Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HIỆP HÒA

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 12/2025/HS-ST

Ngày 11-03-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA - TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nhường.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Thế Hanh.

2. Ông Nguyễn Xuân Trường.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Triệu - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên toà: Ông Vũ Đình Ước - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 07 tháng 3 năm 2025 và 11 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 104/2024/HSST ngày 25 tháng 11 năm 2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2024/QĐXXST - HS ngày 02 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2015/QÐST-HS ngày 07/02/2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn Đ; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1980; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: xóm V, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn L (đã chết); Họ tên mẹ: Mẫn Thị N, sinh năm 1942; Vợ: Hoàng Thị T, sinh năm 1985; Bị cáo có 3 con (con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2023); Gia đình có 7 anh chị em, bị cáo là con thứ 6.

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị khởi tố và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh. Có mặt tại phiên tòa

2. Họ và tên: Chu Văn N1; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1994; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: tổ dân phố số C, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Chu Văn Q, sinh năm 1969; Họ tên mẹ: Vũ Thị G, sinh năm 1971; Vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1998; Bị cáo có 3 con (con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2024); Gia đình có 2 anh chị em, bị cáo là con thứ 2;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 01/9/2014, Công an huyện H xử phạt hành chính 750.000 đồng về hành vi “Đánh nhau, xúi giục đánh nhau” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 74-QĐ/XPHC; xác minh tại Kho bạc Nhà nước huyện H không có thông tin, tài liệu thể hiện Chu Văn N1 đã chấp hành quyết định.
  • - Ngày 26/6/2020, Phòng C1 Công an tỉnh B xử phạt hành chính 4.000.000 đồng về hành vi “Đưa tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác cho người thi hành công vụ để trốn tránh việc xử lý vi phạm hành chính” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPVPHC; đã chấp hành xong ngày 02/7/2020.
  • - Ngày 26/6/2020, Công an tỉnh B xử phạt hành chính 10.000.000 đồng về hành vi “Cho vay tiền có cầm cố tài sản nhưng lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng N3 công bố tại thời điểm cho vay” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 188/QĐ-XPVPHC; đã chấp hành xong ngày 02/7/2020.
  • - Ngày 25/10/2022, Công an huyện H xử phạt hành chính 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 101/QĐ-XPHC; đã chấp hành xong ngày 18/11/2022.

Bị cáo bị khởi tố và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
  2. Anh Ngọ Văn H, sinh năm 1968. Vắng mặt.
  3. Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
  4. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1974. Vắng mặt.
  5. Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

- Người làm chứng:

  1. Ông Lê Văn L1, sinh năm 1977.Vắng mặt.
  2. Địa chỉ: Thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

  3. Anh Vương Minh T2, sinh năm 1981.Vắng mặt.
  4. Địa chỉ: Thôn P, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.

  5. Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1982. Vắng mặt.
  6. Địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 12/5/2022, bị cáo Nguyễn Văn Đ thuê kho xưởng của Công ty Cổ phần T3 có địa chỉ tại khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh để buôn bán phế liệu. Đễ kinh doanh được khoảng một năm thì bị thua lỗ nên kho bỏ trống không sử dụng. Đến cuối năm 2023, Đ thấy nhiều gia đình ở xã V, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh bỏ các bao tải lớn (gọi là lồ) chứa chất thải rắn dạng bột màu đen xám phát sinh từ quá trình luyện, tái chế kim loại phế liệu ở rìa đường nên đã thu gom, vận chuyển về kho đã thuê của Công ty T3 để sàng lọc lấy tạp chất kim loại còn sót lại rồi bán kiếm lời. Tuy nhiên, sau khi thu gom Đ không thuê được máy móc để sàng lọc nên đã nảy sinh ý định chôn lấp chất thải xuống đất để ngấm nước một thời gian sau đó mang đi bán cho các nhà máy sản xuất gạch.

