TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2025/HS-ST
Ngày: 05-02 -2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thận
Bà Nguyễn Thị Lê
Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 111/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 258/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Văn T, (tên gọi khác: Không); giới tính: nam, sinh năm: 1989, tại tỉnh Bình Phước. Nơi thường trú: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Nùng, Tôn giáo: Không. Số CCCD: [...]; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 10/12; Họ và tên cha: Trần Văn V. Họ và tên mẹ: Phạm Thị T1. Bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2016. Bị cáo có ba anh em ruột, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình. Tiền sự: Không.
Tiền án: 01. Ngày 30/12/2020, bị TAND huyện Bù Đăng xử phạt 01 năm 06 tháng tù về Tội tổ chức đánh bạc quy định tại khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự theo Bản án số: 103/2020/HSST. Đến ngày 01/9/2022 được đặc xá về địa phương sinh sống, bị cáo chưa được xoá án tích. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/5/2024 cho đến nay.
2. Họ và tên: Linh Văn T2, tên gọi khác: Không; giới tính; N, sinh năm: 1980, tại tỉnh Tuyên Quang. Nơi thường trú: Thôn G, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Hoa; Tôn giáo: Không. Số CCCD: [...]. Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 01/12; Họ và tên cha: Linh Văn T3 (đã chết). Họ và tên mẹ: Hà Thị S. Bị cáo có bốn anh em ruột, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
3. Họ và tên: Phạm Sỹ Xuân H, tên gọi khác: Không; giới tính; N, sinh năm: 1995, tại tỉnh Bắc Ninh. Nơi thường trú: thôn I, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không. Số CCCD: [...]. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 8/12; Họ và tên cha: Phạm Sỹ M; Họ và tên mẹ: Hoàng Thị H1. Họ và tên V1: Huỳnh Thị Tuyết N1. Bị cáo có 01 người con sinh năm 2019. Bị cáo có ba chị em ruột, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình. Tiền sự: Không.
Tiền án: 01. Ngày 25 tháng 08 năm 2022, bị TAND Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về Tội tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép quy định tại Điều 348 Bộ luật Hình sự theo Bản án số: 602/2022/HSPT. Đến ngày 10/5/2023 được đặc xá về địa phương sinh sống, bị cáo chưa được xoá án tích.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/5/2024 đến ngày 15/7/2024 thay thế bằng biện pháp bảo lĩnh.
4. Họ và tên: Bùi Văn N2, tên gọi khác: Không; giới tính; N, sinh năm: 1981, tại tỉnh Bình Phước. Nơi thường trú: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước. Nơi ở hiện tại: Khu H, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Số CCCD: 0700810033831. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 04/12; Họ và tên cha: Bùi Văn C. Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị L. Họ và tên vợ: Trần Phương L1. Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2023. Bị cáo có ba anh em ruột, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình. Tiền sự: Không. Tiền án: Không.
Nhân thân: Ngày 05/02/2015, Bùi Văn N2 bị TAND huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 24 tháng tù, cho hưởng án treo về Tội đánh bạc theo Bản án số: 03/2015/HSST và đã đóng án phí hình sự và đã được xoá án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/5/2024 đến ngày 08/6/2024, áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
5. Họ và tên: Đoàn Văn Đ, tên gọi khác: Không; giới tính; N, sinh năm: 1990, tại tỉnh Bình Phước. Nơi thường trú: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không. Số CCCD: [...]. Nghề nghiệp: Làm rẫy, Trình độ học vấn: 12/12. Họ và tên cha: Đoàn Văn V2. Họ và tên mẹ: Đoàn Thị V3. Bị cáo có bốn anh em ruột, bị cáo là con thứ ba trong gia
đình. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/5/2024 đến ngày 08/6/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
6. Họ và tên: Trần Thế M1, tên gọi khác: Không; giới tính; N, sinh năm: 1984, tại tỉnh Tuyên Quang. Nơi thường trú: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Nùng, Tôn giáo: Không. Số CCCD: [...]. Nghề nghiệp: Làm nông, Trình độ học vấn: 6/12. Họ và tên cha: Trần Đỗ Đ1 (đã chết). Họ và tên mẹ: Đỗ Thị Đ2. Họ và tên vợ: Đặng Thị H2. Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2015. Bị cáo có bốn anh em ruột, bị cáo là con thứ hai trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/5/2024 đến ngày 08/6/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
7. Họ và tên: Ngô Văn H3, tên gọi khác: Không; giới tính; N, sinh năm: 1982, tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi thường trú: Thôn G, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Nùng, Tôn giáo: Không. Số CCCD: [...]. Nghề nghiệp: Làm nông, Trình độ học vấn: 10/12. Họ và tên cha: Ngô Duy É. Họ và tên mẹ: Lý Thị L2, (đã chết). Họ và tên V1: Vi Thị H4. Bị cáo có 06 người con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2019. Bị cáo có năm anh em ruột, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/5/2024 đến ngày 08/6/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
8. Họ và tên: Trần Văn T4, tên gọi khác: Không; giới tính; N, sinh năm: 1993, tại tỉnh Nam Định. Nơi thường trú: Thôn B, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không. Số CCCD: [...]. Nghề nghiệp: Làm rẫy, Trình độ học vấn: 12/12. Họ và tên cha: Trần Văn V4. Họ và tên mẹ: Trịnh Thị H5. Bị cáo có 02 anh em ruột, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.
