001m. Từ điểm đầu vị trí số 2 đo cách mép đường chuẩn 0,75m, cách điểm đầu vị trí số 1 là 1,5m. Điểm cuối vị trí số 2 cách mép đường chuẩn 0,73m.
- - Vị trí số 3: Là vết cày xước liên tục trên mặt đường có hướng cùng hướng khám nghiệm, kích thước 0,13x0,02x0,001m. Điểm đầu vết cách mép đường chuẩn 0,2m, cách điểm đầu vị trí số 2 là 0,92m. Điểm cuối vị trí số 3 cách mép đường chuẩn 0,1m.
- - Vị trí số 4: Là vết chà trượt trên mặt đường có hướng chéo từ phải sang trái trên mặt có bám dính chất màu đen, kích thước 1,75x0,55m. Điểm đầu vết cách mép đường chuẩn 1m, cách điểm đầu vị trí số 3 là 0,9m.
- - Vị trí số 5: Là vết chà sát trên mặt đường có hướng chéo từ phải sang trái, kích thước 1,15x0,02m. Điểm đầu vết đến mép đường chuẩn 0,2m, điểm cuối vết đến mép đường chuẩn 0,2m. Điểm đầu vết cách điểm đầu vị trí số 4 là 0,7m.
- - Vị trí số 6: Là xe mô tô biển số 19C1-417.93, loại xe Honda Wave, màu sơn đen nằm đổ nghiêng sang phải trên lề đất lối mở vào nhà ông Lương Sơn H2. Trục trước xe mô tô cách mép đường chuẩn 1,65m. Trục sau xe mô tô cách mép đường chuẩn 0,4m, cách điểm đầu vị trí số 5 là 0,65m.
- - Vị trí số 7: Là xe ô tô tải màu xanh biển số 26C-006.14 đỗ trên lối mở nhà ông Lương Sơn H2, đầu xe hướng vào nhà ông H2, đuôi xe hướng ra đường. T2 trục trước bên trái xe ô tô cách mép đường chuẩn 4,3m. T2 trục sau bên trái xe ô tô cách mép đường chuẩn 1,05m, cách trục sau xe mô tô 1,06m, cách điểm mốc 19m.
- - Vị trí số 8: Là vùng chất dịch màu nâu đỏ dạng đọng trên lối mở vào nhà ông Lương Sơn H2, kích thước 0,15x0,25m. T2 vết cách mép đường chuẩn 1,2m, cách trục sau bên trái xe ô tô 0,95m, cách mặt lăn bánh lôp bên trái phía trước 0,45m.
- - Vị trí số 9: Là khu vực vật rơi (mũ bảo hiểm, dép) kích thước 0,6x0,5m. T2 vết cách mép chuẩn 1,85m, cách trục sau bên trái xe ô tô 1,85m.
Kết quả khám phương tiện giao thông:
- - Khám xe ô tô tải BKS 26C-006.14, nhãn hiệu Cửu Long: Trên thùng xe có chở cây gỗ. Đo từ vị trí cao nhất của cây gỗ trên thùng xe xuống mặt đất là 2,9m. Chiều dài thân xe khi có gỗ keo trên xe là 7,10m, đo từ mặt cuối thành thùng bên trái của xe đến điểm cuối của cây gỗ keo dài nhất trên thùng xe là 2,7m. Quá trình khám phương tiện có nhiều vết chà sát bong tróc sơn đã cũ, xe bám nhiều bụi bẩn. Tại mép ngoài lốp ô tô phía trong của dàn lốp thứ hai bên trái có bám dính chất dịch màu nâu đỏ đã khô, kích thước 2,2x2,5cm. Hệ thống phanh, hệ thống lái, đèn, còi hoạt động bình thường.
- - Khám xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, BKS 19C1-471.93: Xe không có gương chiếu hậu. Phần ốp nhựa phía trên mặt đồng hồ có vết bong tróc sơn dài 20cm, rộng 0,01cm. Phần đầu tay nắm phía trước bên phải có vết chà sát kim loại dài 2,5cm, rộng 02cm. Đầu tay phanh phía trước bên phải có vết chà sát kim loại không rõ chiều hướng, kích thước 1,5x1,5cm. Ốp nhựa đèn xi-nhan phía trước bên phải bị nứt vỡ, có vết chà sát, kích thước 21x10cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 94cm. Cánh yếm phía trước bên phải có vết chà sát dài 33cm, vị trí thấp nhất cách mặt đất 50cm. Đầu chắn bùn phía trước ốp kim loại có vết chà sát, kích thước 4x4cm. Để chân phía trước bên phải bị rách cao su, bám nhiều bụi bẩn, đầu để chân có vết chà sát kim loại, kích thước 3x0,01cm. Ốp kim loại bảo vệ ống giảm thanh có vết chà sát kim loại, kích thước 15x4cm. Hệ thống phanh lái hoạt động bình thường.