Đến giữa tháng 4 năm 2024, Đ gặp bị cáo Chu Văn N1. Qua nói chuyện nhiều lần Đ biết N1 làm công việc mua bán, vận chuyển đất, cát, sỏi nên Đ cho N1 xem hình ảnh chất thải và rủ N1 cùng hợp tác chôn lấp, ủ chất thải mà Đ đã thu gom để bán kiếm lời thì N1 đồng ý. Đễ và N1 thỏa thuận Đễ chịu trách nhiệm vận chuyển chất thải, N1 tìm vị trí và máy móc để chôn lấp chất thải xuống đất. Sau mỗi chuyến xe chất thải được chôn lấp Đễ trả tiền công bồi dưỡng và chi phí máy móc cho N1. Sau đó, N1 liên lạc với bà Nguyễn Thị V là Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn P, địa chỉ tại thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang (Công ty P) để mượn bãi tập kết cát bỏ trống của Công ty P. Khi hỏi mượn bãi N1 không nói với bà V về việc sử dụng bãi để chôn lấp chất thải mà chỉ nói dùng để đổ đất, đá, gạch vụn của công trình xây dựng nên bà V đồng ý cho N1 mượn. N1 thông báo cho Đ về việc tìm được vị trí chôn lấp và thỏa thuận khi nào có xe chở chất thải thì Đ thông báo cho N1 để chuẩn bị hố chôn lấp.

Để thực hiện việc vận chuyển chất thải, Đ thuê xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 98C-302.99 kéo theo sơ mi rơmooc biển kiểm soát 98R- 028.31 của anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1982, địa chỉ thôn Đ, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang (do anh Vương Minh T2, sinh năm 1981, địa chỉ thôn P, xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang là lái xe) và xe ô tô đầu kéo theo sơ mi rơ mooc của một người đàn ông không rõ lai lịch Đễ gặp trên đường tại thành phố T, tỉnh Bắc Ninh với giá thuê mỗi chuyến là 2.000.000 đồng. Ngày 28/4/2024, Đ gọi điện cho N1 bảo chuẩn bị hố để chiều tối có xe chở chất thải về đổ, đồng thời gọi điện cho các xe đã thuê đến chở chất thải. Buổi chiều cùng ngày, Đ đưa các xe đến kho chứa chất thải tại khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh để chở chất thải đến vị trí chôn lấp tại thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Khi Đ thông báo có xe chở chất thải đến thì khoảng 16 giờ chiều cùng ngày N1 xuống khu vực bãi cát của Công ty P thì thấy anh Lê Văn L1, sinh năm 1977, địa chỉ thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang (là công nhân lái máy xúc của Công ty P) đang điều khiển máy xúc nhãn hiệu Komatsu 200, màu vàng (của Công ty P) dọn đất đá tại bãi soi ven sông C ngay trước cổng vào bãi cát Công ty P. Thấy vậy, N1 bảo anh L1 khi nào dọn đất đá xong thì múc cho N1 một hố đất để đổ xỉ than, N1 sẽ trả công cho anh L1. Anh L1 biết N1 là khách quen của Công ty P nên đồng ý múc hố đất giúp mà không nhận tiền công. Khoảng 17 giờ cùng ngày, sau khi dọn đất đá xong, anh L1 điều khiển máy xúc múc một hố đất sâu khoảng 04m, đường kính khoảng 03m ở vị trí trong bãi soi, cách mép sông C khoảng 10m rồi để máy xúc lại và đi về nhà. Lúc này, tại kho ở khu phố Đ, phường C, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, sau khi đổ đầy chất thải lên thùng xe ô tô, Đ cùng đi để chỉ đường cho lái xe chở chất thải đến vị trí chôn lấp mà N1 đã chuẩn bị. Khi đến khu vực xã H, huyện H, Đ gọi điện cho N1 ra đón và chỉ cho xe chở chất thải đến đổ tại hố chôn lấp mà N1 đã nhờ anh Lý M sẵn trước đó. Đ và N1 tiếp tục chờ xe ô tô thứ hai (do anh T2 điều khiển) đến đổ chất thải xuống hố rồi ra về.

