|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH TỈNH TRÀ VINH Bản án số:12/2025/HS-ST Ngày: 05 - 02 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh S
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Kiên Ngọc T
Ông Trần Văn Ú
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Vũ L, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh tham gia phiên tòa:
Ông Tưởng Phước L - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự rút kinh nghiệm sơ thẩm thụ lý số: 116/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Thị Kim T, sinh ngày 27 tháng 8 năm 1972, tại tỉnh T. Nơi cư trú: khóm 3, phường Q, thành phố T, tỉnh T; Nơi ở hiện tại: khóm 2, phường W, thành phố T, tỉnh T; nghề nghiệp: Mua bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nữ; con ông Lê Thành Th (chết) và bà Phạm Thị Đ (chết); chồng: Đào Sơn L, sinh năm 1966; con: 03 người, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án: không: tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07 tháng 4 năm 2024 cho đến nay bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Cao Văn T1, sinh năm 1967 (có mặt).
Nơi cư trú: khóm 3, thị trấn C, huyện C, tỉnh T.
Người làm chứng:
Đào Sơn L1, sinh năm 1966 (có mặt).
Nơi cư trú: âp T, xã Mỹ H, huyện Đ, tỉnh L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 11 giờ 45 phút, ngày 06 tháng 4 năm 2024 Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh kết hợp với Đội Cảnh sát giao thông, Trật tự, Công an thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh và Công an Phường 7, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh thực hiện nhiệm vụ tại đoạn đường 19/5 thuộc khóm 7, Phường 8, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh thì phát hiện bị cáo Lê Thị Kim T đang một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại TAURUS, biển số 83L1-1934 chở theo nhiều đồ vật, có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng phương tiện kiểm tra. Quá trình làm việc bị cáo T tự nguyện giao nộp 340 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO, 340 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET và 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu SCOTT (tổng 780 bao) trong các túi nylon để ở yên xe và khai nhận đang chở số thuốc lá điếu nhập lậu trên để đi bán cho người đàn ông tên T (không biết lai lịch, địa chỉ) tại khu vực cầu Tiệm Tương thuộc Phường 4, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh. Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản kiểm tra, tạm giữ, niêm phong tang vật có liên quan theo quy định.
Cũng trong ngày 06 tháng 04 năm 2024 lực lượng công an thi hành Lệnh khám xét tại nhà bị cáo T đang thuê ở tại khóm 2, Phường A, thành phố T, tỉnh T. Tiến hành khám xét tại căn nhà này lực lượng công an thu giữ 1.260 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO, 868 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET và 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu SCOTT (tổng 2.228 bao) còn lại mà trước đó bị cáo T đã mua của đối tượng Út cùng chiếc xe mô tô nhãn hiệu WINDI, biển số 63X6-6030 mà bị cáo T dùng để đi mua thuốc lá nhập lậu trước đó.
Quá trình điều tra bị cáo Lê Thị Kim T khai nhận, do hám lợi nên bị cáo nảy sinh ý định mua thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET, HERO và SCOTT về bán lại cho người khác để kiếm tiền lời. Thông qua người phụ nữ tên Th tại thị trấn Đức Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An (không biết lai lịch, địa chỉ) giới thiệu và dẫn bị cáo T gặp người đàn ông tên Ú (không biết lai lịch, địa chỉ) tại đoạn đường đất đỏ, vắng vẽ, ít người qua lại khu vực cầu Nhà thờ thuộc huyện Đức Hòa, tỉnh Long An để tìm mua thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET, HERO và SCOTT để bị cáo T mua về bán lại kiếm lời. Tại đoạn đường trên bị cáo Thoa đã mua thuốc lá điếu nhập lậu gồm các nhãn hiệu JET, HERO và SCOTT của Út được 03 lần, cụ thể:
- Lần thứ nhất: Ngày 27 tháng 3 năm 2024, bị cáo T một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu WINDI, biển số 63X6-6030 đến huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. Tại đây bị cáo T gặp Th và được Th dẫn đi gặp người đàn ông tên Ú tại đoạn đường đất đỏ, vắng vẽ, ít người thuộc khu vực cầu Nhà thờ huyện Đức Hòa, tỉnh Long An để thõa thuận mua thuốc lá điếu nhập lậu. Được sự bảo lãnh của Th, bị cáo Th mua thiếu của Út 750 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO với số tiền 12.000.000 đồng và 500 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET với số tiền 9.500.000 đồng và hứa lần sau đến mua sẽ trả số tiền thiếu này. Sau khi mua xong bị cáo Th đem toàn bộ số thuốc lá điếu nhập lậu vào trong cốp xe tự chế của xe mô tô trên và mang về nhà bị cáo T đang thuê ở tại Khóm 2, Phường A, thành phố T, tỉnh T cất giấu để bán lại cho người khác kiếm tiền lời.