Ngày 05/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra quyết định số 18, số A, số 20 trưng cầu Phòng K Công an tỉnh P giám định nồng độ cồn, nguyên nhân chết và trưng cầu V1 giám định ma túy của tử thi Vũ Minh H.
Tại Kết luận giám định số 42/KLGĐTT-PC09 ngày 08/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận:
“Nguyên nhân chết của Vũ Minh H là do đa chấn thương (Chấn thương ngực kín, chấn thương bụng kín, gãy xương cánh tay phải”
Tại Kết luận giám định số 122/KL-KTHS ngày 19/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: “Trong mẫu máu của tử thi Vũ Minh H, sinh năm 2008; HKTT: Xóm T, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ gửi đến giám định không có cồn (ethanol)”.
Ngày 24/01/2024, V1 – Cục Q1 có kết luận giám định hóa pháp số 103/PY-XNĐH kết luận: “Không tìm thấy chất ma túy trong mẫu máu của Vũ Minh H.
Ngày 16/01/2024, Cơ quan điều tra đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh P giám định kỹ thuật số điện tử đối với tốc độ của xe mô tô BKS 149C1-471.93 và ô tô BKS 26C- 006.14. Tại Kết luận giám định số 145/KL-KTHS ngày 24/01/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P kết luận: Không đủ cơ sở xác định vận tốc của xe mô tô xuất hiện tại thời điểm 10 giờ 52 phút 29 giây ngày 05/01/2024 và xe ô tô xuất hiện tại thời điểm 10 giờ 52 phút 20 giây ngày 05/01/2024 (Theo thời gian hiển thị của video
"ban2_ch1_202401051052201_20240105105432.mp4” gửi giám định), do không có mẫu so sánh.
Cơ quan Công an đã tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở và xét nghiệm ma tuý trong nước tiểu của Hà Văn T ngay sau khi xảy ra vụ tai nạn. Kết quả kiểm tra và xét nghiệm xác định: Hà Văn T không sử dụng rượu bia, chất ma tuý khi tham gia giao thông.
Về Giấy phép lái xe của Hà Văn T:
Cơ quan CSĐT Công an huyện T xác minh tại Sở Giao thông vận tải tỉnh P: Ngày 03/5/2019, Sở giao thông vận tải tỉnh P đã cấp Giấy phép lái xe số [...], hạng C cho Hà Văn T, ngày hết hạn là 03/5/2024.
Cơ quan CSĐT Công an huyện T xác minh tại Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh P: Ngày 23/12/2023 Hà Văn T điều khiển xe ô tô tải BKS 26C – 006.14 vi phạm, chở hàng vượt phía sau thùng xe trên 10% chiều dài xe. Vi phạm điểm b khoản 2 Điều 24 của Ngị Định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hàng hải, giao thông đường bộ, đường sắt, hàng không dân dụng). Phòng C Công an tỉnh P đã lập biên bản vi phạm đối với Hà Văn T; tạm giữ Giấy phép lái xe ô tô hạng C số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh P cấp có giá trị đến ngày 03/5/2024 đồng thời hẹn T ngày 03/01/2024 đến phòng CSGT Công an tỉnh P để giải quyết vụ việc. Ngày 28/12/2023 phòng C Công an tỉnh P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số G01.831.308.007-981-23-004763/QĐ-XPHC xử phạt T số tiền 900.000 đồng và phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe thời hạn 02 tháng từ ngày 28/12/2023 đến ngày 28/02/2024.
Ngày 05/01/2024, T điều khiển xe ô tô tải BKS 26C – 006.14 tham gia giao thông thuộc trường hợp không có giấy phép lái xe.
Vật chứng của vụ án:
- - 01 xe ô tô tải, nhãn hiệu Cửu Long, màu sơn xanh, BKS:26C-006.14; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 6166092 của xe ô tô BKS: 26C-006.14. Ngày 05/3/2024, thu giữ của Hà Văn T. Ngày 05/3/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã trả lại cho Hà Văn T là chủ sở hữu của xe ô tô.
