TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN THÀNH PHỐ HUẾ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc *** |
Bản án số: 12/2025/HS-ST Ngày: 20/6/2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, THÀNH PHỐ HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Ông Đinh Xuân Cầm.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Thúy Hằng và bà Phan Thị Phương My.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phước Cảnh Sách, Thư ký Toà án nhân dân huyện Quảng Điền, thành phố Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Dũng, Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Quảng Điền xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:
Trần Đức D (tên gọi khác: Bôn); sinh ngày 07/10/2005 tại huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện Q, thành phố H; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 09/12; con ông: Trần Văn Đ, sinh năm 1976 và bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1979; Vợ, con: Không; bị cáo có 04 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; tiền án: Không; tiền sự: 01 tiền sự (theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 9789/QĐ-XPHC ngày 30/10/2024 của Công an thành phố H về hành vi trộm cắp tài sản).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Tạm giam từ ngày 15/4/2025 cho đến nay; có mặt.
- Bị hại: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1970; bà Bùi Thị L, sinh năm 1973. Đều trú tại: Thôn Đ, xã Q, huyện Q, thành phố H; bà L có mặt, ông P vắng mặt.
- Người làm chứng:
- + Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện Q, thành phố H; có mặt.
- + Bà Lê Thị H1, sinh năm 1972; địa chỉ: 8 đường T, phường H, quận P, thành phố H; vắng mặt.
- + Chị Phan Thị Như Ý, sinh năm 2005; địa chỉ: Ngã 3 Lăng T, phường T, quận T, thành phố H; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 10 tháng 4 năm 2025, Trần Đức D đi bộ từ nhà đến quán C. Khi đi ngang qua nhà vợ chồng ông Nguyễn Văn P và bà Bùi Thị L ở thôn Đ, xã Q, huyện Q thì D phát hiện 01 xe mô tô loại Yamaha, nhãn hiệu Sirius, màu đen bạc, biển kiểm soát 75K6 - 4176 đang dựng phía ngoài cổng nhà, trên xe có cắm sẵn chìa khóa. Quan sát không thấy người trông coi, D nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản nên đế dắt xe quay ngược ra hướng đường Tỉnh lộ 4 rồi điều khiển xe chạy lên thành phố H tìm nơi tiêu thụ nhưng không có ai mua vì xe không có giấy tờ. D tiếp tục điều khiển xe đến để phía trước Siêu thị C1 và ngồi uống nước. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi D đang ngồi uống nước thì gặp chị Phạm Thị Như Ý1 (là bạn gái của D), sau đó Ý chở D về nhà, D vẫn để xe mô tô 75K6-4176 lại tại vị trí phía trước siêu thị C1. Đến ngày 11/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H phát hiện hành vi trộm cắp tài sản của D và đã thu giữ tang vật. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Trần Đức D đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 03/KL-HĐĐG ngày 14/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Q xác định: Xe mô tô Yamaha Sirius, màu đen bạc, biển kiểm soát 75K6 - 4176 có trị giá 2.800.000 đồng.
Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại Cáo trạng số: 08/CT-VKSQĐ ngày 22/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền truy tố bị cáo Trần Đức D về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Đức D từ 04 tháng đến 05 tháng tù giam; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về trách nhiệm bồi thường dân sự: Bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét; về án phí hình sự sơ thẩm, buộc bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Bị cáo Trần Đức D khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; không yêu cầu bồi thường gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]Về tố tụng: Xét hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2]Xét hành vi phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo Trần Đức D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và những người tham gia tố tụng khác, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 10 tháng 4 năm 2025 tại thôn Đ, xã Q, huyện Q, thành phố H, bị cáo Trần Đức D có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe mô tô loại Yamaha, nhãn hiệu Sirius, màu đen bạc, biển kiểm soát 75K6 - 4176 của ông Nguyễn Văn P và bà Bùi Thị L có trị giá 2.800.000 đồng.
Với hành vi và hậu quả nêu trên, bị cáo Trần Đức D đã phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng số: 08/CT-VKSQĐ ngày 22/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền, thành phố H truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ pháp luật.
[3]Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Do vậy, cần xử phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội của bị cáo.
[4]Bị cáo Trần Đức D không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[5]Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[6]Về nhân thân: Bị cáo đang có 01 tiền sự (theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 9789/QĐ-XPHC ngày 30/10/2024 của Công an thành phố H về hành vi trộm cắp tài sản.
[7]Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy bị cáo đang có tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, nay tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản, điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
[8]Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9]Về bồi thường dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10]Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô Sirius, hiệu Yamaha, biển kiểm soát- 75K6-4176 (kèm theo 01 chìa khóa xe mô tô). Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Đối với 01 áo khoác tay dài màu đen; 01 quần jean dài màu xanh đen; 01 mũ lưỡi trai màu đen thu giữ của bị cáo. Bị cáo không có yêu cầu nhận lại, xét không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[11]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Đức D (tức B) phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Đức D (tức B) 07 (Bảy) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giam (15/4/2025).
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (một) áo khoác tay dài màu đen; 01 (một) quần jean dài màu xanh đen; 01 một) mũ lưỡi trai màu đen.
(Các vật chứng trên có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Điền ngày 30/5/2025).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử buộc bị cáo Trần Đức D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại (bà Bùi Thị L) có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại (ông Nguyễn Văn P) vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đinh Xuân Cầm |
Bản án số 12/2025/HS-ST ngày 20/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, THÀNH PHỐ HUẾ về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 12/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Đức Dưỡng