9. Họ và tên: Trần Văn H6, tên gọi khác: Không; giới tính; N, sinh năm: 1986, tại tỉnh Lào Cai. Nơi thường trú: Thôn I, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không. Số CCCD: [...]. Nghề nghiệp: Làm rẫy, Trình độ học vấn: 7/12. Họ và tên cha: Trần Văn N3. Họ và tên mẹ: Trần Thị T5. Họ và tên vợ: Điểu D. Bị cáo có 01 người con sinh năm 2006. Bị cáo có sáu chị em ruột, bị cáo là con thứ năm trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/5/2024 đến ngày 08/6/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
10. Họ và tên: Lương Quang Đ3, tên gọi khác: Không; giới tính; N, sinh năm: 1968, tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi thường trú: Thôn G, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Tày, Tôn giáo: Không. Số CCCD: [...]. Nghề nghiệp: Làm nông, Trình độ học vấn: 12/12. Họ và tên cha: Lương Đức V5. Họ và tên mẹ: Lương Thị T6 (đã chết). Họ và tên vợ: Linh Thị Q. Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2005. Bị cáo có 05 anh em ruột, bị cáo là con thứ tư trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/5/2024 đến ngày 08/6/2024 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Hà Thị S, sinh năm 1960 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn G, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước
+ Ông Võ Văn D1, sinh năm 1975 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã B, huyện B, tỉnh Bình Phước.
+ ông Lô Văn Q1, sinh năm 1994(vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.
+ông Lục Văn T7, sinh năm 1959 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước
+chị Nguyễn Phương V6, sinh năm 2008 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn F, xã M, huyện B, tỉnh Bình Phước
+ông Phạm Sỹ M, sinh năm 1967 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn I, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước
+ông Đặng Đức Q2, sinh năm 1992 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 16 giờ ngày 30/5/2024, Công an huyện B phối hợp với Công an xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước kiểm tra phát hiện, bắt quả tang Phạm Sỹ Xuân H, Bùi Văn N2, Đoàn Văn Đ, Trần Thế M1, Ngô Văn H3, Trần Văn H6, Lương Quang Đ3 đang chơi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức “xóc đĩa” và Trần Văn T không tham gia đánh bạc nhưng là người chuẩn bị địa điểm, chén, đĩa, bạt, bài, cảnh giới để tổ chức cho các con bạc đánh bạc rồi thu tiền xâu mỗi con bạc 200.000 đồng/02 giờ chơi đánh bạc tại khu vực rẫy điều xen cây cà phê do Linh Văn T2 quản lý, sử dụng (bà Hà Thị S, mẹ ruột của T2 đứng tên chủ sở hữu) tại thôn G, xã P. Công an huyện B thu giữ: Số tiền 29.000.000 đồng, trong đó: số tiền 2.100.000 đồng tại vị trí chiếu bạc; số tiền 5.000.000 đồng tại vị trí vườn điều bên hông chòi bạt, cách vị trí chiếu bạc khoảng 5,0 mét; số tiền 21.900.000 đồng trên người các con bạc; 02 bộ bài tây, trong đó có 01 bộ bài đang sử dụng bị mất 03 lá bài; 03 quân vị hình tròn được cắt từ các lá bài tây; 01 chiếu cói; 01 cái mền; 01 tấm bạt một mặt màu xanh, một mặt màu cam; 06 xe mô tô các loại.