Bằng cách thức như trên, vào buổi tối các ngày 03/5/2024, 05/5/2024, 11/5/2024, Đ và N1 đã cùng thực hiện việc vận chuyển, chôn lấp thêm 06 chuyến xe chở chất thải tại vị trí chôn lấp nêu trên (mỗi ngày 02 chuyến). Mỗi lần xe về đổ chất thải xong, N1 đều gọi điện thoại nhờ anh Lý L2 hố, khi nào hố đổ đầy chất thải thì anh L1 lấp kín hố và múc hố mới. Ở các lần chôn lấp chất thải sau ngày 28/4/2024, N1 và Đ chỉ liên lạc qua điện thoại, không trực tiếp đến vị trí chôn lấp. Đến ngày 11/5/2024, Đ đã thanh toán tiền công cho N1 03 lần, mỗi lần 12.000.000 đồng. Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 15/5/2024, anh T2 điều khiển xe chở chất thải từ kho của Đ đến đổ tại vị trí chôn lấp như các lần trước tại xã H, huyện H thì thấy không có hố để đổ chất thải vì anh L1 chưa kịp đào. Trong lúc anh T2 chờ đổ chất thải thì người dân ở khu vực xung quanh phát hiện và báo Công an huyện H đến kiểm tra, thu giữ xe và chất thải trên xe của anh T2 đang chở là 25.910kg; tiến hành thu mẫu chất thải rắn ký hiệu CTRM01.1, CTRM01.2, CTRM01.

Ngày 16/5/2024 và ngày 17/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H tiến hành cho anh Vương Minh T2 và Nguyễn Văn Đ xác định địa điểm kho chứa chất thải để vận chuyển đến xã H, huyện H chôn lấp; đồng thời tiến hành thu mẫu chất thải tại kho ký hiệu MK1, MK2, MK3, MK4.

Từ ngày 18/5/2024 đến ngày 23/5/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, phát hiện và thu giữ toàn bộ số chất thải được Đ và N1 chôn lấp tại bãi soi thuộc xóm D, thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Hiện trạng khu đất có diện tích 1.365,4m², vị trí nằm giữa đê sông C và mặt nước sông C có chiều hướng tiếp giáp như sau: Hướng Tây Nam khu đất tiếp giáp với đường đê trải bê tông (rộng 4,5m), mặt Tây Nam khu đất có kích thước là 38,34m; hướng Đông Bắc khu đất tiếp giáp với sông C, mặt Đông Bắc có kích thước là 23,28m, từ vị trí mép ngoài khu đất ra đến mặt nước sông Cầu là 3m; hướng T khu đất tiếp giáp với Công ty P, mặt T có kích thước 48,84m; hướng Đông Nam khu đất tiếp giáp với bãi đất trống trồng cây, mặt Đông Nam khu đất có kích thước 40,86m. Quá trình khám nghiệm phát hiện 02 hố chôn lấp chất thải cạnh nhau có diện tích lần lượt là 87,5m² và 105,5m². Việc khám nghiệm, thu giữ chất thải có sự tham gia thực hiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn M1, địa chỉ lô D, khu đô thị Đ, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bắc Ninh (Công ty M1) theo hợp đồng dịch vụ thu gom, xử lý chất thải số 02 /240921/HĐDV/VT-CAHH ngày 20/5/2024 giữa Công ty M1 và Công an huyện H và hợp đồng số 03 /240921/HĐDV/VT ngày 20/5/2024 giữa Nguyễn Văn Đ, Chu Văn N1 và Công ty M1. Số chất thải thu giữ 218 lồ chứa chất thải có tổng khối lượng là 195.540 kg, ngoài ra còn thu giữ 27 lồ chứa đất lẫn chất thải có tổng trọng lượng 24.430 kg. Cơ quan điều tra tiến hành thu mẫu chất thải rắn ký hiệu CTRT01.1, CTRT01.2, CTRT01.3.

Ngày 28/5/2024, Cơ quan điều tra xác minh tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H xác định vị trí hố chôn lấp chất thải phát hiện thuộc thửa đất số 5, tờ bản đồ số 4, diện tích 400m², loại đất lợi hà (đất triền sông) thuộc địa phận Bãi Soi, xóm D, thôn H, xã H; thửa đất thuộc quỹ đất công ích do Ủy ban nhân dân xã Q1 đã cho ông Ngọ Văn H, sinh năm 1968, địa chỉ thôn H, xã H thuê trong thời hạn 05 năm với mục đích trồng cây hằng năm, cây lâu năm theo Hợp đồng số 05/HĐ-UBND ngày 30/5/2022. Ông Ngọ Văn H cho Công ty P mượn địa điểm để tập kết cát sỏi, vật liệu xây dựng.