- - 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS 19C1-471.93 thu giữ của Vũ Minh H kèm theo các giấy tờ gồm: 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 19000449 do Công an xã V cấp ngày 18/9/2023 và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô, xe gắn máy số AA25/0839927. Ngày 05/3/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã trả lại xe mô tô cùng các giấy tờ liên quan các đồ vật, tài sản tạm giữ trên cho anh Vũ Văn H1 (là bố đẻ của H).
2. Các vấn đề khác:
Căn cứ hành vi phạm tội của Hà Văn T, ngày 06/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ đã quyết định Khởi tố vụ án, Khởi tố bị can đối với Hà Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (BLHS năm 2015).
Đối với cháu Vũ Minh H:
Ngày 05/01/2024, cháu H hỏi mượn xe mô tô BKS 19C1-471.93 để đi học nhưng bà Nguyễn Thị Hoài H3 (là mẹ để của cháu H) không đồng ý. Sau đó, bà H3 đi lên đồi cây sau nhà để làm việc thì cháu H đã tự ý lấy xe đi, bà H3 và gia đình không biết. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi tan học cháu H điều khiển chiếc xe mô tô trên để về nhà ở, khi đi đến km7+900 đường tỉnh lộ 316C thuộc xóm M, xã V, huyện T thì xảy ra tai nạn và tử vong. Quá trình tham gia giao thông, cháu H không có giấy phép lái xe theo quy định, đồng thời khi tham gia giao thông cháu H không đi bên phải theo chiều đi của mình. Hành vi của cháu H đã vi phạm quy định khoản 1 Điều 9 của Luật Giao thông đường bộ “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định..” và điểm b khoản 1 Điều 60 của Luật giao thông đường bộ “Người từ đủ 18 tuổi trở lên được lái xe mô tô hai bánh ... ”. Tuy nhiên, do cháu H đã tử vong nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T không đề cập xử lý.
Về xác minh tài sản, thu nhập của bị cáo:
Bị cáo sống chung cùng vợ trong căn nhà xây hai tầng, rộng khoảng 150m2, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Hà Văn T và vợ là Vũ Thị Q. Toàn bộ tài sản trong nhà là tài sản chung của vợ chồng. Bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị. Bị cáo là lao động tự do, thu nhập khoảng 250.000đ/ngày.
Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã tiến hành xác minh nguồn gốc chiếc xe ô tô, nhãn hiệu Cửu Long, màu sơn xanh, BKS 26C-006.14, kết quả: Chiếc xe trên đăng ký xe đứng tên anh Quàng Văn Đ (Sinh năm 1968; trú tại: bản N, xã S, huyện Y, tỉnh Sơn La). Năm 2017, do không có nhu cầu sử dụng nên anh Đ đã bán lại xe cho một người đàn ông không quen biết ở tỉnh Bắc Giang. Đến khoảng tháng 07/2023, chiếc xe ô tô trên được T mua lại từ người này. Khi mua chỉ thoả thuận bằng miệng, không có giấy tờ gì. Đăng ký xe hiện vẫn đứng tên anh Quàng Văn Đ. Xe ô tô có đầy đủ giấy tờ, nhưng T chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ.
Tiến hành tra cứu xe máy vật chứng, xác định: Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen, BKS 19C1-471.93 không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Đối với thiệt hại của xe mô tô trên, tại bản kết luận định giá tài sản 03/KL-HĐĐGTS ngày 18/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản – UBND huyện T kết luận: Tổng trị giá tài sản tiến hành định giá là: 105.000đ.
Về nguồn gốc chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đen, BKS 19C1- 471.93: Chiếc xe trên là tài sản chung của vợ chồng ông Vũ Văn H1 và bà Nguyễn Thị Hoài H3 là bố mẹ đẻ của Vũ Minh H, mua vào tháng 9/2023. Đăng ký xe đứng tên bà Nguyễn Thị Hoài H3. Ngày 05/3/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã trả lại xe mô tô cùng các giấy tờ liên quan các đồ vật, tài sản tạm giữ trên cho ông Vũ Văn H1.
