TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2025/HS-ST.
Ngày 26- 3- 2025.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁÍ
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tòng Văn Quân.
Các Hội thẩm thân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Tuấn.
2. Bà Lìm Thị Nhung.
- Thư ký phiên toà: Ông Lý A Dà - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải tham gia phiên toà: Ông Giàng A Sinh- Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2025/TLST- HS ngày 27 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2025/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Sùng Thị C- Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1982, tại huyện M, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Bản H, xã C, huyện M, tỉnh Yên Bái; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Sùng Hùa N và bà Giàng Thị M (Đều đã chết); Có chồng là Giàng A P, sinh năm 1982 và 02 con (con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2015); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/10/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Y. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Ngọc L- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Y. Có mặt.
- Người làm chứng:
- + Anh Giàng A D, sinh năm 1999; Trú tại: Bản H, xã C, huyện M, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
- + Anh Giàng A T, sinh năm 1990; Trú tại: Bản C, xã C, huyện M, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.
- Người phiên dịch: Ông Thào A D1, sinh năm 1979; Trú tại: Tổ E, thị trấn M, huyện M, tỉnh Yên Bái. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 06/10/2024, tại khu vực cuối bản Háng Tày, xã C, huyện M, tỉnh Yên Bái Sùng Thị C gặp và mua của một người đàn ông, dân tộc Thái, khoảng 45 tuổi, không quen biết 01 gói Heroine và 01 gói thuốc phiện với số tiền 1.700.000 đồng. Sau khi mua được ma túy Sùng Thị C mang số ma túy đã mua được về nhà cất giấu, sau khi về đến nhà, Sùng Thị C lấy Heroine đã mua được ra dùng móng tay cấu một phần của cục H chia thành 12 gói nhỏ, phần còn lại Cha gói lại bằng mảnh nilon ban đầu và cất giấu cùng với gói thuốc phiện vào chiếc bát để trên đầu giường ngủ với mục đích có ai mua thì bán kiếm lời và đã bán 02 lần, cụ thể:
Lần 1: Khoảng 08 giờ ngày 08/10/2024, Sùng Thị C đã bán cho Giàng A D 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng.
Lần 2: Khoảng 15 giờ cùng ngày, Sùng Thị C đã bán cho Giàng A T 04 gói Heroine với giá 200.000 đồng.
Đến khoảng 16 giờ 40 phút ngày 08/10/2024, tổ công tác Công an xã C, huyện M, tỉnh Yên Bái làm nhiệm vụ tại bản Háng Tày, xã C, huyện M, phát hiện tại nhà ở của Sùng Thị C có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện và thu giữ của Sùng Thị C: 01 gói nilon màu trắng buộc thắt nút một đầu, bên trong có chứa chất bột nén màu trắng; 01 gói nilon màu đen buộc thắt nút một đầu, bên trong có 07 gói nilon màu trắng, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột nén màu trắng; 01 gói nilon màu hồng buộc thắt nút một đầu, bên trong có 01 mảnh nilon màu trắng có chứa chất nhựa dẻo màu nâu đen; tiền có chữ Ngân hàng N1 4.291.000 đồng; 01 điện thoại di động và 01 túi vải màu đen. Sùng Thị C khai nhận các gói bên trong có chứa chất bột nén màu trắng và gói có chứa nhựa dẻo màu nâu đen thu giữ trên là Heroine và thuốc phiện của bản thân cất giấu với mục đích để bán kiếm lời.
Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M, tỉnh Yên Bái tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật đối với Sùng Thị C. Quá trình khám xét không phát hiện thu giữ đồ vật, tài sản gì.
* Tại bản Kết luận giám định số: 641/KL-KTHS ngày 17 tháng 11 năm 2024 của phòng K Công an tỉnh Y kết luận:
1. Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Sùng Thị C trong gói nilon màu trắng có khối lượng là 1,68 gam.
- 0,1 gam trích từ 1,68 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.
2. Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Sùng Thị C trong gói nilon màu đen có tổng khối lượng là: 0,16 gam
- 0,1 gam trích từ 0,16 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.
3. Chất nhựa dẻo màu nâu thu giữ khi bắt quả tang Sùng Thị C có khối lượng là: 5,3 gam
- 0,3 gam trích từ 5,3 gam chất nhựa dẻo màu nâu gửi giám định là ma túy; là thuốc phiện.
* Tại bản Kết luận giám định số: 638/KL-KTHS ngày 17 tháng 10 năm 2024 của phòng K Công an tỉnh Y kết luận:
- Số tiền gửi giám định là: 4.291.000 đồng gồm nhiều tờ tiền Việt Nam mệnh giá khác nhau đều là tiền thật.
Cáo trạng số: 13/CT- VKS- MCC ngày 25 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải truy tố Sùng Thị C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đã phân tích, đánh giá hành vi của bị cáo trong quá trình thực hiện tội phạm và giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Sùng Thị C từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Do bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tiêu huỷ vật chứng là ma tuý; 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong, các mảnh nilon gói; 01 túi vải màu đen, đã qua sử dụng.
- Đối với số tiền 4.291.000 đồng thu giữ của bị cáo (Trong đó: 250.000 đồng là tiền phạm tội mà có, cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước; số tiền còn lại 4.041.000 đồng là tiền thu nhập hợp pháp của bị cáo cần trả lại cho bị cáo).
- Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, màu vàng đồng, mặt sau của điện thoại có ký hiệu OPPO, đã qua sử dụng.