Ngày 20/6/2024, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cung cấp thông tin: Khu vực xảy ra chôn lấp chất thải tại bãi soi ở xóm D, thôn H, xã H, huyện H không nằm trong quy hoạch khu xử lý chất thải của tỉnh.

Tại Kết luận giám định số 3926/KL-KTHS ngày 05/6/2024 của V1 Bộ C2 kết luận: “Căn cứ khoản 10, Điều 3, Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường thì các mẫu ký hiệu CTRT01.1, CTRT01.2, CTRT01.3, CTRM01.1, CTRM01.2, CTRM01.3, MK1, MK2, MK3, MK4 đều là chất thải rắn thông thường. Hiện nay, V1 không có căn cứ để xác định hậu quả của việc chôn lấp số chất thải trên ra môi trường”.

Tại Báo cáo kết quả thực hiện quan trắc môi trường tại bãi soi ở xóm D, thôn H, xã H, huyện H, Trung tâm Quan trắc tài nguyên và môi trường tỉnh B kết luận: “Môi trường đất: Các thông số đo, phân tích đều nằm trong giới hạn cho phép so với QCVN 03:2023/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng đất)".

Ngày 16/5/2024, anh Nguyễn Văn H1 giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc điện thoại OPPO Reno 2, số IMEI1: 863851049313630, IMEI 2: 863851049313632 của anh H1; kết quả kiểm tra điện thoại ngày 27/5/2024 thể hiện tại ứng dụng VCOMSAT về quản lý hành trình xe trên điện thoại thể hiện dữ liệu dừng đỗ xe ô tô biển kiểm soát 98C- 302.99 do anh Vương Minh T2 điều khiển có 05 lần đến khu vực kho chất thải của Đ tại thành phố T, tỉnh Bắc Ninh sau đó đến khu vực bãi soi ở xóm D, xã H vào các ngày 28/4/2024, 03/5/2024, 05/5/2024, 11/5/2024, 15/5/2024.

Ngày 16/5/2024, anh Vương Minh T2 giao nộp cho Cơ quan điều tra chiếc điện thoại Redmi Note 11S của anh T2; kết quả kiểm tra điện thoại ngày 27/5/2024 thể hiện tại ứng dụng Zalo có dữ liệu ngày 28/4/2024 Đ nhắn tin cho anh T2 vị trí chôn lấp chất thải tại bãi soi ở xóm D, xã H.

Ngày 17/5/2024, Nguyễn Văn Đ giao nộp cho Cơ quan điều tra chiếc điện thoại Iphone 14 Promax của Đ; kết quả kiểm tra điện thoại không có dữ liệu gì liên quan đến vụ án do Đ đã xóa dữ liệu.

Ngày 16/7/2024, 08/8/2024, Tập đoàn C3 (V2) cung cấp thông tin thể hiện từ ngày 15/4/2024 đến hết ngày 15/5/2024, giữa Đ và N1; giữa N1 và anh Lê Văn L1 thường xuyên liên lạc với nhau qua số thuê bao điện thoại.

Ngày 11/6/2024, Ngân hàng N4- Chi nhánh T4 cung cấp thông tin giao dịch tài khoản ngân hàng của Nguyễn Văn Đ; ngày 10/6/2024, Ngân hàng N4- Chi nhánh H2 cung cấp thông tin giao dịch tài khoản ngân hàng của Chu Văn N1, thể hiện các ngày 29/4/2024, 04/5/2024, 12/5/2024 mỗi ngày Đ chuyển khoản cho N1 12.000.000 đồng, tổng là 36.000.000 đồng. N1 đã nộp lại 36.000.000 đồng nhận của Đ cho Cơ quan điều tra.

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn Đ, Chu Văn N1 khai nhận cùng thực hiện hành vi chôn lấp chất thải rắn thông thường như đã nêu trên.

