|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM TỈNH KON TUM Bản án số: 12/2025/HS-ST Ngày 10 – 02 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KONTUM, TỈNH KON TUM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Loan.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông A Brưk và bà Trịnh Thị Thanh Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Thương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Trần Viết Quyền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án hình sự thụ lý số 164/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo:
A D
(Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 06/4/1985 tại Kon Tum.
Nơi cư trú: Số H Đ, thôn K Nay S, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Rơ Ngao; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông A J (A D1) (sinh năm 1962) và bà Y B (sinh năm 1963); Bị cáo có vợ là Y V, sinh năm 1986; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2012; bị cáo là con thứ 02 trong gia đình có 06 anh chị em.Tiền án; Tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/12/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Các bị hại:
- Anh A B1, sinh năm 1984; Địa chỉ: làng T, xã Y, huyện S, tỉnh Kon Tum. (Có mặt)
- Chị Y V, sinh năm 1986; Địa chỉ: Số H Đ, thôn K Nay S, phường T, thành phố K. (Có mặt)
- Anh A T, sinh năm 1990; Địa chỉ: Số G Đ, thôn K Nay S, phường T, thành phố K. (Vắng mặt)
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh A T1, sinh năm 1993; Địa chỉ: Thôn K, xã S, huyện S, thành phố K, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt)
- Bà Y B2, sinh năm 1963; Địa chỉ: Số A A, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum. (Có mặt)
- Người làm chứng: Chị Y C, sinh năm 1988; Địa chỉ: Số G Đ, thôn K Nay S, phường T, thành phố K. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 31/10/2023, A D đến nhà bố mẹ đẻ tại đường A, phường T, TP ., tỉnh Kon Tum để phụ giúp gặt lúa. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, A D đi về nhà tại H Đ, thôn K Nay S, phường T, TP ., tỉnh Kon Tum thì không thấy vợ là Y V ở nhà nên hỏi con gái Y D2 là “Mẹ đi đâu” thì Y D2 trả lời “Mẹ nhậu ở nhà dì Y C từ sáng".
Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, A D qua nhà Y C tại địa chỉ G Đ, thôn K Nay S, phường T, TP ., tỉnh Kon Tum để tìm Y V thì thấy cổng trước đang khóa, cửa vào nhà mở, có bật điện trong nhà và Y C đang ngủ ở hiên nhà. Thấy vậy, A D trèo tường vào trong nhà, khi đi đến phòng bếp thấy chỉ có Y V và A B1 đang ôm nhau. Bực tức việc Y V không ở nhà lo cho con mà đi nhậu rồi ôm người đàn ông khác nên A D nảy sinh ý định gây thương tích cho Y V, A B1. A D đi đến dùng chân phải đá một cái trúng vào đùi trái của A B1, dùng tay phải tát một cái trúng vào má trái của Y V rồi nói với Y V “Tao đi làm mà mày ở nhà như thế này à, mày quen như vậy rồi sao” thì Y V không nói gì. Lúc này, A D thấy có 01 (một) cây dao rựa (dài 0,6m, lưỡi bằng kim loại dài 0,29m, cán bằng gỗ dài 0,31m được cuốn bằng dây thun màu đen) ở khu vực bếp nên đến lấy con dao rựa rồi quay lại vị trí Y V. Tại đây, Y V ngồi lưng dựa vào tường, A D đứng đối diện, người hướng về phía Y V, tay phải cầm dao nhắm vào vị trí hai chân của Y V rồi chém nhát thứ nhất trúng vào cẳng chân trái của Y V, chém nhát thứ hai trúng vào cẳng chân phải của Y V. Sau đó, thấy Y V dơ tay phải lên phía trước, A D nhắm vào tay phải rồi chém nhát thứ ba trúng vào cẳng tay phải của Y V. Thấy Y V bị chảy máu nên A D dừng lại không chém nữa.