Người bào chữa trình bày lời bào chữa nhất trí với tội danh và điều khoản truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số, không biết chữ, nhận thức pháp luật còn hạn chế; Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo; T1 khai ra hành vi phạm tội khác của bản thân khi chưa bị phát hiện. Đề nghị Tòa án áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cân nhắc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo với mức án thấp nhất của khung hình phạt về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo thuộc hộ nghèo, là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa và không có ý kiến bổ sung.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải, Kiểm sát viên; trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các thành viên của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thủ tục tố tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, với biên bản thu giữ vật chứng, với kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 06/10/2024, Sùng Thị C đã mua 01 lượng Heroine và thuốc phiện với giá 1.700.000 đồng đồng của một người đàn ông không quen biết, mục đích để bán kiếm lời. Cụ thể: Sùng Thị C đã bán 02 lần: Lần 1: Khoảng 08 giờ ngày 08/10/2024, Sùng Thị C đã bán cho Giàng A D 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng; Lần 2: Khoảng 15 giờ cùng ngày, Sùng Thị C đã bán cho Giàng A T 04 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Số ma tuý còn lại là 1,84 gam Heroine và 5,3 gam thuốc phiện bị cáo cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[3]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc “Mua bán trái phép chất ma tuý” là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm quy định của Nhà nước về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh phòng, chống ma tuý, mà còn làm gia tăng tệ nạn nghiện ma tuý, là nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh các loại tội phạm khác trên địa bàn, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; T1 khai ra hành vi phạm tội khác của bản thân khi chưa bị phát hiện nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, được Hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt.
[5]. Về nhân thân: Bị cáo Sùng Thị C là phụ nữ dân tộc thiểu số, không biết chữ, hiểu biết xã hội còn hạn chế, chưa có tiền án, tiền sự ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành chính sách pháp luật của Nhà nước, thể hiện bị cáo là người có nhân thân tốt.
[6]. Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời cũng đảm bảo răn đe, phòng ngừa chung.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, không có khả năng, điều kiện thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8]. Các vấn đề khác liên quan đến vụ án:
Đối với khối lượng ma túy bị cáo Sùng Thị C đã bán cho Giàng A D và Giàng A T vào ngày 08/10/2024, do D và T đã sử dụng hết, khi mua bán C, D và T không cân để xác định thực tế khối lượng nên không đủ căn cứ để xử lý.
Đối với Giàng A D và Giàng A T đều là người nghiện ma túy ngày 08/10/2024 đã đến nhà Sùng Thị C mua ma túy để sử dụng cho bản thân, Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu đến Công an huyện M, tỉnh Yên Bái ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Giàng A D và Giàng A T về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp.
Đối với người bán ma túy cho Sùng Thị C, quá trình điều tra bị cáo khai nhận không biết tên, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng của người này nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác minh, điều tra làm rõ.
[9]. Về xử lý vật chứng:
- Số ma tuý còn lại là 1,64 gam Heroine và 05 gam thuốc phiện được niêm phong vào 01 phong bì do phòng K Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước phong bì có ghi: Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Sùng Thị C tại bản Háng Tày, xã C, huyện M, tỉnh Yên Bái ngày 08/10/2024” (Sau khi trích mẫu giám định). Là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.
- 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong, các mảnh nilon gói; 01 túi vải màu đen, đã qua sử dụng. Không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
- 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, màu vàng đồng, mặt sau của điện thoại có ký hiệu OPPO, đã qua sử dụng. Là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến vụ án cần trả lại cho bị cáo.
- Số tiền 4.291.000 đồng thu giữ của bị cáo (Trong đó: 250.000 đồng là tiền phạm tội mà có, cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước; số tiền còn lại 4.041.000 đồng là tiền thu nhập hợp pháp của bị cáo cần trả lại cho bị cáo).
[10]. Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
[11]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Sùng Thị C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý "
1. Về hình phạt:
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Sùng Thị C 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 09/10/2024.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu huỷ: Khối lượng Heroine còn lại là 1,64 gam Heroine và 05 gam thuốc phiện được niêm phong vào 01 (một) phong bì do phòng K Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước phong bì có ghi: Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Sùng Thị C tại bản Háng Tày, xã C, huyện M, tỉnh Yên Bái ngày 08/10/2024” (Sau khi trích mẫu giám định). Mặt sau phong bì các mép được dán kín có chữ ký họ tên của Lê Tiến D2, Hoàng Hữu Quốc T2, Nguyễn Ngọc L, Đoàn Xuân T3, Trần Nhật T4 và 04 hình dấu tròn đỏ của phòng K Công an tỉnh Y; 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong, các mảnh nilon gói; 01 túi vải màu đen, đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng).
- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, màu vàng đồng, mặt sau của điện thoại có ký hiệu OPPO, đã qua sử dụng và 4.041.000 đồng (Bốn triệu không trăn bốn mươi mốt nghìn đồng).
3. Về án phí:
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
Bị cáo Sùng Thị C được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Tòng Văn Quân |
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 06/10/2024, Sùng Thị C đã mua 01 lượng Heroine và thuốc phiện với giá 1.700.000 đồng đồng của một người đàn ông không quen biết, mục đích để bán kiếm lời. Cụ thể: Sùng Thị C đã bán 02 lần: Lần 1: Khoảng 08 giờ ngày 08/10/2024, Sùng Thị C đã bán cho Giàng A D 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng; Lần 2: Khoảng 15 giờ cùng ngày, Sùng Thị C đã bán cho Giàng A T 04 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Số ma tuý còn lại là 1,84 gam Heroine và 5,3 gam thuốc phiện bị cáo cất giấu nhằm mục đích bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”