Về bồi thường dân sự:
Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại gồm chi phí mai táng, tổn thất về tinh thần cho gia đình cháu Vũ Minh H số tiền 150.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của cháu H là ông Vũ Văn H1 là đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại tài sản là chiếc xe máy. Ông H1 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
3. Về trích dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát:
Tại Bản cáo trạng số: 08/CT-VKSThS ngày 18/02/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ đã truy tố Hà Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 của BLHS năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38; khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 của BLHS năm 2015. Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Đề nghị xử phạt bị cáo Hà Văn T từ 36 tháng đến 42 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tại bản án hình sự sơ thẩm số 29/2023/HS-ST ngày 23/5/2023 của Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là từ 06 (Sáu) năm đến 06 (Sáu) năm 06 (S) tháng tù.
Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ (từ ngày 05/01/2024 đến ngày 14/01/2024) và thời gian tạm giam (từ ngày 09/11/2022 đến ngày 17/01/2023) tại Bản án số 29/2023/HS-ST ngày 23/5/2023 của Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- - Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hà Văn T.
- - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 589, Điều 591 của Bộ luật dân sự. Xác nhận Bị cáo Hà Văn T đã tự nguyện, thoả thuận bồi thường thiệt hại tính mạng của cháu Vũ Minh H số tiền 150.000.000 đồng cho người đại diện hợp pháp là ông Vũ Văn H1. Ông H1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại của chiếc xe máy, nên không xem xét.
- - Về xử lý vật chứng: khoản 1, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- + Xác nhận ngày 05/3/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả cho bị cáo Hà Văn T 01 xe ô tô tải, nhãn hiệu Cửu Long, màu sơn xanh, BKS:26C-006.14; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 6166092 của xe ô tô BKS: 26C-006.14.
- + Xác nhận ngày 05/3/2024, cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả cho ông Vũ Văn H1 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS 19C1-471.93 tạm giữ của cháu Vũ Minh H kèm theo các giấy tờ gồm: 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 19000449 do Công an xã V cấp ngày 18/9/2023 và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô, xe gắn máy số AA25/0839927.
- - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 và Danh mục kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Hà Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Người đại diện hợp pháp cho bị hại:
Ông Vũ Văn H1 xác nhận, sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã bồi thường thiệt hại về tính mạng gồm chi phí mai táng, tổn thất tinh thần cho gia đình ông số tiền 150.000.000 đồng. Ông H1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về tài sản là chiếc xe máy và cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại nào khác. Ông H1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.
5. Bị cáo nói lời sau cùng:
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Những chứng cứ xác định có tội.
Tại phiên toà, Bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như nội dung Bản Cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung Cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai.
Lời khai nhận của Bị cáo thống nhất, phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, kết luận giám định, đồng thời phù hợp với lời khai của Người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ ngày 05/01/2024 tại đoạn đường thuộc Km 7+900 tỉnh lộ 316C thuộc xóm M, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Hà Văn T đã có hành vi điều khiển xe ô tô tải nhãn hiệu Cửu Long, màu sơn xanh, BKS 26C-006.14, cho xe chuyển hướng sang làn đường bên trái theo hướng đi của mình. Đây là đoạn đường có vạch sơn liền màu vàng ở giữa, các phương tiện tham gia giao thông không được phép chuyển hướng. Hậu quả, cháu Vũ Minh H điều khiển xe mô tô đi cùng chiều phía sau đi đến đã không kịp xử lý tình huống nên xe mô tô và người bị đổ, ngã ra đường rồi văng vào mặt lăn phía trước bánh xe phía sau bên trái xe ô tô T điều khiển, dẫn đến bánh xe ô tô chèn lên người cháu H, làm cháu H tử vong.
Đối với Hà Văn T,
ngày 03/5/2019, Sở giao thông vận tải tỉnh P đã cấp Giấy phép lái xe số [...], hạng C cho Hà Văn T, ngày hết hạn là 03/5/2024. Ngày 23/12/2023, Hà Văn T điều khiển xe ô tô tải BKS 26C – 006.14 vi phạm và bị Phòng C Công an tỉnh P lập biên bản vi phạm hành chính đồng thời tạm giữ Giấy phép lái xe ô tô hạng C. Ngày 28/12/2023 phòng C Công an tỉnh P ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số G01.831.308.007-981-23-004763/QĐ-XPHC xử phạt T số tiền 900.000 đồng và phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe thời hạn 02 tháng từ ngày 28/12/2023 đến ngày 28/02/2024. Ngày 05/01/2024, Hà Văn T điều khiển xe ô tô không có giấy phép lái xe.
Hành vi của Hà Văn T đã vi phạm quy định tại khoản 9 Điều 8 và điểm b khoản 2 Điều 58 của Luật giao thông đường bộ. Cụ thể:
Tại khoản 9 Điều 8 Luật giao thông đồng bộ quy định:
“Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm:
1. ....
9. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định”.
Tại điểm b khoản 2 Điều 58 Luật giao thông đường bộ quy định”
“Điều 58. Điều kiện của người lái xe tham gia giao thông:
1...
2. Người lái xe khi điều khiển phương tiện phải mang theo các giấy tờ sau:
a) ...
b) Giấy phép lái xe đối với người điều khiển xe cơ giới quy định tại Điều 59 của Luật này.”
Mặt khác, khi điều khiển xe T không chấp hành vạch kẻ đường, sang đường tại nơi không được lấn làn, không được sang đường, quay đầu xe. Theo quy định tại điều 52 Quy chuẩn QCNV41:2019/BGTVT ban hành kèm theo Thông tư số 54/2029/TT-
BGTVT “Vạch màu vàng nét liền: Đây là loại vạch đơn, nét liều, có màu vàng, dùng để phân chia hai chiều xe chạy ngược chiều. Các xe không được lấn làn, không được đè lên vạch”. Hành vi này của T đã vi phạm quy tắc chung của người tham gia giao thông được quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật giao thông đường bộ “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ”.
Bị cáo T nhận thức được việc thực hiện các hành vi trên là vi phạm pháp luật, có thể gây nguy hiểm cho xã hội và hậu quả là đã làm cho cháu Vũ Minh H tử vong.
Bị cáo thực hiện hành vi trong trạng thái tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Từ những nhận định nêu trên có đủ căn cứ xác định, hành vi của Hà Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 của BLHS năm 2015.
Tại điểm a khoản 2 Điều 260 quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết 01 người;
...
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;
...”
Đối với cháu Vũ Minh H:
Ngày 05/01/2024, cháu H hỏi mượn xe mô tô BKS 19C1-471.93 để đi học nhưng bà Nguyễn Thị Hoài H3 (là mẹ đẻ của cháu H) không đồng ý. Sau đó, bà H3 đi lên đồi cây sau nhà để làm việc thì cháu H đã tự ý lấy xe đi, bà H3 và gia đình không biết. Đến khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi tan học cháu H điều khiển chiếc xe mô tô trên để về nhà ở, khi đi đến km7+900 đường tỉnh lộ 316C thuộc xóm M, xã V, huyện T thì xảy ra tai nạn và tử vong. Quá trình tham gia giao thông, cháu H không có giấy phép lái xe theo quy định, đồng thời khi tham gia giao thông cháu H không đi bên phải theo chiều đi của mình. Hành vi của cháu H đã vi phạm quy định khoản 1 Điều 9 của Luật Giao thông đường bộ “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định..” và điểm b khoản 1 Điều 60 của Luật giao thông đường bộ “Người từ đủ 18 tuổi trở lên được lái xe mô tô hai bánh...”. Tuy nhiên, do cháu H đã tử vong nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T không đề cập xử lý là phù hợp.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
- - Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
- Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng bởi hành vi của Bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn công cộng, xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo gây hoang mang, lo lắng và bất bình trong nhân dân. Vì vậy, cần được đưa ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- - Về nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, Bị cáo có nhân thân xấu. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 29/2023/HS-ST ngày 23/5/2023, Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xử phạt Hà Văn T 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý trong thời gian đang chấp hành thời gian thử thách của án treo nên thuộc trường hợp tái phạm.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS năm 2015.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải đối với hành vi của mình; sau khi sự việc xảy ra Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình Bị hại, phía đại diện cho bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; mặt khác trong vụ án này bị hại cũng có lỗi. Nên cần cho Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS năm 2015 là phù hợp.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, xâm phạm đến tính mạng của người khác. Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần áp dụng khoản 1 Điều 38 của BLHS năm 2015, xử phạt Bị cáo hình phạt tù có thời hạn như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Ngoài ra, tại bản án hình sự sơ thẩm số 29/2023/HS-ST ngày 23/5/2023, Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xử phạt Hà Văn T 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Hiện bị cáo đang chấp hành thời gian thử thách của bản án số 29/2023/HS-ST. Do đó, sau khi quyết định hình phạt của bản án này cần tổng hợp với hình phạt của bản án bị cáo đang chấp hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 của BLHS năm 2015 là phù hợp.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của BLHS năm 2015 thì: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm
công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy, bị cáo không đảm nhiệm chức vụ, đã bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo là phù hợp.