Biết A B1 đang nằm dưới nền nhà ở bên cạnh, phía bên phải vị trí A D đang đứng, lúc này A D vẫn đang nhìn Y V nhưng tay phải cầm dao rựa chém 01 (một) nhát hướng về phía người A B1 (không nhắm vào vị trí nào) thì chém trúng vào phần má, tai bên trái của A B1. Bị chém A B1 đưa tay trái lên phía trước mặt, cách mặt khoảng 20 đến 30cm. Thấy vậy, A D nhắm vào tay trái của A B1 rồi tay phải cầm dao rựa chém nhát thứ hai trúng vào cổ tay trái của A B1. Thấy A B1 bị chảy máu, sợ nguy hiểm đến tính mạng nên A D dừng lại không chém nữa.
Tiếp đó, A D thấy A T1 đi xuống nhà bếp nên A D đưa dao qua cầm bằng tay trái, dùng tay phải đấm 01 (một) cái trúng vào miệng A T1. Thấy A T mở cửa phòng ngủ (phòng ngủ sát phòng bếp) đi ra và nói “Nói từ hồi chiều rồi mà không nghe”, nghe vậy A D nói “Cũng do mày chứa chấp mấy người này”. Nói xong, A D tay phải cầm dao rồi dùng sống dao rựa đập 01 (một) cái trúng vào cẳng chân phải của A T. Tiếp đó, A D dùng phần cán rựa đập 01 (một) cái trúng vào mắt cá chân trái của A T thì A T có đưa tay trái ra đỡ làm lưỡi dao cứa trúng vào cẳng tay trái của A T. Đập xong, A D ném dao rựa ở nhà bếp thì lúc này Y C cũng đi xuống khu vực bếp. Vì sợ nguy hiểm đến tính mạng của Y V, A B1 nên A D nói “Coi gọi xe chở mấy người đi cấp cứu không nó chết” đồng thời vì sợ anh em của Y V ở gần đó và những người trong nhà trả thù nên A D đã bỏ trốn.
Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 202/KLTTCT-TTPY ngày 28/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận A B1 bị các thương tích như sau:
- Sẹo gò má bên trái kích thước trung bình: 06%.
- Sẹo sau vành tai trái – thái dương bên trái kích thước nhỏ: 01%.
- Sẹo ở cổ tay bên trái kích thước trung bình: 02%.
- Gãy đầu dưới xương quay bên trái đã kết hợp xương: 08%.
- Trật khớp quay trụ điều trị khỏi: 02%.
- Vận động duỗi cổ tay và các ngón tay bên trái hạn chế: 13%.
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của A B1 tại thời điểm giám định là: 28% (Hai mươi tám phần trăm). Vật gây thương tích: Vật sắc.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 203/KLTTCT-TTPY ngày 28/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận Y V1 bị các thương tích sau:
- Sẹo 1/3 giữa cẳng tay bên phải kích thước nhỏ: 01%.
- Sẹo 1/3 trên cẳng chân bên phải kích thước trung bình: 02%.
- Sẹo 1/3 giữa cẳng chân bên trái kích thước nhỏ: 01%.
- Gãy 1/3 giữa xương trụ cẳng tay bên phải, can liền tốt, trục thẳng chức năng cẳng tay không bị ảnh hưởng: 08%.
- Gãy 1/3 trên xương mác cẳng chân bên trái can liền tốt: 04%.
- Đứt gân bánh chè cẳng chân phải đã phẫu thuật khâu nối kết quả tốt: 08%.
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Y V tại thời điểm giám định là: 23% (Hai mươi ba phần trăm). Vật gây thương tích: Vật sắc.
Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 204/KLTTCT-TTPY ngày 28/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận A T bị các thương tích sau:
- Sẹo 1/3 dưới cẳng tay bên trái kích thước nhỏ: 01%.
- Sẹo 1/3 giữa cẳng chân bên phải kích thước nhỏ: 01%.