- Lần thứ hai: Vào khoảng 15 giờ ngày 02 tháng 4 năm 2024, cũng với cách thức như lần thứ nhất, bị cáo T gặp được Ú rồi trả số tiền nợ mua thiếu thuốc lá lần trước, đồng thời bị cáo T tiếp tục mua thiếu của Ú 500 bao thiếu lá điếu nhập lậu loại HERO với số tiền 8.000.000 đồng và 400 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET với số tiền 7.600.000 đồng và hứa lần sau khi đến mua sẽ trả số tiền thiếu này. Sau khi mua xong bị cáo T thuê một người đàn ông (không biết lai lịch, địa chỉ) với số tiền 1.500.000 đồng để chở số thuốc lá điếu nhập lậu này về nhà bị cáo ở tại Khóm 2, Phường A, thành phố T, tỉnh T cất giấu để bán lại cho người khác kiếm tiền lời.
- Lần thứ ba: Vào khoảng 15 giờ ngày 05 tháng 4 năm 2024, cũng với cách thức như trên, bị cáo T gặp được Ú, do không có tiền nên bị cáo T không thể trả nợ tiền thuốc lá đã mua thiếu lần trước được nên tiếp tục xin nợ lại. Đồng thời bị cáo T hỏi mua thiếu thêm thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu SCOTT, HERO và JET, Ú đồng ý. Bị cáo T tiếp tục mua của Ú 200 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu SCOTT với số tiền 2.800.000 đồng, 400 bao thuốc lá điếu nhậu lậu nhãn hiệu HERO với số tiền 6.400.000 đồng và 350 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET với số tiền 6.650.000 đồng, do có 02 (bao) thuốc lá bị hư không để bán được nên bị cáo T đã vứt bỏ. Sau khi mua được, bị cáo T cất giấu vào trong cốp xe tự chế của xe mô tô trên và điều khiển về nhà bị cáo đang thuê ở tại Khóm 2, Phường A, thành phố T, tỉnh T cất giấu để bán lại cho người khác kiếm lời.
Bị cáo T mua của Ú thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu SCOTT với giá 14.000 đồng/bao về bán lại với giá 15.000 đồng/bao nếu người khác mua trên 100 bao và 15.500 đồng/bao nếu người khác mua dưới 100 bao; thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO với giá 16.000 đồng/bao về bán lại với giá 17.000 đồng/bao nếu người khác mua trên 100 bao và 17.500 đồng/bao nếu người khác mua dưới 100 bao; thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET với giá 19.000 đồng/bao về bán lại với giá 20.000 đồng/bao nếu người khác mua trên 100 bao và 20.500 đồng/bao nếu người khác mua dưới 100 bao.
Sau khi mua được thuốc lá điếu nhập lậu, bị cáo T đã bán lẻ lại cho những người không biết họ tên và địa chỉ 50 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO với số tiền 17.000 đồng/bao (50 x 17.000 đồng = 850.000 đồng) và 40 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET với số tiền 20.000 đồng/bao (40 x 20.000 đồng = 800.000 đồng).