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 13 giờ ngày 30/5/2024, Trần Văn T4 cùng với các bị cáo Phạm Sỹ Xuân H, Bùi Văn N2, Đoàn Văn Đ, Trần Thế M1, Ngô Văn H3, Trần Văn H6, Lương Quang Đ3 chơi bạc dưới hình thức “xóc đĩa” thắng thua trái phép bằng tiền ngân hàng N4, sòng bài do bị cáo Trần Văn T tổ chức tại thôn G, xã P. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, do thua hết tiền nên T4 đã đi về trước khi Cơ quan Công an bắt quả tang. Để tổ chức sòng bài, Trần Văn T đã mượn chòi rẫy ở vườn điều xen cà phê do Linh Văn T2 quản lý, sử dụng (bà Hà Thị S, mẹ ruột do T2 đứng tên chủ sở hữu) làm địa điểm tổ chức. Khi mượn chòi, T hứa
trả cho T2 số tiền 300.000 đồng (T chưa đưa được do bị bắt quả tang) và T2 có nhiệm vụ cảnh giới ở đầu đường nhựa T2 (cách vị trí tổ chức sòng bài khoảng 01 km). Người nào làm cái lấy 04 quân vị đã cắt sẵn từ lá bài tây bỏ vào đĩa rồi dùng chén úp lên sau đó tiến hành cầm đĩa xóc, người tham gia đặt tiền cược thắng thua với người làm cái vào 02 bên chẵn hoặc lẻ như đã quy ước từ trước, các đối tượng đặt cược từ số tiền từ 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Khi đánh bạc, các bị cáo sử dụng số tiền vào việc đánh bạc, như sau:
Phạm Sỹ Xuân H sử dụng số tiền 6.000.000 đồng để đánh bạc, đến khi bị bắt H thua hết số tiền 2.500.000 đồng; Đoàn Văn Đ sử dụng số tiền 5.000.000 đồng để đánh bạc, đến khi bị bắt Đặng thắng được số tiền 2.500.000 đồng; Trần Thế M1 sử dụng số tiền 5.000.000 đồng để đánh bạc, đến khi bị bắt M1 thua hết số tiền 2.900.000 đồng để đánh bạc; đến khi bị bắt N2 thắng được số tiền 2.800.000 đồng; Trần Văn T4 sử dụng số tiền 2.500.000 đồng để đánh bạc và thua hết số tiền này; Bùi Văn N2 sử dụng số tiền 2.300.000 đồng để đánh bạc, đến khi bị bắt N2 thắng được số tiền 2.800.000 đồng; Trần Văn H6 sử dụng số tiền 1.800.000 đồng để đánh bạc, đến khi bị bắt H6 thua hết số tiền 1.600.000 đồng; Lương Quang Đ3 sử dụng số tiền 1.500.000 đồng để đánh bạc, đến khi bị bắt Đ3 thua hết số tiền 900.000 đồng; Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 27.100.000 đồng. Trần Văn T mang theo số tiền 1.100.000 đồng và thu lợi từ việc tổ chức đánh bạc với số tiền xâu là 1.800.000 đồng. Khi bắt quả tang, đối tượng tên V7, người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch tham gia đánh bạc đã chạy thoát.
-Tại bản cáo trạng số: 117/CTr –VKS ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Trần Văn T về “Tội tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Linh Văn T2 về “Tội gá bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự. Truy tố các bị cáo Phạm Sỹ Xuân H, Bùi Văn N2, Đoàn Văn Đ, Trần Thế M1, Ngô Văn H3, Trần Văn T4, Trần Văn H6, Lương Quang Đ3 về “Tội đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
-Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Trần Văn T phạm “Tội tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Linh Văn T2 phạm “Tội gá bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Phạm Sỹ Xuân H, Bùi Văn N2, Đoàn Văn Đ, Trần Thế M1, Ngô Văn H3, Trần Văn T4, Trần Văn H6, Lương Quang Đ3 phạm “Tội đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Đề nghị:
+Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn T, từ: 14 - 17 tháng tù.
+Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 322; Điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Linh văn T2 từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Sỹ Xuân H từ 09 đến 12 tháng tù.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Bùi Văn N2 từ 07 đến 09 tháng tù.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Văn Đ từ 06 đến 07 tháng tù cho hưởng án treo.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thế M1 từ 06 đến 07 tháng tù cho hưởng án treo.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Văn H3 từ 06 đến 07 tháng tù cho hưởng án treo.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 65, xử phạt bị cáo Trần Văn T4 từ 06 đến 07 tháng tù cho hưởng án treo.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 65, xử phạt bị cáo Trần Văn H6 từ 06 đến 07 tháng tù cho hưởng án treo.
+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17; Điều 50; Điều 58; Điều 65, xử phạt bị cáo Lương Quang Đ3 từ 06 đến 07 tháng tù cho hưởng án treo.
Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự xử phạt bổ sung các bị cáo H, N2, Đ, M1, H3, T4, H6, Đ3 phạt tiền mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng. Áp dụng khoản 3 Điều 322 của Bộ luật hình sự xử phạt bổ sung các bị cáo các bị cáo T, T2 phạt tiền mỗi bị cáo 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
- Xử lý vật chứng:
+ Cơ quan CSĐT - Công an huyện B đã xử lý: Trả lại số tiền 1.100.000 đồng cho Trần Văn T, vì không liên quan đến vụ án nên không xem xét. Đối với 01 xe mô tô biển số 93H1-199.90 của ông Võ Văn D1, sinh năm: 1975, nơi thường trú: thôn H, xã B, huyện B; 01 xe mô tô biển số 93L1-631.98 của Lô Văn Q1, sinh năm: 1994, nơi thường trú: thôn H, xã T, huyện B; 01 xe mô tô biển số 93P2- 233.59 của ông Lục Văn T7, sinh năm: 1959, nơi thường trú: thôn B, xã Đ, huyện B; 01 xe mô tô biển kiểm số 93L1-616.05 của chị Nguyễn Phương V6, sinh năm: 2008, nơi thường trú: thôn F, xã M, huyện B; 01 xe mô tô biển kiểm số 93L1- 370.87 của ông Phạm Sỹ M, sinh năm: 1967, nơi thường trú: thôn I, xã Đ, huyện B;
01 xe mô tô biển số 93L1-300.20 của Đặng Văn Q3, sinh năm: 1992, nơi thường trú: thôn B, xã T, huyện B do các bị cáo Trần Văn T, Đoàn Văn Đ, Trần Văn H6, Bùi Văn N2, Phạm Sỹ Xuân H, Lương Quang Đ3 sử dụng làm phương tiện đánh bạc, các chủ sỡ hữu không biết nên đã trả lại cho chủ sở hữu. Do đó, không xem xét.
+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 27.900.000 đồng các bị cáo dùng để sử dụng vào việc đánh bạc. Tịch thu tiêu huỷ: 02 bộ bài tây; 01 chiếu cói; 01 cái mền; 01 tấm bạt; 03 quân vị tròn.
- Đối với đối tượng tên V7, người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch tham gia đánh bạc đã chạy thoát, không có tài liệu chứng cứ khác, không có căn cứ xử lý. Do đó, Cơ quan CSĐT - Công an huyện B không đề nghị, nên Viện kiểm sát không đề cập.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Văn T, Linh văn T2, Phạm Sỹ Xuân H, Bùi Văn N2, Đoàn Văn Đ, Trần Thế M1, Ngô Văn H3, Trần Văn T4, Trần Văn H6, Lương Quang Đ3 khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo: Khoảng 13 giờ ngày 30/5/2024, Phạm Sỹ Xuân H cùng Bùi Văn N2, Đoàn Văn Đ, Trần Thế M1, Ngô Văn H3, Trần Văn T4, Trần Văn H6, Lương Quang Đ3 chơi bài xóc đĩa thắng thua trái phép bằng tiền ngân hàng N4 tại sòng bài do bị cáo Trần Văn T tổ chức ở thôn G, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, do thua hết tiền nên T4 đã đi về trước khi Cơ quan Công an bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 27.100.000 đồng. Để tổ chức sòng bài, Trần Văn T đã mượn chòi rẫy ở vườn điều xen cà phê do Linh Văn T2 quản lý, sử dụng (bà Hà Thị S, mẹ ruột của T2 đứng tên chủ sở hữu) làm địa điểm tổ chức. Khi mượn chòi, T hứa trả cho T2 số tiền 300.000 đồng (T chưa đưa được do bị bắt quả tang), T thu lợi từ việc tổ chức
đánh bạc với số tiền xâu là 1.800.000 đồng. Đối tượng tên V7 và người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch tham gia đánh bạc đã chạy thoát. Đến 16 giờ ngày 30/5/2024, Công an huyện B phối hợp với Công an xã P kiểm tra phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng để xử lý theo quy định của pháp luật.
Phạm Sỹ Xuân H sử dụng số tiền 6.000.000 đồng để đánh bạc, đến khi bị bắt H thua hết số tiền 2.500.000 đồng; Đoàn Văn Đ sử dụng số tiền 5.000.000 đồng để đánh bạc, đến khi bị bắt Đặng thắng được số tiền 2.500.000 đồng; Trần Thế M1 sử dụng số tiền 5.000.000 đồng để đánh bạc, đến khi bị bắt M1 thua hết số tiền 2.900.000 đồng; Ngô Văn H3 sử dụng số tiền 3.000.000 đồng để đánh bạc, đến khi bị bắt H3 thắng được số tiền 2.500.000 đồng; Trần Văn T4 sử dụng số tiền 2.500.000 đồng để đánh bạc và thua hết số tiền này; Bùi Văn N2 sử dụng số tiền 2.300.000 đồng để đánh bạc, đến khi bị bắt N2 thắng được số tiền 2.800.000 đồng; Trần Văn H6 sử dụng số tiền 1.800.000 đồng để đánh bạc, đến khi bị bắt H6 thua hết số tiền 1.600.000 đồng; Lương Quang Đ3 sử dụng số tiền 1.500.000 đồng để đánh bạc, đến khi bị bắt Đ3 thua hết số tiền 900.000 đồng; Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 27.100.000 đồng. Trần Văn T mang theo số tiền 1.100.000 đồng và thu lợi từ việc tổ chức đánh bạc với số tiền xâu là 1.800.000 đồng.
Xét lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, Bản kết luận điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy, có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Trần Văn T đã phạm “Tội tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Linh Văn T2 phạm “Tội gá bạc” theo điểm b khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Phạm Sỹ Xuân H, Bùi Văn N2, Đoàn Văn Đ, Trần Thế M1, Ngô Văn H3, Trần Văn T4, Trần Văn H6, Lương Quang Đ3 phạm “Tội đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Điều 321. Tội đánh bạc, quy định:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
...
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
Điều 322. Tội tổ chức đánh bạc, gá bạc, quy định:
“1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
b) Sử dụng địa điểm thuộc quyền Sở hữu hoặc quản lý của mình để cho 10 người đánh bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên hoặc cho 02 chiếu bạc trở lên trong cùng một lúc mà tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trị giá 5.000.000 đồng trở lên;
c) Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Các bị cáo N2, Đ, M1, H3, T4, H6, Đ3 đồng phạm giản đơn, đều là người thực hành trực tiếp cùng nhau đánh bạc. Bị cáo T tổ chức cho các bị cáo đánh bạc và 02 đối tượng bỏ chạy. Bị cáo T2 cho mượn chòi rẫy thuộc quyền quản lý của mình để cho các bị cáo đánh bạc. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo Trần Văn T, Linh Văn T2, Phạm Sỹ Xuân H, Bùi Văn N2, Đoàn Văn Đ, Trần Thế M1, Ngô Văn H3, Trần Văn T4, Trần Văn H6, Lương Quang Đ3 có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương.
[3] Nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1] Đối với bị cáo Trần Văn T:
Bị cáo có 01 tiền án: Ngày 30/12/2020, bị TAND huyện Bù Đăng xử phạt 01 năm 06 tháng tù về Tội tổ chức đánh bạc quy định tại khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự theo Bản án số: 103/2020/HSST; Đến ngày 01/9/2022 được đặc xá về địa phương sinh sống, bị cáo chưa được xoá án tích. Do đó, bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; hoàn cảnh gia đình khó khăn, là người dân tộc thiểu số do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự.
[3.2] Đối với bị cáo Linh Văn T2:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật còn hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn, phạm tội lần đầu là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự.
[3.3] Đối với bị cáo Phạm Sỹ Xuân H
Bị cáo có 01 tiền án: Ngày 25 tháng 08 năm 2022, bị TAND Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về Tội tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép quy định tại Điều 348 Bộ luật Hình sự theo Bản án số: 602/2022/HSPT. Đến ngày 10/5/2023 được đặc xá về địa phương sinh sống, bị cáo chưa được xoá án tích. Do đó, bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là lao động chính, đang nuôi con nhỏ do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự.
[3.4] Đối với bị cáo Bùi Văn N2
Ngày 05/02/2015, bị cáo Bùi Văn N2 bị TAND huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 24 tháng tù, cho hưởng án treo về Tội đánh bạc theo Bản án số: 03/2015/HSST và đã đóng án phí hình sự và xoá án tích. Tuy nhiên, cần xác định bị cáo có nhân thân xấu.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh gia đình khó khăn do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự.
[3.5] Đối với các bị cáo: Đoàn Văn Đ, Trần Thế M1, Ngô Văn H3, Trần Văn T4, Trần Văn H6, Lương Quang Đ3:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật Hình sự.
Bị cáo Trần Thế M1, Ngô Văn H3, Lương Quang Đ3 là người dân tộc thiểu số, am hiểu pháp luật còn hạn chế, do đó các bị cáo Trần Thế M1, Ngô Văn H3, Lương Quang Đ3 được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Sau khi xem xét toàn bộ tính chất, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân các bị cáo. Xét thấy, đối với các bị cáo: Trần Văn T, Phạm Sỹ Xuân H, Bùi Văn N2 cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để đảm bảo răn đe đối với các bị cáo. Đối với các bị cáo: Linh Văn T2, Đoàn Văn Đ, Trần Thế M1, Ngô Văn H3, Trần Văn T4, Trần Văn H6, Lương Quang Đ3 có nơi cư trú rõ ràng, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu nên không cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được hưởng án treo. Đồng thời áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo để đảm bảo răn đe giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội đối với các bị cáo.
[4] Xử lý vật chứng:
-Cơ quan CSĐT – Công an huyện B đã xử lý: Trả lại số tiền 1.100.000 đồng cho Trần Văn T, vì không liên quan đến vụ án nên không xem xét. Đối với 01 xe mô tô biển số 93H1-199.90 của ông Võ Văn D1, sinh năm: 1975, nơi thường trú: thôn H, xã B, huyện B; 01 xe mô tô biển số 93L1-631.98 của Lô Văn Q1, sinh năm: 1994, nơi thường trú: thôn H, xã T, huyện B; 01 xe mô tô biển số 93P2- 233.59 của ông Lục Văn T7, sinh năm: 1959, nơi thường trú: thôn B, xã Đ, huyện B; 01 xe mô tô biển kiểm số 93L1-616.05 của chị Nguyễn Phương V6, sinh năm: 2008, nơi thường trú: thôn F, xã M, huyện B; 01 xe mô tô biển kiểm số 93L1- 370.87 của ông Phạm Sỹ M, sinh năm: 1967, nơi thường trú: thôn I, xã Đ, huyện B; 01 xe mô tô biển số 93L1-300.20 của Đặng Văn Q3, sinh năm: 1992, nơi thường trú: thôn B, xã T, huyện B do các bị cáo Trần Văn T, Đoàn Văn Đ, Trần Văn H6, Bùi Văn N2, Phạm Sỹ Xuân H, Lương Quang Đ3 sử dụng làm phương tiện đánh bạc, các chủ sỡ hữu không biết nên đã trả lại cho chủ sở hữu. Do đó, không xem xét.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 27.900.000 đồng các bị cáo dùng để sử dụng vào việc đánh bạc.
- Tịch thu tiêu huỷ: 02 bộ bài tây; 01 chiếu cói; 01 cái mền; 01 tấm bạt; 03 quân vị tròn.
[5] Hình phạt bổ sung:
- Áp dụng khoản 3 Điều 322 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn T và Linh Văn T2 mỗi bị cáo 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
- Áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự: Xử phạt các bị cáo: Bùi Văn N2, Phạm Sỹ Xuân H, Đoàn Văn Đ, Trần Thế M1, Ngô Văn H3, Trần Văn T4, Trần Văn H6, Lương Quang Đ3 mỗi bị cáo 10.000.000 (mười triệu) đồng.
[6] Đối với đối tượng tên V7 và người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch tham gia đánh bạc đã chạy thoát, không có tài liệu chứng cứ khác, không có căn cứ xử lý. Do đó, Cơ quan CSĐT - Công an huyện B không đề nghị, Viện kiểm sát không đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Án phí: Buộc các bị cáo phải nộp theo luật định.
[8] Quan điểm xử lý vụ án của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm “Tội tổ chức đánh bạc”.
Bị cáo Linh Văn T2 phạm “Tội gá bạc”. Các bị cáo Phạm Sỹ Xuân H, Bùi Văn N2, Đoàn Văn Đ, Trần Thế M1, Ngô Văn H3, Trần Văn T4, Trần Văn H6, Lương Quang Đ3 phạm “Tội đánh bạc”.
2. Áp dụng pháp luật và hình phạt:
-Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; Điểm s khoản 1,2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2024. Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
-Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 322; Điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Linh văn T2 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án (05/02/2025).
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1,2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Sỹ Xuân H 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/5/2024 đến ngày 15/7/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17, Điều 50; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn N2 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/5/2024 đến ngày 08/6/2024.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1,2 Điều 51; Điều 17, Điều 50; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015:
+ Xử phạt bị cáo Trần Thế M1 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án (05/02/2025).
+ Xử phạt bị cáo Ngô Văn H3 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án (05/02/2025).
+ Xử phạt bị cáo Lương Quang Đ3 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án (05/02/2025).
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 50; Điều 58 và Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015:
+ Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Đ 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án (05/02/2025).
+ Xử phạt bị cáo Trần Văn T4 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án (05/02/2025).
+ Xử phạt bị cáo Trần Văn H6 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án (05/02/2025).
Giao các bị cáo Linh Văn T2, Đoàn Văn Đ, Trần Văn M2, Trần Văn T4 về Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao các bị cáo Lương Quang Đ3, Ngô Văn H3 về Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Trần Văn H6 về Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
- Hình phạt bổ sung:
+Áp dụng khoản 3 Điều 322 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
Xử phạt bị cáo Linh Văn T2 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
+Áp dụng khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Bùi Văn N2 10.000.000 (mười triệu) đồng.
Xử phạt bị cáo Phạm Sỹ Xuân H 10.000.000 (mười triệu) đồng.
Xử phạt bị cáo Đoàn Văn Đ 10.000.000 (mười triệu) đồng.
Xử phạt bị cáo Trần Thế M1 10.000.000 (mười triệu) đồng.
Xử phạt bị cáo Ngô Văn H3 10.000.000 (mười triệu) đồng.
Xử phạt bị cáo Trần Văn T4 10.000.000 (mười triệu) đồng.
Xử phạt bị cáo Trần Văn H6 10.000.000 (mười triệu) đồng.
Xử phạt bị cáo Lương Quang Đ3 10.000.000 (mười triệu) đồng.
3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 27.900.000 đồng các bị cáo dùng để sử dụng vào việc đánh bạc. (Uỷ nhiệm chi ngày 20/01/2025 đến số tài khoản 39490104858500000 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng tại Kho bạc nhà nước)
-Tịch thu tiêu huỷ: 02 bộ bài tây; 01 chiếu cói; 01 cái mền; 01 tấm bạt; 03 quân vị tròn. (Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ký hiệu: D47/2017; Quyển số 02/05; Số 0010201 ngày 20/01/2024 giữa Công an huyện B với Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng)
4. Án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:
Buộc các bị cáo: Trần Văn T, Phạm Sỹ Xuân H, Bùi Văn N2, Linh Văn T2, Đoàn Văn Đ, Trần Thế M1, Trần Văn T4, Ngô Văn H3, Trần Văn H6, Lương Quang Đ3 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Thị Thu Hà |
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 05/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự (tổ chức đánh bạc, gá bạc, đánh bạc)
- Số bản án: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức đánh bạc, Gá bạc, Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