Về khắc phục hậu quả: Quá trình điều tra phát sinh chi phí thu gom, vận chuyển chất thải trong quá trình khám nghiệm hiện trường theo hợp đồng giữa Chu Văn N1, Nguyễn Văn Đ và Công ty M1 là 213.400.000 đồng; Đ đã thanh toán 213.000.000 đồng cho Công ty M1 (Công ty M1 giảm cho Đ số tiền 400.000 đồng); quá trình xử lý chất thải phát sinh chi phí xử lý chất thải rắn thông thường theo hợp đồng giữa N1, Đ và Công ty V3 là 595.770.000 đồng; Đ đã thanh toán 595.770.000 đồng cho Công ty V3. Tại Cơ quan điều tra, N1 và Đ thỏa thuận đối với chi phí thu gom, vận chuyển chất thải, N1 và Đ thỏa thuận N1 chịu một nửa và có trách nhiệm thanh toán lại cho Đ số tiền 106.500.000 đồng. Tại giai đoạn truy tố, N1 giao nộp 01 biên lai số 0001610 ngày 20/11/2024 thể hiện Nhật nộp 100.000.000 đồng vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa để khắc phục hậu quả. Đối với chi phí xử lý chất thải rắn thông thường Đễ là chủ nguồn chất thải đã thanh toán xong không có yêu cầu, đề nghị gì.

Về dân sự: Ủy ban nhân dân xã H không có yêu cầu bồi thường thiệt hại về môi trường, ông Ngọ Văn H và người dân xung quanh khu vực chôn lấp chất thải không có yêu cầu gì về bồi thường thiệt hại liên quan đến ô nhiễm môi trường.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Đ, Chu Văn N1 khai nhận đúng như nội dung bản kết luận điều tra và Cáo trạng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Đ và Chu Văn N1 đều xác định về phần khắc phục hậu quả bị cáo Nguyễn Văn Đ là người bỏ toàn bộ chi phí thu gom, xử lý chất thải trả cho Công ty M1 và Công ty V3. Đối với số tiền 213.000.000 đồng (Hai trăm mười ba triệu đồng) bị cáo Đ thanh toán cho Công ty M1 bị cáo N1 và bị cáo Đ thỏa thuận bị cáo N1 chịu một nửa và có trách nhiệm thanh toán lại cho Đ số tiền 106.500.000 đồng (Một trăm linh sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Đối với số tiền 106.500.000 đồng (Một trăm linh sáu triệu năm trăm nghìn đồng) bị cáo N1 xác định chưa thanh toán cho bị cáo Đ. Bị cáo Đ và bị cáo Nhật tự thỏa thuận giải quyết về việc thanh toán số tiền này và không đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết trong vụ án.

Tại bản Cáo trạng số: 107/CT-VKS-HS ngày 22 tháng 11 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ, Chu Văn N1 phạm tội “Gây ô nhiễm môi trường” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 235 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 235, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu) đến 650.000.000 đồng (Sáu trăm năm mươi triệu) về tội “Gây ô nhiễm môi trường”. Để sung công quỹ Nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
  • - Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 235, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Văn N2 từ 550.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu) đến 580.000.000 đồng (Năm trăm tám mươi triệu) về tội “Gây ô nhiễm môi trường” để sung công quỹ Nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
  • Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung công quỹ 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 Promax, số IMEI1: 325751258021584, số IMEI2: 353751254100929 và số tiền 36.000.000 đồng.

Tịch thu tiêu hủy ba mẫu đất được đựng niêm phong trong 03 (ba) lọ nhựa.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ, Chu Văn N1 không có tranh luận gì đối với đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, người làm chứng vắng mặt những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Đ, Chu Văn N1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với tang vật, vật chứng thu được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Trong các ngày 28/4/2024, 03/5/2024, 05/5/2024, 11/5/2024, tại thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Bị cáo Nguyễn Văn Đ và Chu Văn N1 có hành vi chôn lấp 195.540 kg chất thải rắn thông thường ra môi trường trái pháp luật; ngày 15/5/2024, Nguyễn Văn Đ, Chu Văn N1 tiếp tục vận chuyển 25.910kg chất thải rắn thông thường đến thôn H, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang mục đích để chôn lấp, khi chưa kịp chôn lấp thì bị cơ quan chức năng phát hiện, ngăn chặn. Tổng số chất thải rắn thông thường Nguyễn Văn Đ, Chu Văn N1 đã chôn lấp và chưa chôn lấp do bị cơ quan chức năng phát hiện, ngăn chặn là 221.450 kg.

Bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang truy tố đối bị cáo Nguyễn Văn Đ, Chu Văn N1 phạm tội: “Gây ô nhiễm môi trường", theo điểm d khoản 2 Điều 235 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[4] Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến các quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường, sự trong sạch của nguồn nước, không khí, đất trong môi trường sống của con người và thiên nhiên. Việc các bị cáo đổ thải ra môi trường chất thải rắn thông thường đã gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến việc sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản . Do vậy, cần phải xử nghiêm các bị cáo bằng pháp luật Hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội này.