Tổng cộng số thuốc lá điếu nhập lậu bị cáo T mua được từ các lần trên là 3.100 bao, trong đó: 1.650 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO, 1.250 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET và 200 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu SCOTT. Bị cáo T đã bán được 50 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO và 40 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET và vứt bỏ 02 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET do bị hư. Nên khi bắt và khám xét còn lại 3.008 bao.
Tổng số tiền bị cáo T đã thu lợi bất chính từ bán 50 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO và 40 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET là 1.650.000 đồng, số tiền này bị cáo T đã sử dụng vào mục đích tiêu sài cá nhân hết.
Vật chứng tạm giữ gồm:
- 1.600 (một nghìn sáu trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO, chưa qua sử dụng.
- 1.208 (một nghìn hai trăm lẽ tám) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET, chưa qua sử dụng.
- 200 (hai trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu SCOTT, chưa qua sử dụng.
- 01 (một) bịch nylon màu đen có vai xách, kích thước 50 cm x 40 cm, đã qua sử dụng.
- 02 (hai) bịch nylon màu trắng loại có vai xách, kích thước 50 cm x 50 cm, đã qua sử dụng.
- 01 (một) túi xách bằng nylon có nhiều màu sắc có in chữ “GO” “check in”, kích thước 40 cm x 20 cm x 35 cm, đã qua sử dụng.
- 01 (một) túi vải màu xám có vai xách, kích thước 70 cm x 60 cm, đã qua sử dụng.
- 01 (một) túi vải màu xám có vai xách, kích thước 85 cm x 60 cm, đã qua sử dụng.
- 01 (một) túi nhựa nhiều màu sắc có vai xách, kích thước 60 cm x 40 cm x 35 cm.
- 02 (hai) bịch nylon trong suốt, kích thước 80 cm x 70 cm.
- 01 (một) túi nhựa màu xanh, kích thước 40 cm x 45 cm x 25 cm.
- 01 (một) bịch nylon trong suốt có vai sách, kích thước 80 cm x 50 cm.
- 01 (một) túi nhựa nhiều màu sắc, có vai xách, kích thước 60 cm x 35 cm x 30 cm.
- 01 (một) túi nylon có vai sách màu đỏ trắng, kích thước 40 cm x 20 cm x 35 cm.
- 01 (một) túi nylon có vai sách màu đỏ, kích thước 40 cm x 20 cm x 35 cm.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, tên kiểu máy iPhone 6S, số máy MN1V2LL/A, số sê ri F19RWWPCHELW, IMEI 358571073900795, kèm theo sim số 0907711154, đã qua sử dụng.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: TAURUS, biển số: 83L1-1934, số khung: RLCS16209Y108532, số máy: 16S2-108465, đã qua sử dụng và bị hư hỏng nhiều chổ.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu WINDY, loại Future Neo, màu xám đen, biển kiểm soát: 63X6-6036, số khung: RNGVCH2NG71 004549, số máy: VZS1152FMH229285, đã qua sử dụng và bị hư hỏng nhiều chổ.
Xử lý vật chứng: Không
Về tình tiết tăng nặng: Không
Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội.
Đối với người phụ nữ tên Th là người giới thiệu bị cáo Lê Thị Kim T mua thuốc lá điếu nhập lậu và người đàn đông tên Ú người bán thuốc lá điếu nhập lậu cho bị cáo Lê Thị Kim T: Quá trình điều tra, bị cáo T khai không biết lai lịch, địa chỉ cụ thể nên không thể mời làm việc được. Khi nào mời làm việc được sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông chở thuê thuốc lá điếu nhập lậu cho bị cáo Lê Thị Kim T: Quá trình điều tra, bị cáo T khai không biết lai lịch, địa chỉ cụ thể nên không thể mời làm việc được. Khi nào mời làm việc được sẽ đề xuất xử lý sau.