[4]. Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo đã tự nguyện, thoả thuận bồi thường thiệt hại gồm chi phí mai táng và tổn thất tinh thần cho gia đình cháu Vũ Minh H số tiền 150.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp cho cháu H là ông Vũ Văn H1 đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm, không yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản là chiếc xe mô tô đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[5]. Về xử lý vật chứng:
- - 01 xe ô tô tải, nhãn hiệu Cửu Long, màu sơn xanh, BKS:26C-006.14; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 6166092 của xe ô tô BKS: 26C-006.14. Ngày 05/3/2024, thu giữ của Hà Văn T. Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã tiến hành xác minh nguồn gốc chiếc xe ô tô, nhãn hiệu Cửu Long, màu sơn xanh, BKS 26C-006.14, kết quả: Chiếc xe trên là của anh Quàng Văn Đ (Sinh năm 1968; trú tại: bản N, xã S, huyện Y, tỉnh Sơn La). Năm 2017, do không có nhu cầu sử dụng nên anh Đ đã bán lại xe cho một người đàn ông không quen biết ở tỉnh Bắc Giang. Đến khoảng tháng 07/2023, chiếc xe ô tô trên được T mua lại từ người này. Khi mua chỉ thoả thuận bằng miệng, không có giấy tờ gì. Đăng ký xe hiện vẫn đứng tên anh Quàng Văn Đ. Xe ô tô có đầy đủ giấy tờ, nhưng T chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Ngày 05/3/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã trả lại cho Hà Văn T là chủ sở hữu của xe ô tô là phù hợp, cần xác nhận.
- - 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS 19C1-471.93 tạm giữ của cháu Vũ Minh H kèm theo các giấy tờ gồm: 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 19000449 do Công an xã V cấp ngày 18/9/2023 và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô, xe gắn máy số AA25/0839927. Cơ quan điều tra đã xác định được, chiếc xe trên là tài sản chung của vợ chồng ông Vũ Văn H1 và bà Nguyễn Thị Hoài H3 là bố mẹ đẻ của cháu Vũ Minh H, mua vào tháng 9/2023. Đăng ký xe đứng tên bà Nguyễn Thị Hoài H3. Ngày 05/3/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện T đã trả lại xe mô tô cùng các giấy tờ liên quan các đồ vật, tài sản tạm giữ trên cho ông Vũ Văn H1 (là bố đẻ của H) là phù hợp, cần xác nhận.
[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ kết tội:
- - Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38; khoản 2 Điều 56, khoản 5 Điều 65 của BLHS năm 2015.
- - Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Trách nhiệm hình sự, hình phạt:
- - Xử phạt bị cáo Hà Văn T 03 (Ba) năm 02 (Hai) tháng tù.
Tổng hợp với hình phạt 03 (Ba) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tại bản án hình sự sơ thẩm số 29/2023/HS-ST ngày 23/5/2023 của Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 06 (Sáu) năm 02 (Hai) tháng tù.
Bị cáo được trừ thời gian tạm giữ (từ ngày 05/01/2024 đến ngày 14/01/2024) và thời gian tạm giam (từ ngày 09/11/2022 đến ngày 17/01/2023) tại Bản án số 29/2023/HS-ST ngày 23/5/2023 của Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- - Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hà Văn T.
3. Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng Điều 584, Điều 585, Điều 589, Điều 591 của Bộ luật dân sự.
Xác nhận Bị cáo Hà Văn T đã tự nguyện, thoả thuận bồi thường thiệt hại tính mạng cháu Vũ Minh H (gồm chi phí mai táng và tổn thất tinh thần) với số tiền 150.000.000 đồng cho người đại diện hợp pháp là ông Vũ Văn H1.
4. Về xử lý vật chứng:
khoản 1, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Xác nhận ngày 05/3/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả cho bị cáo Hà Văn T 01 xe ô tô tải, nhãn hiệu Cửu Long, màu sơn xanh, BKS:26C-006.14; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 6166092 của xe ô tô BKS: 26C-006.14.
- - Xác nhận ngày 05/3/2024, cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả cho ông Vũ Văn H1 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, BKS 19C1-471.93 thu giữ của Vũ Minh H kèm theo các giấy tờ gồm: 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 19000449 do Công an xã V cấp ngày 18/9/2023 và 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô, xe gắn máy số AA25/0839927.
5. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 và Danh mục kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Buộc bị cáo Hà Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, Người đại diện hợp pháp cho Bị hại, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Mai |
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