- Gãy 1/3 giữa xương chày cẳng chân bên phải: 13%.
- Đứt gân cơ chày cẳng chân bên phải đã phẫu thuật khâu nối phục hồi tốt đã tính tỷ lệ phần trăm sẹo phần mềm.
- * Kết quả khám chuyên khoa: Không.
- * Kết quả cận lâm sàng: Gãy cài xương 1/3 giữa xương chày phải.
- * Kết quả khác: Không.
Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của A T tại thời điểm giám định là: 15% (Mười lăm phần trăm). Vật gây thương tích: Sẹo 1/3 dưới cẳng tay bên trái: Vật sắc. Sẹo 1/3 giữa cẳng chân bên phải: Vật tày có cạnh.
Tại kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 209/KLTTCT-TTPY ngày 14/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của A T1 tại thời điểm giám định là: 01% (Không một phần trăm). Vật gây thương tích: Vật tày.
Tại Cáo trạng số 01/CT-VKSTPKT ngày 09 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum truy tố bị cáo A D về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm d khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 (BLHS).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xet xử tuyên bố bị cáo A D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại Y V1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; áp dụng điểm d khoản 3 Điều 134, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017;
Xử phạt A D từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Áp dụng khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy :
- + 01 (một) con dao rựa dài 0,6 m, phần lưỡi bằng kim loại dài 0,29 m, phần cán bằng gỗ dài 0,31 m được cuốn bằng dây thun màu đen.
- + 01 (một) con dao bằng sắt dài 0,33 m.
- + 07 (bảy) mẫu màu nâu đỏ thu tại hiện trường (Tất cả được niêm phong trong một hộp giấy).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/11/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh K và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Kon Tum).
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Hội đồng xét xử thấy rằng các hành vi tiến hành tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên cũng như các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố K, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum trong quá trình điều tra, truy tố đều đảm bảo thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, không có người tham gia tố tụng nào khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi và quá trình phạm tội như cáo trạng mô tả. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 31/10/2023 tại G Đ, thôn K Nay S, phường T, TP ., tỉnh Kon Tum, vì bực tức với vợ nên A D đã dùng 01 (một) con dao rựa (dài 0,6m, phần lưỡi bằng kim loại dài 0,29m, phần cán bằng gỗ dài 0,31m được cuốn bằng dây thun màu đen) gây thương tích cho Y V, A B1, A T và gây ra hậu quả cho các bị hại như sau:
Chém 03 nhát trúng vào cẳng chân trái, cẳng chân phải, cẳng tay trái của Y V gây thương tích 23% (Hai mươi ba phần trăm).
Chém 02 nhát trúng vào má trái, tai trái, cổ tay trái của A B1 gây thương tích 28% (Hai mươi tám phần trăm).
Dùng sống dao đập 01 cái trúng vào cẳng chân phải rồi lấy cán rựa đập 01 (một) cái trúng vào mắt cá chân trái của A T thì A T có đưa tay trái ra đỡ làm lưỡi dao cứa trúng vào cẳng tay trái của A T gây thương tích 15% (Mười lăm phần trăm).
Con dao mà A D sử dụng để gây thương tích bị xem là “hung khí nguy hiểm”; A D đã thực hiện hành gây thương tích cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%.
Hành vi trên của A D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm d khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum truy tố bị cáo A D về tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể và sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ; không chỉ gây giảm sút sức khỏe cho các bị hại mà còn gây ảnh hưởng rất xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, cần phải xử phạt bằng mức án tù có thời hạn nghiêm khắc mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai bá và có thái độ ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội, bị cáo đã tác động mẹ đẻ là bà Y B2 bồi thường một phần thiệt hại cho các bị hại. Bị hại Y V1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại A B1 yêu cầu bị cáo bồi thường 30.000.000 đồng, bị hại A T yêu cầu bị cáo bồi thường 55.000.000 đồng. Bà Y B2 đã bồi thường thay bị cáo cho A B1 3.000.000 đồng, bồi thường cho A T 5.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo và bị hại A B1 thỏa thuận: Bị cáo sẽ tiếp tục bồi thường cho A B1 tất cả các khoản thiệt hại về sức khỏe số tiền 27.000.000 đồng (hai mươi bảy triệu đồng). Xét thấy: Sự thỏa thuận này là tự nguyện và không trái pháp luật, đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử công nhận.