[5] Xét về vai trò, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy:

[5.1] Về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án bị cáo Nguyễn Văn Đ là người đặt vấn đề và rủ bị cáo N1 tham gia việc chôn lấp chất thải sau đó bán để cùng nhau kiếm lời, bị cáo N1 đồng ý và chuẩn bị việc đào hố và nhờ người lấp chất thải do vậy bị cáo Nguyễn Văn Đ có vai trò chính, bị cáo Chu Văn N1 có vai trò thấp hơn trong vụ án.

[5.2] Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn Đ có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự. Bị cáo Chu Văn N1 đã từng 4 lần bị xử phạt vi phạm hành chính tính đến thời điểm phạm tội bị cáo đã chấp hành xong.

[5.3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5.4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đã khắc phục hậu quả nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nguyễn Văn Đ có bố, mẹ đẻ đều tham gia dân công hỏa tuyến được Bộ cấp giấy chứng nhận nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[6] Qua đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy: Các bị cáo có nhận thức pháp luật về môi trường còn hạn chế. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải. Các bị cáo đã khắc phục xong hậu quả cụ thể: Bị cáo Đ và bị cáo N1 đã khôi phục lại tình trạng ban đầu của khu đất chôn lấp chất thải các bị cáo đã ký Hợp đồng số 03 /240921/HĐDV/VT ngày 20/5/2024 giữa Nguyễn Văn Đ, Chu Văn N1 và Công ty M1 để thu gom vận chuyển chất thải. Hợp đồng giữa bị cáo N1, Đ và Công ty V3 về xử lý chất thải toàn bộ các chi phí này các bị cáo đã thanh toán đầy đủ cho các công ty theo hợp đồng đã ký kết. Hậu quả của việc các bị cáo chôn lấp chất thải rắn cũng chưa xảy ra lớn. Hiện nay, V1 không có căn cứ để xác định hậu quả của việc chôn lấp số chất thải trên ra môi trường. Tại Báo cáo kết quả thực hiện quan trắc môi trường tại B ở xóm D, thôn H, xã H, huyện H, Trung tâm Quan trắc tài nguyên và Môi trường tỉnh B kết luận: “Môi trường đất: Các thông số đo, phân tích đều nằm trong giới hạn cho phép so với QCVN 03:2023/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng đất)”. Bị cáo Nguyễn Văn Đ có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, bị cáo Chu Văn N1 ngoài các lần bị xử phạt vi phạm hành chính thì bị cáo cũng chưa có tiền án, chưa phạm vi phạm pháp luật hình sự. Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, bản thân các bị cáo là lao động chính trong gia đình và đều có đơn đề nghị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền. Bị cáo Nguyễn Văn Đ, Chu Văn N1 đã tự nguyện nộp một khoản tiền tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa để đảm bảo thi hành hình chính là phạt tiền. Ngoài ra quá trình xác minh bị cáo Chu Văn N1 hiện nay đang đứng tên trên 03 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc quyền sử hữu của bị cáo. Như vậy, các bị cáo có khả năng thực hiện hình phạt tiền nên có căn cứ áp dụng hình phạt chính là phạt tiền và xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do đó áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo cũng đủ tác dụng cải tạo răn đe và cũng thể hiện chính sách khoan hồng của nhà nước như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ nên cần được chấp nhận.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 235 Bộ luật Hình sự thì các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với với các bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo đã tự thỏa thuận với nhau không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này các bị cáo có yêu cầu về trách nhiệm dân sự với nhau có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự.

[9] Đối với anh Vương Minh T2, anh Nguyễn Văn H1 chỉ vận chuyển, đổ chất thải thuê cho Nguyễn Văn Đ lấy tiền công, không biết chất được thuê vận chuyển là chất thải gì; không bàn bạc, thỏa thuận gì về việc chôn lấp chất thải để ủ và khai thác chất thải sau khi ủ; bà Nguyễn Thị V đồng ý cho Chu Văn N1 mượn địa điểm để sử dụng nhưng không biết N1 sử dụng để chôn lấp chất thải nên không xem xét xử lý những người này là có căn cứ.