Đối vời đàn ông tên Th người đã đặt mua thuốc lá điếu nhập lậu và những người mua thuốc lá điếu nhập lậu nhỏ lẻ của bị cáo Lê Thị Kim T: Quá trình điều tra, bị cáo T khai không biết lai lịch, địa chỉ cụ thể nên không thể mời làm việc được. Khi nào mời làm việc được sẽ đề xuất xử lý sau.
Đối với ông Đào Sơn L1 quá trình điều tra xác định giữa ông L1 và bị cáo T có mối quan hệ vợ chồng nhưng không còn sống chung với nhau, hiện tại ông L1 đang sinh sống tại ấp T, xã M, huyện Đ, tỉnh L, tại thời điểm thi hành lệnh khám xét nơi bị cáo T đang thuê ở tại khóm 2, phường A, thành phố T có sự chứng kiến của ông L1, tuy nhiên ông không biết nguồn gốc số thuốc lá điếu nhập lậu trên từ đâu mà bị cáo T có, cũng như không biết việc bị cáo cất giấu, mua bán thuốc lá điếu nhập lậu tại nhà bị cáo thuê ở nên không xem xét xử lý.
Đối với ông Lê Văn V1, sinh ngày 23 tháng 12 năm 1967 là chủ căn nhà bị cáo T đang thuê ở tại Khóm 2, Phường A, thành phố T, tỉnh T, quá trình làm việc ông V không biết việc bị cáo T cất giấu số thuốc lá điếu nhập lậu trên để mua bán nên không xem xét xử lý.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: TAURUS, biển số: 83L1-1934 bị cáo T mượn của ông Cao Văn T để chở thuốc lá điếu nhập lậu đi bán, qua làm việc bị cáo T trình bày không có nói cho ông T biết và ông T không biết sự việc trên nên không xem xét xử lý.
Tại Bản cáo trạng số: 119/CT-VKS-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh đã truy tố Lê Thị Kim T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo Lê Thị Kim T phạm tội “Buôn bán hàng cấm” như Bản cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết, chứng cứ của vụ án và nhân thân của bị cáo. Vị đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Điểm e khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thị Kim T từ 05 năm đến 06 năm tù. Đồng thời đề nghị xử lý tang vật chứng và buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Trà Vinh, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Thị Kim T đã khai nhận: Kể từ ngày 27 tháng 3 tháng 2024 đến ngày 05 tháng 4 năm 2024 tại huyện Đ, tỉnh L bị cáo Lê Thị Kim T mua thuốc lá điếu nhập lậu gồm các nhãn hiệu JET, HERO, SCOTT với tổng số 3.100 bao của một người tên Ú (không rỏ địa chỉ) mang về tỉnh Trà Vinh để bán lại kiếm lời. Cụ thể vào khoảng hơn 11 giờ ngày 06/4/2024, tại đoạn đường 19/5 thuộc khóm 7, phường 8, thành phố Trà Vinh bị cáo Lê Thị Kim T đang chở 340 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO, 340 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET và 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu SCOTT để đi bán cho người đàn ông tên Th ở khu vực cầu Tiệm Tương thuộc phường 4, thành phố Trà Vinh, thì bị lực lượng công an kiểm tra, phát hiện tạm giữ 780 bao thuốc lá điếu nhập lậu, tiến hành khám xét nơi bị cáo đang thuê ở tại khóm 2, phường 1, thành phố Trà Vinh lực lượng công an phát hiện và thu giữ 1.260 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO, 868 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET và 100 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu SCOTT. Bị cáo đã bán được 50 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO và 40 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET thu lợi bất chính số tiền 1.650.000 đồng và vứt bỏ 02 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET do bị hư.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Thị Kim T đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 điều 190 Bộ luật hình sự. Như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Xét thấy Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh truy tố bị cáo Lê Thị Kim T về tội “Buôn bán hàng cấm” theo khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật, không oan, không sai.
[4] Xét tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, chỉ vì lợi nhuận mà bị cáo bất chấp pháp luật. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý sản xuất, kinh doanh, thương mại. Đồng thời làm ảnh hưởng xấu đến trật tự chung. Do đó, cần xử lý nghiêm đối với bị cáo để nhằm răn đe phòng ngừa chung.
Tuy nhiên; khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã nộp lại số tiền thu lợi bất chính 1.650.000 đồng để khắc phục hậu quả. Nghĩ nên xem đây là những tình tiết giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Cao Văn T có yêu cầu được nhận lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA biển số 83L1-1934 ông cho bị cáo mượn đi công chuyện, ông không biết bị cáo dùng xe này để thực hiện tội phạm.
Đối với người làm chứng: ông Đào Sơn L1 có lời khai phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra.
[5] Về vật chứng:
- 1.600 (một nghìn sáu trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO, chưa qua sử dụng.
- 1.208 (một nghìn hai trăm lẽ tám) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET, chưa qua sử dụng.
- 200 (hai trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu SCOTT, chưa qua sử dụng.
- 01 (một) bịch nylon màu đen có vai xách, kích thước 50 cm x 40 cm, đã qua sử dụng.
- 02 (hai) bịch nylon màu trắng loại có vai xách, kích thước 50 cm x 50 cm, đã qua sử dụng.
- 01 (một) túi xách bằng nylon có nhiều màu sắc có in chữ “GO” “check in”, kích thước 40 cm x 20 cm x 35 cm, đã qua sử dụng.
- 01 (một) túi vải màu xám có vai xách, kích thước 70 cm x 60 cm, đã qua sử dụng.
- 01 (một) túi vải màu xám có vai xách, kích thước 85 cm x 60 cm, đã qua sử dụng.
- 01 (một) túi nhựa nhiều màu sắc có vai xách, kích thước 60 cm x 40 cm x 35 cm.
- 02 (hai) bịch nylon trong suốt, kích thước 80 cm x 70 cm.
- 01 (một) túi nhựa màu xanh, kích thước 40 cm x 45 cm x 25 cm.
- 01 (một) bịch nylon trong suốt có vai sách, kích thước 80 cm x 50 cm.
- 01 (một) túi nhựa nhiều màu sắc, có vai xách, kích thước 60 cm x 35 cm x 30 cm.
- 01 (một) túi nylon có vai sách màu đỏ trắng, kích thước 40 cm x 20 cm x 35 cm.
- 01 (một) túi nylon có vai sách màu đỏ, kích thước 40 cm x 20 cm x 35 cm.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, tên kiểu máy iPhone 6S, số máy MN1V2LL/A, số sê ri F19RWWPCHELW, IMEI 358571073900795, kèm theo sim số 0907711154, đã qua sử dụng.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: TAURUS, biển số: 83L1-1934, số khung: RLCS16209Y108532, số máy: 16S2-108465, đã qua sử dụng và bị hư hỏng nhiều chổ.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu WINDY, loại Future Neo, màu xám đen, biển kiểm soát: 63X6-6036, số khung: RNGVCH2NG71 004549, số máy: VZS1152FMH229285, đã qua sử dụng và bị hư hỏng nhiều chổ.
Nghĩ nên tịch thu tiêu hủy, sung vào ngân sách Nhà nước và trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Thị Kim T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Căn cứ: Điểm e khoản 2 Điều 190; điểm b,s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Kim T 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07 tháng 4 năm 2024.
Xét lời yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Văn T là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 1.600 (một nghìn sáu trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu HERO, chưa qua sử dụng,, tất cả được cho vào 05 (năm) bịch nylon đóng kín, bên ngoài có dán giấy niêm phong ký hiệu lần lượt H1, H2, H3, H4, H5, thời gian niêm phong ngày 07/04/2024, có chữ ký của những người có liên quan gồm: Lưu Thanh D, Điều tra viên; Phạm Hoài K người chứng kiến; Lê Thị Kim Th, người có liên quan, cùng dấu mộc tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
- 1.208 (một nghìn hai trăm lẽ tám) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET, chưa qua sử dụng, chưa qua sử dụng, tất cả được cho vào 04 (bốn) bịch nylon đóng kín, bên ngoài có dán giấy niêm phong ký hiệu lần lượt là J1, J2, J3, J4, thời gian niêm phong ngày 07/04/2024, có chữ ký của những người có liên quan gồm: Lưu Thanh D, Điều tra viên; Phạm Hoài K người chứng kiến; Lê Thị Kim T, người có liên quan, cùng dấu mộc tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
- 200 (hai trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu SCOTT, chưa qua sử dụng, tất cả được cho vào 01 (một) bịch nylon đóng kín, bên ngoài có dán giấy niêm phong ký hiệu S, thời gian niêm phong ngày 07/04/2024, có chữ ký của những người có liên quan gồm: Lưu Thanh D, Điều tra viên; Phạm Hoài K người chứng kiến; Lê Thị Kim T, người có liên quan, cùng dấu mộc tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
- 01 (một) bịch nylon màu đen có vai xách, kích thước 50 cm x 40 cm, đã qua sử dụng.
- 02 (hai) bịch nylon màu trắng loại có vai xách, kích thước 50 cm x 50 cm, đã qua sử dụng.
- 01 (một) túi xách bằng nylon có nhiều màu sắc có in chữ “GO” “check in”, kích thước 40 cm x 20 cm x 35 cm, đã qua sử dụng.
- 01 (một) túi vải màu xám có vai xách, kích thước 70 cm x 60 cm, đã qua sử dụng.
- 01 (một) túi vải màu xám có vai xách, kích thước 85 cm x 60 cm, đã qua sử dụng.
- 01 (một) túi nhựa nhiều màu sắc có vai xách, kích thước 60 cm x 40 cm x 35 cm.
- 02 (hai) bịch nylon trong suốt, kích thước 80 cm x 70 cm.
- 01 (một) túi nhựa màu xanh, kích thước 40 cm x 45 cm x 25 cm.
- 01 (một) bịch nylon trong suốt có vai sách, kích thước 80 cm x 50 cm.
- 01 (một) túi nhựa nhiều màu sắc, có vai xách, kích thước 60 cm x 35 cm x 30 cm.
- 01 (một) túi nylon có vai sách màu đỏ trắng, kích thước 40 cm x 20 cm x 35 cm.
- 01 (một) túi nylon có vai sách màu đỏ, kích thước 40 cm x 20 cm x 35 cm.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone, tên kiểu máy iPhone 6S, số máy MN1V2LL/A, số sê ri F19RWWPCHELW, IMEI 358571073900795, kèm theo sim số 0907711154, đã qua sử dụng.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu WINDY, loại Future Neo, màu xám đen, biển kiểm soát: 63X6-6036, số khung: RNGVCH2NG71 004549, số máy: VZS1152FMH229285, đã qua sử dụng và bị hư hỏng nhiều chổ.
Trả lại cho ông Cao Văn T:
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: TAURUS, biển số: 83L1-1934, số khung: RLCS16209Y108532, số máy: 16S2-108465, đã qua sử dụng và bị hư hỏng nhiều chổ.
Căn cứ: Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Lê Thị Kim T nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án sơ thẩm xử công khai; báo cho bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thanh Sỹ |
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 05/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH về buôn bán hàng cấm (vụ án hình sự)
- Số bản án: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Lê Thị Kim T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Căn cứ: Điểm e khoản 2 Điều 190; điểm b,s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thị Kim T 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 07 tháng 4 năm 2024