Bị hại A T đã được tống đạt giấy triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và hiện chưa cung cấp được các tài liệu, chứng cứ cho yêu cầu của mình nên chưa đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại của A T. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành, tách việc bồi thường thiệt hại này để giải quyết bằng vụ án khác khi A T có đủ điều kiện chứng minh và khởi kiện.
Bị hại Y V không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại, bà Y B2 không yêu cầu bị cáo hoàn trả lại số tiền bà đã bồi thường thay bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng: Vật chứng trong vụ án gồm có:
- + 01 (một) con dao rựa dài 0,6 m, phần lưỡi bằng kim loại dài 0,29 m, phần cán bằng gỗ dài 0,31 m được cuốn bằng dây thun màu đen. Con dao này của nhà chị Y C, bị cáo tự ý lấy dùng vào việc phạm tội, chị Y C có ý kiến không nhận lại con dao này và đề nghị HĐXX tiêu hủy nên HĐXX tịch thu và tiêu hủy theo quy định.
- + 01 (một) con dao bằng sắt dài 0,33 m của chị Y C: Con dao này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nhưng chủ sở hữu là chị Y C không muốn nhận lại và đề nghị tiêu hủy nên HĐXX tịch thu, tiêu hủy theo quy định.
- + 07 (bảy) mẫu màu nâu đỏ thu tại hiện trường. Tất cả được niêm phong trong một hộp giấy dán kín, tại các vị trí niêm phong có chữ ký của Nguyễn Trọng T2, Bùi Văn T3, Phan Thành T4 và dấu tròn đỏ của Công an phường T, TP .. Vật chứng này không có giá trị sử dụng nên HĐXX tịch thu, tiêu hủy theo quy định.
[6] Về án phí: Bị cáo A D phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo A D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Về trách nhiệm dân sự:
- Về xử lý vật chứng:
- + 01 (một) con dao rựa dài 0,6 m, phần lưỡi bằng kim loại dài 0,29 m, phần cán bằng gỗ dài 0,31 m được cuốn bằng dây thun màu đen.
- + 01 (một) con dao bằng sắt dài 0,33 m.
- + 07 (bảy) mẫu màu nâu đỏ thu tại hiện trường (Tất cả được niêm phong trong một hộp giấy).
- Về án phí:
- Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Áp dụng điểm d Khoản 3 Điều 134; các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017;
Xử phạt bị cáo A D 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 06/12/2023).
Căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; các Điều 584, 585, 586 và 590 Bộ luật dân sự 2015,
Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo A D và bị hại A B1 như sau: Bị cáo A D tiếp tục bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho A B1 tất cả các khoản là 27.000.000 đồng (hai mươi bảy triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và A B1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu A D chưa thi hành hoặc thi hành chưa đầy đủ khoản tiền nói trên thì A D còn phải chịu khoản tiền lãi chậm thi hành án là 10%/năm tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
Tách việc bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại A T để giải quyết bằng vụ án khác khi A T có đủ điều kiện chứng minh và khởi kiện.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Áp dụng khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/11/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh K và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Kon Tum).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo A D phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.350.000 đồng (một triệu, ba trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10/02/2025), bị cáo, các bị hại, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án để xin xét xử lại theo trình tự phúc thẩm. Nếu những người nói trên vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Phương Loan |
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 10/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum về cố ý gây thương tích (vụ án hình sự)
- Số bản án: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Áp dụng hình phạt tù