[10] Đối với anh Lê Văn L1 có hành vi múc hộ hố chôn lấp theo yêu cầu của N1 nhưng không biết N1 sử dụng để chôn lấp chất thải rắn thông thường, không nhận tiền công, không thỏa thuận gì về việc chôn lấp chất thải để ủ và khai thác chất thải sau khi ủ nên không xem xét xử lý là có căn cứ.

[11] Về vật chứng:

[11.1] Về vật chứng đã xử lý:

  • - Đối với 01 xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 98C- 302.99 kéo theo sơ mi rơ mooc biển kiểm soát 98R- 028.31, 01 chiếc điện thoại OPPO Reno 2 là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn H1; 01 chiếc điện thoại Redmi Note 11S là tài sản hợp pháp của Vương Minh T2; ngày 17/7/2024, Cơ quan điều đã quyết định xử lý vật chứng trả lại các tài sản cho anh H1, anh T2 là có căn cứ.
  • - Đối với 195.540 kg chất thải rắn thông thường, 24.430 kg đất lẫn chất thải thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường; 25.910 kg chất thải rắn thông thường thu giữ trên thùng xe ô tải đầu kéo do anh T2 điều khiển bị phát hiện, kiểm tra ngày 15/5/2024; Cơ quan điều tra đã giao cho Công ty cổ phần V3, địa chỉ tại xóm B, xã M, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên (Công ty V3) xử lý số chất thải, đất lẫn chất thải trên theo hợp đồng dịch vụ thu gom, xử lý chất thải số 90/240921/HĐDV/VXM-NVĐ ngày 21/9/2024 giữa Nguyễn Văn Đ, Chu Văn N1 và Công ty V3. Ngày 15/10/2024, Công ty V3 có Công văn số 61/241015/VXM-CVMT thông báo kết quả xử lý xong vật chứng.

[11.2] Đối với vật chứng chưa xử lý:

  • Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 Promax, số IMEI1: 325751258021584, số IMEI2: 353751254100929 là điện thoại bị cáo Nguyễn Văn Đ1 sử dụng vào việc phạm tội; Số tiền 36.000.000 đồng (Ba mươi sáu triệu đồng) là số tiền bị cáo Đ thanh toán cho bị cáo N1 để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ.
  • Đối với ba mẫu đất được đựng niêm phong trong 03 (ba) lọ nhựa không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[12] Về án phí: Căn cứ vào Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn Đ, Chu Văn N1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 333 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

1.1. Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 235, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bằng tiền bị cáo Nguyễn Văn Đ số tiền 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng) về tội “Gây ô nhiễm môi trường” để sung công quỹ Nhà nước.

Khấu trừ số tiền 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng) bị cáo Nguyễn Văn Đ đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa theo biên lai thu số 0001642 ngày 10 tháng 03 năm 2025.

Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

1.2. Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 235, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bằng tiền bị cáo Nguyễn Văn N2 550.000.000 đồng (Năm trăm năm mươi triệu đồng) về tội “Gây ô nhiễm môi trường” để sung công quỹ Nhà nước.

Khấu trừ số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) bị cáo Chu Văn N1 đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa theo biên lai thu số 0001610 ngày 20 tháng 11 năm 2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 Promax, số IMEI1: 325751258021584, số IMEI2: 353751254100929 (Có niêm phong).
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 36.000.000 đồng (Ba mươi sáu triệu) (Đã chuyển vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa theo Ủy nhiệm chi ngày 27/11/2024 của Công an huyện H).
  • - Tịch thu tiêu hủy ba mẫu đất được đựng niêm phong trong 03 (ba) lọ nhựa.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn Đ, Chu Văn N1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 333 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết công khai.

5. Đối với trường hợp khoản tiền phải thu nộp vào ngân sách Nhà nước mà pháp luật có quy định nghĩa vụ trả lãi thì quyết định kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Hiệp Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Hiệp Hòa;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Bị cáo; người có QLNVLQ;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đức Nhường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 11/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA - TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm về tội gây ô nhiễm môi trường

  • Số bản án: 12/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Gây ô nhiễm môi trường
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA - TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Đ, Chu Văn Nhật phạm tội gây ô nhiễm môi trường
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger